Tác phẩm và dư luận

12/10
8:49 AM 2018

THƠ THỜI HỒNG ĐỨC NHỮNG ĐÓNG GÓP VĂN HÓA

NGUYỄN THANH TÚ - Chúng tôi gọi "thời Hồng Đức" vì đối tượng nghiên cứu gắn liền với Lê Thánh Tông - vị vua anh minh tài đức bậc nhất, một thi nhân đích thực, mà cho đến nay vẫn chưa được tìm hiểu toàn diện, sáng tỏ.

 

Những người đương thời đánh giá về Lê Thánh Tông, là một "thánh nhân": "Cách thiên, đế đức diệu toàn năng - Đức nhà vua cảm động đến trời, thật mầu nhiệm" (Thân Nhân Trung- Phong đăng); "Tham thiên, lượng địa, thần công diệu - Ngang trời đất, công thánh mầu nhiệm" (Nguyễn Trọng Ư- Phong đăng), là một "thánh thi": "Lân bút đại thư Hồng Đức thặng - Lân bút chép đặc biệt, điểm tốt đời Hồng Đức" (Đỗ Nhuận - Phong đăng), là một "minh quân": "Tri nhân thiện nhiệm phùng minh chủ - Gặp được minh quân biết người tài, khéo sử dụng" (Ngô Luân - Anh hiền); là "mặt trời’: "Cảo cảo nhật lâm trung hiếu niệm - Mặt trời quang minh soi đến niềm trung hiếu" (Đỗ Nhuận - Văn nhân)... Có cả một tập thơ chữ Hán tên "Quỳnh uyển cửu ca" ca ngợi nhà vua và chế độ tiến bộ thời ấy, dĩ nhiên theo lối khoa trương cách điệu nhưng hạt nhân thì vẫn là sự thật, như chính sử khẳng định về vị vua song toàn và một thời thái bình thịnh trị.

Đóng góp văn hóa của thơ thời Hồng Đức, theo chúng tôi, nhìn từ mặt nội dung là những bài học đạo lý, luân lý, giáo lý hướng con người đến với cái thiện, cái tốt; ở phương diện hình thức nghệ thuật là ngôn ngữ, rõ nhất ở việc làm trong sáng, tinh tế, sinh động tiếng Việt. Những vấn đề ấy tập trung chủ yếu trong hai tập chữ Nôm là Hồng Đức quốc âm thi tậpThập giới cô hồn quốc ngữ văn (Mười bài văn viết bằng ngôn ngữ nước ta để răn các cô hồn). Cả hai tập này không nói rõ tên tác giả ở từng bài, xét về ý tứ, khẩu khí, ngôn ngữ... theo nhiều nhà nghiên cứu thì phần lớn là của Lê Thánh Tông, số còn lại là các thi sĩ cùng thời.

1.Những bài học về đạo lý, luân lý, giáo lý

1.1. Mô hình một xã hội lý tưởng:

Dưới xã hội phong kiến phương Đông "vua sáng tôi hiền" là xã hội lý tưởng cũng là đạo lý cao nhất. "Vua sáng tôi hiền" thì dân được hạnh phúc: "Cao vòi vọi ngôi hoàng cực/ Khắp lâng lâng phúc thứ dân" (Tết Nguyên đán). Hai chữ "hoàng cực" rút từ sách Thượng thư (thiên Hồng phạm) có câu: "Duy hoàng kiến cực" chỉ ngôi vua anh minh. Ở đây còn được dùng thêm tính từ bổ trợ "vòi vọi" làm tăng thêm tính chất tốt đẹp thiêng liêng của "hoàng cực". Tính từ "lâng lâng" diễn tả chính xác trạng thái dân lành hạnh phúc. Hai câu thơ là một cấu trúc nhân quả: (nhờ) vua sáng (nên) dân hạnh phúc. Hai câu sau cũng có tổ chức tương tự nhưng hình ảnh thì rộng hơn, ý thơ thoáng hơn: "Trời lồng lộng hay lòng thánh/ Gió hây hây khắp muôn dân" (Họa vần bài vịnh Tết Nguyên đán). Ta gặp rất nhiều những hình ảnh, thi liệu thật ấm áp như: "Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc/ Sườn núi chim gù ẩn lá xanh/ Tuần điếm kìa ai khua mơ cá/ Dâng hương nọ kẻ nện chày kình?/ Nhà nam nhà bắc đều no mặt/ Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình" (Nhất canh). "Mơ cá" là mơ hình con cá được treo ở các điếm (đình) để báo hiệu hội họp... "Chày kình" là cái vồ nện chuông chùa báo thiện nam tín nữ lên chùa lễ Phật. Tả chập tối nên hình ảnh ít còn âm thanh nhiều là dễ hiểu, nhưng nét riêng ở đây là các âm thanh đều "đồng thanh tương ứng" để "cùng ca khúc thái bình" ấm áp.

