Văn học nước ngoài

4/11
8:25 AM 2016

VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI-NHÀ THƠ CZESŁAW MIŁOSZ (BALAN) NOBEL VĂN CHƯƠNG 1980

Dịch giả Tạ Minh Châu - Czesław Miłosz (1911-2004), người đoạt giải Nobel Văn chương năm 1980 được coi là một trong những nhà thơ Ba Lan vĩ đại nhất. Một số người còn gọi ông là người viết sử của châu Âu thế kỷ XX.

Sống qua hai thế kỷ, đã từng nhiều năm ở Pháp, Mỹ và cuối đời lại trở về với đất nước Ba Lan, trải nghiệm sâu sắc tất cả những thăng trầm của thời cuộc, Cz. Miłosz đã để lại một khối lượng đồ sộ các tác phẩm thơ, tiểu thuyết, tiểu luận và dịch thuật.

Là một trí thức được đào tạo bài bản về văn học và triết học, ông là người nhìn thầy rất rõ những mặt đối lập của cuộc sống hằng ngày, giữa sự sống và cái chết, giữa thật và giả. Thấu hiểu sự phức tạp của thế giới mà chúng ta đang sống, thấu hiểu từng nỗi đau, từng niềm vui của mỗi cá nhân cũng như của cả nhân quần, với nhiệt huyết cháy bỏng, với cốt cách không bao giờ chịu khuất phục, ông luôn bằng mọi cách đấu tranh để con người nhận ra và không được phép thờ ơ, vô cảm, lặng câm trước những bất công và đau đớn. Trong diễn từ Nobel của mình, ông viết: "Mọi nghệ thuật chẳng là gì so với hành động. Tuy nhiên, chỉ nhờ phép gián cách, chỉ bằng cách bay lượn trên cao, ta mới khái quát được thực tại mà vẫn giữ được nó nguyên vẹn trong toàn bộ mắc míu của nó với cái thiện và cái ác, với tuyệt vọng và hy vọng".

Là người luôn hướng tới sự hoàn thiện của nghệ thuật, hướng tới sự cách tân của thi ca, thơ ông thật sự rất đa dạng về phong cách, chứa đựng nhiều phá cách và nghịch lý. Với cấu trúc đa âm điệu, thơ ông lúc đậm chất bi thương, lúc bừng bừng phẫn nộ, lúc khinh miệt, khi giễu cợt mỉa mai, lúc trừu tượng, lúc lại vô cùng cụ thể. Nhiều hình ảnh trong thơ ông hiện lên hết sức bất ngờ. Song, dù với phong cách diễn đạt thế nào đi chăng nữa thì thơ Cz. Miłosz đúng như ông tự nhận luôn bày tỏ niềm ước mong hoà bình và công lý.

 

THƠ CZESLAW MILOSZ                                          

 

Nhà thơ

Nhà thơ nói với những người đang đếm những kẻ trung thành

rằng tôi đã phụng sự sứ mệnh của mình.

Họ cười ồ lên và chẳng thèm nghe.

"Phụng sự gì?" họ cợt đùa và hỏi.

 

Sau này nhà thơ mới tỏ

rằng mình bị bao vây

bởi một vòng vây rất chặt

rằng trong một ngày như vậy

phòng thủ là vô phương

bởi chẳng ai dám nhìn vào mắt nhà thơ - nhìn thẳng.

 

Và ngôn từ của nhà thơ từ hai ngọn lửa

gây nên cái chết vô hình

đến tận hơi thở cuối cùng

gặm nhấm câu chuyện hài tiễn biệt.

 

Nhìn gương mặt những người anh em vĩ đại của mình:

trong lời họ là sự thật chân tình

nhà thơ cần biết, người ta phải trả giá như thế nào

một khi chọn nghề này thời trẻ.

 

Nhà thơ sẽ nghe ra

khi bác sĩ phẫu thuật túm lấy anh và bảo:

"Ở đây chúng tôi không muốn hại anh

phanh ngực anh không đớn đau

chúng tôi sẽ lấy ra hòn than nóng bỏng.

Anh sẽ sống chẳng hề đau đớn.

Chúng tôi cho anh sự vinh quang và rất nhiều bạn đọc.

Hãy để thơ anh thành vũ hội cho người

thay vì chiến tranh".

 

Sẽ thành như vậy.

Và tro tàn sẽ phủ lên những trang viết của nhà thơ.

Dẫu họ có mơ những giấc mơ khủng khiếp

song không một ai dám thừa nhận mình mơ.

 

Còn anh, hỡi con người, hãy đừng mừng vội

trống sẽ rộn lên bên cái chết của nhà thơ

cháu chắt của thế kỷ sẽ khóc oà mỗi khi tưởng nhớ

nhà thơ kẻ rất cần nên hãy đừng tưởng bở

Gửi thơ

Thơ ơi, nếu ta có lỗi gì bởi đã nói thay lời bạn

thì đó là lời của con người, lời của nỗi đau từ chính trong ta

hãy thứ tha

với những cáo buộc rối ren

không thể giống như

ngọn sóng biển bạc đầu vào san hô xô mãi.

 

Bạn là nét phác hoạ cái mũi của con ngựa hãy còn chưa ra đời

là dáng hình, sắc màu quả táo kia đã tan thành bụi

là ánh chớp của cánh én chạm vào đầu Tiberius

tại một nơi trong cõi vĩnh hằng.

 

Hãy giải thích xem có nghĩa gì khi ta gọi "Bạn"

những điều ngoài chúng ra đâu có lời nào khác

chúng tồn tại ở rất xa nơi thời gian nưng lại

rất xa tình yêu và hận thù nhân loại.

Phố Descartes

Vòng qua phố Descartes

tôi đi về phía sông Seine

một đứa mọi trẻ ranh

rụt rè chu du đến thủ đô thế giới.

 

Chúng tôi nhiều người

đến từ Jass, Koloshvar, Vilno

Bukaret, Sài Gòn và Marakesh

xấu hổ khi nhớ lại những tập tục gia đình

mà ở đây không nên tiết lộ cùng ai:

Vỗ tay gọi người hầu, những thiếu phụ chân trần chạy lại

chia thức ăn với những câu thần chú

chủ và tớ cùng đồng ca những lời cầu nguyện.

 

Tôi đã bỏ lại sau lưng những vùng quê tăm tối

sờ sững, khát khao bước vào chốn toàn năng.

 

Rồi nhiều người từ Jass, Koloshvar

Sài Gòn hoặc Marakesh

đã bị giết vì muốn lật đổ đi những tập tục gia đình.

 

Rồi bạn bè họ đã nắm quyền

nhân danh những gì tốt đẹp, toàn năng.

 

Trong khi ấy tác phẩm vẫn giữ nguyên cho mình

những nét tự nhiên

vẫn cất tiếng cười khàn trong bóng đêm

nướng những chiếc bánh mì dài

rót rượu vang vào những bình đất sét

mua cá, tỏi, chanh ngoài những chợ trời

vẫn thờ ơ với vinh và nhục

với vĩ đại và tiếng tăm

bởi lẽ tất cả những thứ đó đã có rồi

và biến thành những tượng đài chẳng biết là ai

thành sự ghép lời hoặc bài đơn ca nghe chẳng rõ.

 

Tôi lại tựa cùi tay lên bờ đá hoa cương xù xì

như mới trở về từ chuyến thăm những miền âm phủ

và đột nhiên thấy trong ánh sáng

vòng quay của bốn mùa

nơi những đế chế rã tan

cũng đã chết rồi những người từng sống

và chẳng có ở đây hay bất cứ nơi nào

thủ đô thế giới.

Và tất cả những tập tục bị lật đổ trước đây

đã được phục hồi danh dự.

Và giờ thì tôi biết

thời gian các thế hệ con người

không giống như thời gian trái đất.

 

Còn về những trọng tội của tôi

có điều làm tôi nhớ nhất:

Làm sao khi đi trên con đường mòn phía trên thác nước

tôi đã làm tảng đá to rơi vào con rắn nước

đang nằm trên cỏ vo tròn.