Cảnh lao động cũng thật nên thơ, thanh bình: "Nửa bó yên hà mang đủng đỉnh/ Đôi bên phong nguyệt quảy lom khom/ Trời Nghiêu, ngày Thuấn mình ăn ở/ Đỉnh Thạch non Thai mặt ngước nhòm/ Ước thấy Mãi Thần mà thử hỏi:/ "Rằng xưa gặp chúa mé nào mom?" (Họa bài người hái củi). Hơi thơ chậm diễn tả cảnh chậm rãi (đủng đỉnh), khoan thai, không hối hả. Cái nhìn cách điệu hóm hỉnh để sự vật được cường điệu hóa: củi thành yên hà; phong nguyệt. Cũng là cách nâng cao vị thế người kiếm củi ngang tầm tạo hóa. Lại thêm cách dùng các tích cổ, như đẩy xa thêm không gian hiện tại về quá khứ vĩnh hằng với những điều hạnh phúc, may mắn, tốt đẹp: "Nghiêu, Thuấn" là hai ông vua thời thượng cổ trị đời thái bình nhất. "Đỉnh Thạch" tức núi Thạch Kiều (Quảng Tây ngày nay), tương truyền Vương Chất nhà Tấn làm nghề hái củi một hôm vào núi thấy hai vị tiên đánh cờ bèn chống búa đứng xem. Tàn cuộc cờ nhìn xuống thấy cán búa đã nát. Non Thai tức núi Thiên Thai (Chiết Giang ngày nay) tương truyền Lưu Thần, Triệu Nguyễn nhà Hán lên núi hái thuốc gặp tiên. Mãi Thần họ Chu thời Hán làm nghề hái củi mà rất chăm học, được Hán Vũ đế triệu vào phong chức Trung đại phu.

Con người khắc sâu quá khứ lịch sử: "Lẻo lẻo doành xanh nước tựa dầu/ Trăm ngòi, ngàn lạch chảy về chầu/ Rửa không thay thảy thằng Ngô dại/ Dịa mọi lâng lâng khách Việt hầu/ Nọ đỉnh Thái sơn rành rạnh đó/ Nào hồn Ô Mã lạc loài đâu/ Bốn phương phẳng lặng kình bằng thóc/ Thong thả dầu ta bủa lưới câu" (Bạch Đằng giang). Con sông lịch sử này đã làm tan ý đồ xâm lăng của "thằng Ngô dại" (chỉ quân xâm lược phương Bắc nói chung) với năm 938 Ngô Quyền đuổi Lưu Hoàng Thao tướng nhà Nam Hán; năm 980 Lê Đại Hành đuổi Hầu Nhân Bảo tướng nhà Tống; năm 1288 Trần Quốc Tuấn bắt sống Ô Mã Nhi nhà Nguyên (hồn Ô Mã lạc loài đâu). "Dịa" động từ (cổ) đa nghĩa có nghĩa gốc là giặt (dịa); nghĩa đen chỉ khách đến nước Việt được tắm rửa giặt giũ sạch sẽ; nghĩa bóng là gột rửa tư tưởng xâm lược, phản nghịch. "Đỉnh Thái Sơn" gợi tích vua Cao tổ nhà Hán nguyền: "Thái Sơn như lệ" (con cháu sẽ làm vua đến khi núi Thái Sơn nhỏ bằng hòn đá mài). "Kình bằng thóc" thì "kình" có nghĩa cá kình chỉ giặc giã phải im như thóc, không dám gây sự. Cảnh thái bình vui vẻ, tự hào, câu thơ vừa có hiện tại vừa có quá khứ vừa có hôm qua vừa có hôm nay, chiến công hôm qua như đang cùng sống với cảnh thái bình hôm nay. Hai chữ "thong thả" đầu câu cuối mở ra một không gian hình ảnh lao động tự chủ, làm chủ mà nên thơ.

Theo chúng tôi mô hình này vẫn là mẫu mực cho hôm nay về một xã hội tốt đẹp: chính quyền trong sáng; dân hạnh phúc; lao động tự do, thanh thản; con người hướng về những giá trị văn hóa tốt đẹp, luôn lấy lịch sử làm điểm tựa...

1.2. Quan niệm về con người sang trọng đáng kính; về cuộc sống ấm áp vương giả:

Lôgic với mô hình xã hội lý tưởng ở trên là một quan niệm về con người sang trọng đáng kính. Đây cũng là sự hiếm hoi trong các triều đại phong kiến châu Á, vì ở đó con người thường chỉ là đối tượng bóc lột, hành hạ. Thế mà, thật tự hào, văn hóa Việt có một triều đại tôn trọng, đề cao con người đến mức lý tưởng: "Vành vạnh dường bằng vầng nhật nguyệt/ Vần vần mấy tựa tán công hầu/ Trùm mặt ngọc, mùi hương đượm/ Đạo đường hoa bóng ác thâu/ Cả mọn thế gian phủ rợp/ Nào ai là chẳng đội lên đầu" (Lạp - Cái nón). Con người ở đây được coi là một giá trị cao nhất, quý nhất nên mặt người được gọi là "mặt ngọc". Và: "Tám bức quần hồng bay phới phới/ Hai hàng chân ngọc đứng song song" (Cây đánh đu). Chân người ở đây là "chân ngọc". "Mặt ngọc" nên phải là "người tiên": "Thác ở trong tay tạo hóa quyền/ Một mình thờ chúa thuở hè thiên/ Lưng mềm yểu điệu mười lăm tuổi/ Má điểm yên chi bảy tám khuyên/ Dặm liễu đã từng che mặt ngọc/ Đường hoa có thuở vẫy người tiên" (Phiến - Cái quạt). Đúng là phải tạo ra một xã hội thái bình thật sự thì con người mới được tôn trọng như vậy!

Quan niệm con người ngang với vũ trụ nên cái gì thuộc về con người cũng đều đáng kính: "Sớm chốn giang hồ tối nguyệt đài/ Tay giũ tơ vàng, ngờ ấy chiếu/ Lưng đeo tuyết trắng ngỡ rằng đai/ Hằng yên tính phận đời Nghiêu Thuấn/ Khứng đổi hiên thường đám cức mai" (Lại vịnh thuyền người đánh cá). Gọi "Nguyệt đài" vì cái thuyền chài có trăng chiếu vào, tức ví thuyền như lâu đài nhà quyền quý "Tơ vàng" là lưới hoặc dây câu có thể màu vàng có thể được chiếu vàng dưới trăng. "Chiếu" ở đây là chiếu thư của vua (màu vàng). Chắc bài vịnh này của vua Lê Thánh Tông (người khác là không thể) vì đã "phạm thượng" khi ví lưới thuyền chài với chiếu vua. Lại nữa "đai" để thắt triều phục, đai quan to thì được nạm bằng bạc, thế mà tả ông chài như quan to khi có tuyết trắng bám vào thắt lưng trông như "đai" vậy!

Trân trọng, quý mến con người nên người ăn mày vào thơ cũng trở nên sang trọng, thành người quân tử, thành bậc khanh tướng: "Góp giang sơn sách một quai/ Lượng bằng sông biển chẳng từ ai/ Vườn đào ngõ mận từng len lỏi/ Gác tía lầu son mặc nghỉ ngơi/ No biết thế tình mùi mặn lạt/ Quản bao nhật nguyệt bữa đầy vơi/ Vương tôn thuở trước làm sao tá/ Bái tướng phong hầu ấy những ai" (Ỷ thực - Người ăn mày). Là hạng người thấp kém nhất thế mà được miêu tả bằng những ngôn từ ước lệ để sang trọng hóa: giang sơn, sông biển, vườn đào ngõ mận, gác tía lầu son, thế tình, nhật nguyệt, vương tôn, bái tướng phong hầu.

Con người đáng quý đáng trọng như vậy nên cuộc sống thật đáng yêu. Trước hết là rất đẹp: "Non mở bình phong tám bức vây/ Chợ quê ngày tạnh lục in cây... Ông nào thổi địch thanh thơi tá?/ Cưỡi hạc bay về ngàn núi Tây" (Sơn thị tình lam - Chợ cạnh núi lúc tạnh mù). Một vẻ đẹp kết hợp giữa cảnh chợ quê dân giã có ngày tạnh chan hòa màu xanh (lục) lá cây, có âm thanh sáo thổi với cảnh tiên "Non mở bình phong tám bức vây" và hình ảnh hạc trắng gắn liền với huyền thoại tiên cưỡi (hạc) đang bay về ngàn xa. Cuộc sống ấy là thế giới của hoa và ngọc: "Hư không vẩy khắp hoa nghìn khóm/ Thế giới đông nên ngọc một bầu/ Buồm chiếu phau phau thuyền chở nguyệt..." (Giang thiên mộ tuyết- Tuyết buổi chiều trên sông). Một hình ảnh thơ mộng, lãng mạn thật mới xuất hiện: thuyền chở trăng (thuyền chở nguyệt). Liệu hình ảnh và tâm trạng trong câu thơ "Có chở trăng về kịp tối nay?" trong thơ Hàn Mặc Tử đầu thế kỷ XX, tức cách hơn 500 năm, có mới hơn? Tôi cho rằng là sự kế thừa!

Đó là cuộc sống một "thế giới tiên" trong vắt, thanh tịnh nên có khả năng "thanh lọc" nhân cách: "Khói lục vây thành, thế giới tiên/ Chuông đâu ban tối tỏ cơ thiền... Ít nhiều nhân ngã chưng khi ấy/ Giũ lâng lâng hết mọi duyên" (Yên tự văn chung - Tiếng chuông chiều trong chùa đầy mây khói). Bài thơ, ý thơ đậm màu Thiền, "nhân ngã" là quan niệm nhà Phật, "nhân" là chúng sinh, "ngã" là bản thân mình, "nhân ngã" vốn là một nhưng vì "vô minh" mà chia rẽ nhau, cái gì thuộc về "ngã" thì yêu cái gì thuộc về "nhân" thì ghét bỏ. Phật ra sức "độ" cho chúng sinh gột rửa "vô minh" "Giũ lâng lâng hết mọi duyên" để không còn phân biệt "nhân ngã".

Đó là cuộc sống giàu sang: "Vàng khắp ruộng thu ăn rễ đủ/ Bạc in bãi sở chén thưa rồi/ Đệm hoa đầm ấm khi nằm thức/ Khăn khắn nào quên đạo chúa tôi" (Bình sa lạc nhạn - Chim nhạn đáp xuống bãi cát phẳng). "Ruộng thu" là ruộng mùa thu (ruộng mùa). "Bãi sở" là bãi cây sở, thứ cây mọc bãi nước nông mùa thu kết hạt chim nhạn rất thích ăn. "Vàng, bạc" thì vừa là màu sắc theo nghĩa đen nhưng còn là nghĩa bóng chỉ sự trù phú, quý giá của ruộng bãi cho nhiều thóc, nhiều hạt. Hai câu sau tả đàn nhạn nằm trên bãi cát trông (đẹp) như đệm hoa "đầm ấm" cùng nhau khăng khít, trông nom nhau (theo bản năng con to khỏe nằm bên ngoài bảo vệ (thức) con mái, già, non nằm giữa), tình nghĩa như đạo vua tôi vậy. Lời thơ vừa tả cảnh thực vừa nói cảnh xã hội. Cảnh thực sum vầy, cảnh xã hội thái hòa, yên ấm.

Đó là cuộc sống đáng mơ ước, giàu có, lễ nghĩa, nhân đức, có trước có sau: "Người còn thói hậu, đời còn hậu/ Nhà có kho thừa, thóc có thừa/ Phủ trị biết chi là sở trọng?/ Bảo rằng: "Nhân nghĩa lấy làm sơ" (Tiến trung thôn tục - Tục thôn Tiến Trung). "Hậu" tức ăn ở có trước có sau, câu đầu ý nói người tử tế thì đời tốt đẹp. Bài thơ mang khẩu khí của kẻ vương quyền về phép xử thế: Coi trọng cách trị nước nào? Trả lời: lấy nhân nghĩa làm đầu ( tức trước hết, đầu tiên). Thật dễ thấy Hồng Đức là một thời thịnh trị có một nguyên nhân là chính, cơ bản là nhờ một chính quyền Nhà nước trung ương tập quyền trong sáng lành mạnh, đúng với châm ngôn "Vua sáng tôi hiền".

1.3. Giáo dục bằng triết lý tiếng cười:

Để có một xã hội như thế Nhà nước rất quan tâm tới giáo dục mà một cách được thể hiện trong thơ là giáo dục bằng hình thức tiếng cười, tinh tế, hóm hỉnh dễ đi vào lòng người, chinh phục được con người.

Thơ thời này giàu triết lý như triết lý về quan hệ con người và hoàn cảnh: "Chim khỏi lồng nên đắc thú/ Cây ngoài chậu mới tươi màu" (Hứng ngâm). Một sự coi trọng tự do cá nhân đáng quý: chim sổ lồng mới "đắc thú" mới đích thực là chim, cây phải trồng ngoài tự nhiên mới "tươi màu" xanh tốt. Còn là triết lý về quan hệ con người với xã hội, như qua bài vịnh về một nhân vật lịch sử nổi tiếng: "Trỏ vẫy quạt lông cầm một cán/ Nhiệm màu túi gấm đủ trăm điều/ Sức người dứt đỗi thì dường ấy/ Tộ Hán song còn có bấy nhiêu" (Gia Cát Lượng). Chua chát thay cho Gia Cát Lượng ở vào mâu thuẫn nhân tài và thời cuộc, dù người có tài đến mấy cũng khó cứu nổi cả một thời thế đã đi vào bi kịch. Một triết lý mang hạt nhân của một biện chứng lịch sử! Còn là triết lý xa xôi về quan hệ hôm nay và hôm qua, sự việc này với sự vật khác: "Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy/ Nhổ cột đem về lỗ bỏ không" (Cây đánh đu). Không thể nói là sâu sắc nhưng cũng đủ gợi về những trắc ẩn cần có ở mỗi người về việc lưu giữ cái đã qua, cái đã phục vụ mình, đừng dễ quên. Người dễ quên dễ thành người vô cảm!!! Còn là triết lý giàu nghèo trong cuộc đời đầy nghịch lý phải biết phân biệt để mà đừng vướng vào: "Mặt cỏ, vách vàng chán kẻ hỏi/ Lòng son, tay trắng họa ai mời" (Thế tình). "Mặt cỏ" tức bộ mặt "cỏ rác" nghèo hèn, bần tiện nhưng sống trong nhà "vách vàng" lắm tiền nhiều của thì vẫn có rất nhiều kẻ hỏi han. Ngược lại, dù có "lòng son" (lòng tốt "đan tâm") mà tay trắng thì cũng ít kẻ mời mọc... Đi sâu vào những triết lý ấy không phải là mục đích bài viết, nhưng vẫn xin dẫn ra vì chúng là cơ sở để bật ra tiếng cười giáo huấn mà dưới đây đề cập.

Dễ thấy thơ thời này rất ghét thói vô liêm sỉ, lừa lọc, hám lợi: "Ấy khuôn hay mẹo thợ nào lừa?/ Mướp đắng khen ai đổi mạt cưa/ Rắn đói đâu từ con cóc thối/ Mèo thèm chi dỗi miếng nem thừa/ Ong già buông nọc châm hoa rữa/ Dê yếu văng sừng húc giậu thưa/ Ơ hở tiền chì mua vải nối/ Nồi nào vung ấy khéo in vừa" (Tương phùng). Như tên bài, các sự vật cùng gặp nhau để mà bật ra cái ý mỉa mai: kẻ giả mạt cưa làm cám bán cho kẻ giả mướp đắng làm dưa chuột; rắn đói thì ăn cả cóc thối; tiền ít (tiền chì) chỉ có thể mua những gì kém giá trị (vải nối). Khép lại là quy luật "nồi nào vung ấy", thì ra ở đời, xấu sẽ gặp xấu, hãy gắng mà sống tốt để gặp người tốt, cái tốt.

Kẻ hám tiền bị đưa ra châm biếm là những kẻ lừa lọc, tráo trở, mù quáng, tiêu biểu nhất là trong chuyện cờ bạc: "Rẻ mặt con đen lừa đóng sống/ Cậy tay làng đỏ xướng vơ càn/ Thiếu ba lạng đã tô đầy nén/ Có bảy tiền rằng đủ một quan" (Đổ bác - Đánh bạc). "Đóng sống" là thuật ngữ trong đánh bạc (ngày xưa), ai thua liên tục thì bị coi là "vận đen", nếu người đó cay cú lại quăng tiền chơi tiếp thì sẽ bị kẻ thắng lấy luôn, vì coi đấy là "đóng sống". Thế nên đó là chốn không luật pháp, không công lý dù thiếu ba lạng vẫn coi đủ là nén bạc (mười lạng), bảy tiền coi bằng một quan (mười tiền). Bài thơ miêu tả một sự thật để làm bật ra một lời khuyên: hãy tránh xa nơi đó!

Nạn hối lộ ăn tiền bị vạch trần qua một điển xưa: "Năm nghìn mặt mạc dãy trần trương/ Diên Thọ oan chi phụ họ Vương?/ Lạt phấn há rằng đeo phận bạc/ Phai son vì nỗi kém đồng vàng/ Ngọc gieo xó tối khôn ngăn sáng/ Lan ỉu hang sâu cũng tỏ hương/ Đường đột Tây Thi là đáng tội/ Kìa ai vẽ rắn sự còn gương" (Diên Thọ họa đồ - Diên Thọ vẽ tranh). Diên Thọ họ Mao đời Hán có tài vẽ truyền thần. Có quá nhiều cung nhân nhà vua không biết mặt liền sai Diên Thọ vẽ tranh (năm nghìn mặt) treo thành dãy để biết mà triệu đến hầu. Nhiều cung nhân hối lộ Diên Thọ vẽ đẹp hơn. Riêng "họ Vương", tức Vương Tường vì đẹp và thẳng thắn nên không cho tiền bị Diên Thọ vẽ xấu đi nên không được gặp vua lần nào. Việc bại lộ Diên Thọ bị xử trảm. Bài thơ khẳng định chân lý về sự thật: "Ngọc gieo xó tối khôn ngăn sáng/ Lan ỉu hang sâu cũng tỏ hương". Đích thực bản chất của một giá trị, thì như ngọc trong xó tối vẫn tỏa sáng, (hoa) lan dù bị để ỉu (ỉu xìu) trong hang vẫn tỏa hương. Còn kẻ nào "vẽ rắn thêm chân" vì mục đích cá nhân mà làm sai bản chất sự vật rồi cuối cùng cũng bại lộ và phải chịu hậu quả cao nhất.

Bệnh kiêu căng, kể công cũng bị đưa ra phê phán, qua một bài thơ chữ Hán của Thái Thuận: "Thử thân, thử thế, thử kiền khôn/ Mạc vị nhân ti, độc ngã tôn/ Phú quý nan thường Tô tử ấn/ Tân bằng dị tản Địch công môn/ Dự qui đại thụ nhân vô phạt - Với thân này, thời này, giữa trời đất này/ Chớ cho người ta là thấp kém, còn mình thì cao quý Giàu sang vốn thất thường, xem như quả ấn của Tô tử/ Bạn bè dễ lìa tan, xem như cổng ngơ của Địch công" (Giới kiêu - Răn kiêu ngạo, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 5. Nxb Khoa học xã hội 1995, tr.353). Tô tử tức Tô Tần thời chiến quốc có tài biện thuyết được đeo ấn tướng quốc của sáu nước, thường hay khoe khoang, kiêu ngạo, về sau bị giết chết. "Địch công" là chuyện một người đời Hán Văn đế làm chức Đình úy, cổng ngõ tấp nập bạn bè, sau bị bãi chức, cổng ngõ vắng teo. Được phục chức bèn treo cái biển ở cổng đại ý phải qua một sống một chết, một nghèo một giàu, một sang một hèn mới rõ tình giao du ở đời. Điển "đại thụ" kể Phù Dị tướng tài đời Hán Quang Vũ khi luận bàn công thưởng không tranh cãi chỉ đứng chìa lưng vào cây to, rồi cũng được phong tước hầu như người khác. Ý nói mình có thế nào mọi người đều biết, khỏi cần nói nhiều mà hãy bình tĩnh, không nên kể công.

Bệnh hẹp hòi cũng bị giễu qua một tích cổ: "Cho tước chẳng quên người chực giỏ/ Phong hầu còn nhớ kẻ cầm muôi" (Vịnh vua Cao Tổ nhà Hán). "Người chực giỏ" tích Hàn Tín xưa làm nghề cầm (chực) giỏ câu cá về sau được Lưu Bang phong tước Vương. "Kẻ cầm muôi" từ chuyện Lưu Bang trước khi nổi nghiệp thường dẫn khách về nhà chị dâu ăn uống. Chị dâu ghét. Một hôm chị dâu cầm muôi cạo nồi kêu rõ to ý báo đã hết canh. Người khách biết ý bỏ đi, Lưu Bang trông vào nồi thì thấy vẫn còn, từ đó để bụng. Khi lên làm vua Lưu Bang phong con chị dâu tước "Canh hiệt hầu" là tên một quả núi nhưng cũng là sự nhắc lại chuyện cũ. Nhắc lại điển này tác giả chê Lưu Bang đã là vua mà còn cố chấp, với đàn bà (chị dâu), với chuyện nhỏ đã cũ... Là một tài năng, biết ứng xử có trước có sau thế mà cũng khó tránh sự hẹp hòi. Làm người thật khó thay! Làm người có quyền cao chức trọng càng khó thay!

Vạch ra bệnh hám danh để mong mọi người từ bỏ, tránh xa nó: "Hơn nữa Ngũ hồ ai có cấm/ Cung tàng lẩn thẩn tiếc thay cho" (Lại vịnh Hàn Tín). Chua chát thay cho Hàn Tín, từng giúp Lưu Bang lập đại nghiệp, vì ham công danh mà làm quan cho Lưu Bang được phong tước Hoài âm hầu, về sau bị Lã Hậu vợ Hán Cao tổ tru di tam tộc. Không như Phạm Lãi, thời Xuân Thu sau khi giúp nước Việt diệt Ngô, không làm quan ràng buộc danh lợi mà bỏ đi chu du Ngũ hồ (Thái hồ) cảnh rất đẹp. Trước khi bị giết Hàn Tín đọc câu thơ của Phạm Lãi rằng: "Cao điểu tận, lương cung tàng" nghĩa là chim đã bay cao hết thì cung tốt phải xếp xó. Câu thơ mỉa mai đau đớn cho thói đời vong ơn bội nghĩa, như Hàn Tín khi cần thì vua dùng, không cần nữa thì vua giết!!!

Thói đa nghi, hẹp hòi, thiển cận cũng là đối tượng cười, qua sự chê Tào Tháo: "Sức ấy mấy người can đảm ấy/ Hiềm chưng một chút tính nhiều ngờ" (Tào Tháo), trách chàng Trương nông cạn: "Cách trở bấy lâu hằng giữ phận/ Hiềm nghi một phút bỗng vô tình... Thương nàng hòa lại trách Trương sinh" (Hoàng giang điếu Vũ nương), "Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng" (Lại bài viếng Vũ nương. Trương sinh, Vũ nương là tên các nhân vật trong truyện Người con gái Nam Xương về sau được Nguyễn Dữ tập hợp trong Truyền kỳ mạn lục in năm 1768). Thương nàng Vũ nương ân tình mà lại là nạn nhân của thói đa nghi đáng trách cho thấy một tinh thần nhân đạo thông cảm với người phụ nữ, điều ấy lại ở những người có trách nhiệm cao nhất với đất nước thì thật đáng quý.

Tinh thần giáo huấn đậm đà hơn cả trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, chữ "giới" nghĩa là "loài" nhưng cũng có thể hiểu là "răn", mà hiểu răn dạy là chính. Điều này hoàn toàn thống nhất với mục đích giáo dục, giáo lý bằng thơ ca của triều đại tiến bộ này. Răn "mười giới" cô hồn nhưng tiếng cười chỉ tập trung vào bốn giới là nho sĩ, thiên văn địa lý hoa nương, đăng tử lại cũng không sâu cay nặng nề, không ác mà chỉ là vạch ra, lật tẩy cái xấu để mọi người cùng thấy. Răn giới nho sĩ thì: "Lè lưỡi nuốt chằm Vân Mộng, cách nương long dư ngàn đội giáp binh/ Chép miệng luận sự Tôn Ngô, rũ tay áo năm bảy phen thao lược/ Đứng tao đàn gióng cờ nghe trống/ Đến tự tường ngang thiết cầm thương". "Nuốt chằm Vân Mộng" có từ câu "Thôn nhược Vân Mộng" trong bài phú Tử Hư của Tư Mã Tương Như, đầm Vân Mộng ở Trung Quốc rất rộng, có nhiều cảnh đẹp. "Nuốt chằm..." ý nói khoe khoang đi nhiều nơi biết nhiều cảnh đẹp. "Cách nương long dư ngàn đội giáp binh", "nương long" là vùng ngực, tức biết nhiều phép thuật, chứa hết cả trong bụng. Tôn Ngô là Tôn Vũ đời Xuân Thu và Ngô Khởi đời Chiến Quốc rất giỏi binh pháp. "Thao lược" là sách "Lục thao" và "Tam lược" nói về binh pháp. "Tao đàn" nơi hội họp văn nhân. "Tự tường" chỉ các loại trường quốc học. "Thiết" và "thương" là hai loại khí giới. Cả câu "Đến tự tường ngang thiết cầm thương" là nói đến trường học mà vững vàng như người giỏi khí giới. Cả đoạn bật ra cái ý mỉa kẻ sĩ chỉ quen với sách vở thiếu thực tế, suy nghĩ thì ghê, nói thì hay nhưng bên trong có khi trống rỗng. Răn giới thiên văn địa lý qua phép nhại: "Lừa lọc lục nhâm, tẩu mã/ Tỏ tường tứ thứ, giao cầm... Khen huyệt lành: long đái ấn, hổ phụ tinh/ Chê đất xấu: quy tàng hình, phượng chiết dực". "Lục nhâm, tẩu mã, tứ thứ, giao cầm" là những cuốn sách dạy bói toán cổ xưa. Thầy bói khen mảnh đất có "long đái ấn" tức hình con rồng đeo ấn, "hổ phụ tinh" tức hình con hổ đội sao, thật quá đẹp; chê đất xấu thì "quy tàng hình" tức rùa giấu hình, "phượng chiết dực" tức phượng gẫy cánh, thì thật quá xấu... Thầy chỉ nói theo sách. Kết lại là lời mỉa: "Những nói dữ lành rằng bởi đất/ Đất nào hay cãi được người ta".

Giới hoa nương bị "răn" nhiều hơn, chê nhiều hơn: "Say mây mưa bàn tán mấy cơn, đón nhân tình bằng mèo thấy mỡ/ Đắm trăng gió lân la mấy đoạn, mệt thế sự tựa kiến sa dầu/ Chốc mòng quán Sở, lầu Tần/ Chấp chới ả Diêu, nàng Ngụy". "Chốc mòng" có nghĩa mơ ước, "quán Sở, lầu Tần" là thành ngữ cổ chỉ nơi trai gái hẹn hò không đứng đắn, "ả Diêu, nàng Ngụy" thành ngữ chỉ cách ăn mặc diêm dúa, lòe loẹt. Các ả bị miêu tả ngoại hình theo lối mỉa: "Đầu quấn tóc rễ, tấp tểnh phô đắm nguyệt, say hoa/ Gót dỉ chân dì, đủng đỉnh muốn mua hài, chác hám/ Đi ngoay ngoảy dường đầu rối hát/ Ngồi nhếch nhác tựa mặt ma trơi". Châm biếm lật tẩy tính cách giả dối, tráo trở: "Ái ân vờ, nhân nghĩa cây vối, châu đã đằm đằm/ Nước mắt gừng, tâm sự xôi chiêm, suối đà lã chã/ Miệng thốt cười cợt nhợt/ Dạ biến đổi tơi bời". Các mâu thuẫn bị vạch ra phơi bày cái xấu xí bên trong, bên ngoài thì "châu đã đằm đằm" bên trong thì nhạt thếch (nhân nghĩa cây vối), ngoài thì "suối đà lã chã" nhưng bên trong thì "tâm sự xôi chiêm" tức rời rạc (chúng tôi hiểu xôi chiêm thời đó không ngon như xôi mùa, rời rạc, không thơm, không nhuyễn?)...

Chúng tôi xin bổ sung thêm bài Vịnh nàng Điêu Thuyền trong Hồng Đức quốc âm thi tập cũng bị cười để thấy quan niệm của thơ thời này là nhất quán. Có câu: "Gươm phấn quét không loài Đổng Trác". Điêu Thuyền là người con gái đẹp thời Tam quốc, bị đem làm "mỹ nhân kế": Vương Doãn hứa gả Điêu Thuyền cho Lã Bố nhưng lại đem hiến cho Đổng Trác (cha nuôi Lã Bố) làm cho hai cha con ghen rồi giết nhau. Như vậy Điêu Thuyển chỉ là nạn nhân của âm mưu chính trị nhưng tiếp biến vào văn hóa nước ta, bị khúc xạ qua định kiến trong lễ giáo về phụ nữ thành nhân vật bị mỉa mai là đồ nói điêu, tráo trở "Điêu Thuyền". Câu thơ trên là như vậy: "Gươm phấn" là nói mỉa chỉ phấn sáp (sắc đẹp) có thể giết người như gươm!

Giới đăng tử bị phê phán nhiều nhất, cũng bị răn dạy nhiều nhất. Bị lên án như những kẻ ăn chơi, học đòi, "mất gốc": "Áo kẻ phải dáng Đông Kinh/ Tóc búi học người Bắc quốc", chạy theo "mốt" thị thành ("Đông Kinh" tức Hà Nội ngày nay), rồi sùng ngoại, nệ ngoại. Là những kẻ lười biếng, chỉ quen đàn đúm chơi bời: "Để trễ việc cửa việc nhà/ Lo lắng đánh đàn đánh đúm/ Thăm tìm quán khách, chơi bời dại nguyệt, dại hoa/ Đủng đỉnh cầu đình, lơ lửng đứng đường, đứng sá". Lại dốt nát: "Ăn cà cuống lầm phải bọ hung/ Uống rượu thiêu lạt bằng nước lã/ Đánh cờ mo bàn chiếu, đi nước vịt nằm/ Đánh cầu chuối màng rơm, gảnh chân chó đái". Rượu thiêu, theo chú giải là loại rượu ngon, nặng, cháy như cồn, thế mà kẻ "đăng tử" uống như uống nước lã tức quá nhiều. Tiếng cười ở đây đã vật hóa "giới đăng tử": "đi nước vịt nằm" tức nước cờ quá thấp (dân gian chê nước cờ kém thấp như vịt, ở đây lại là "vịt nằm" còn thấp kém hơn). Đáng cười hơn là chơi cầu theo kiểu "gảnh chân chó đái"!!!

Khép lại mục này xin lấy dẫn chứng trong Hồng Đức quốc âm có những câu răn dạy thật giàu ước mơ mà cũng thật thấm thía: "Thơm tho dòng Đậu cành đan quế/ Đầm ấm sân Điền khóm tử kinh/ Chớ chớ phen lê khi chử đậu/ Anh em thảo thuận phúc nhà lành" (Huynh đệ). Câu đầu có từ tích Đậu Vũ Quân thời Ngũ đại có 5 người con đều thi đỗ làm quan, Phùng Đạo nhà Tống mừng câu đối: "Linh xuân nhất châu lão, đan quế ngũ tri phương" (Một cây thông già, năm cành quế thơm). Câu sau có từ trong sách "Kim cổ kỳ quan" (Chuyện lạ xưa nay) ba anh em Điền Chân đang ở một nhà định ra ở riêng bàn nhau hạ đốn cây tử kinh rất lớn giữa sân. Chưa đốn cây tự nhiên rũ úa. Điền Chân anh cả khóc nói cây này cành lá hoa quả từ một gốc sinh ra nay nghe nói bị chặt mà tự héo. Ba anh em ta từ một gốc sinh ra chả lẽ không bằng cây. Họ bỏ ý định chặt. Cây tự nhiên xanh tươi trở lại. Điển này dạy anh em đoàn kết khác cành nhưng cùng cội. Sách "Hán sử" có chuyện "Chử đậu" (nấu đậu) từ tích Tào Phi (đời Tam Quốc) là anh lên làm vua bắt em ruột Tào Thực đi bảy bước nếu không làm xong bài thơ sẽ bị chém. Thực khóc, vừa đi vừa đọc: "Nấu đậu để làm canh/ Lọc đậu để lấy nước/ Dây đậu đun đáy nồi/ Trong nồi hạt đậu khóc/ Cùng một