 

Và những gì tôi gặp trong đời

là một sự trừng phạt đích đáng

sự trừng phạt sớm muộn gì

cũng sẽ với tay tới kẻ phạm điều cấm kỵ.

Số phận

Có phải hạt sồi cũng hệt như cây sồi chết trắng?

Có phải than đá cũng hệt như dương xỉ?

Có phải một giọt nước cũng hệt như những làn sóng biển?

Có phải chiếc nhẫn quý giá này cũng hệt như là thép?

 

Vậy thì tại sao lại hỏi tôi về những bài thơ cũ

và tên ngộ nghĩnh của những người tìnhd dã qua?

Hãy để thơ tôi đi con đường của mình như ai đó muốn.

Hãy để những người tình của tôi sinh con cho kẻ khác.

Tôi chỉ cần nhẫn, cây sồi, than và con sóng bạc đầu.

Nỗi sợ

Cha ơi, cha ở đâu! Rừng xung quanh hoang vu, tối lặng

tiếng thú chạy rung xạc xào bụi rậm

những nhành lan loè lửa chết người

những vực thẳm dưới chân rình rập.

 

Cha ơi, cha ở đâu! Đêm như là bất tận

bóng tối trùm lên vĩnh viễn từ giờ.

Những lữ khác vô gia cư sẽ lìa đời vì đói

bánh mì của chúng ta như đá, đắng cay.

 

Hơi thở nóng hổi của con thú kinh người

tiến lại gần, phả mùi hôi thẳng vào trước mặt.

Cha ơi, sao chẳng xót thương, cha đi đâu bỏ mặc

tiếng con trẻ lạc đường gào trong rừng điếc câm.

Đọc sổ ghi chép của Anna Kamienska

Đọc bà, tôi mới hiểu

bà giàu có biết bao, tôi nghèo rớt làm sao.

Bà giàu tình yêu và nỗi khổ

giàu nước mắt, giấc mơ và những nguyện cầu.

Bà sống giữa những người thân thiết

ít gặp may nhưng luôn cùng trợ giúp

gắn với nhau bằng khế ước

của kẻ sống và những người đã chết

ghi trên mộ bia và luôn được kéo dài.

Bà đã vui thì thảo dược

vì hoa hồng hoang

vì những cây thông và khoai tây trên ruộng

và hương đất thân quen từ thời thơ dại.

Bà không phải nhà thơ lừng danh.

Nhưng đó là sự côngb ằng.

Người tốt sẽ không học những mưu mô của nghệ thuật.

Lưu vong

Những năm tháng lưu vong trở về trong những giấc mơ tôi

và chỉ vào khi đó

tôi mới biết mình đã đớn đau, tủi nhục chừng nào.

Cuộc sống của chúng ta những năm qua

được che khuất hoặc xây tường bao bọc

giống như những con ong

dùng sáp vá những chỗ nào hư hỏng.

 

Liệu có ai sống được

khi còn nhớ nguyên xi

tất cả sự hạ nhục đối với niềm kiêu hãnh của mình

và những cái nhìn bố thí với kẻ đáng thương

kẻ đang nghĩ, như ở nhà, mình cũng còn chút giá?

 

Nếu như phải làm chứng nhân cho giới trẻ

tôi sẽ không nhắc gì tới sự thành công

sự thành công tất nhiên là có rồi

song đượm đầy cay đắng.

Thế kỷ mới

Cơ thể không còn muốn nghe mệnh lệnh của tôi.

Nó ngã quỵ trên con đường bằng phẳng

leo lên cầu thang nhọc nhằn.

Tôi châm biếm nó.

Tôi cười to giễu cợt

sự nhão nhoẹt của cơ bắp

sự lê lết của đôi chân

sự mù quáng

tất cả những thông số của già nua quá đỗi.

 

Rất may tôi vẫn còn viết thơ vào ban đêm.

Cho dù khi sáng ra chép lại

tôi không thể đọc lên chữ viết của mình.

Những nét chữ

được máy tính phóng to lên hỗ trợ.

Tôi đã kịp chờ máy tính

Ôi, vậy cũng đã là rất may.

Tạ Minh Châu dịch

 

(Nguồn: Tạp chí Thơ HNV)

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *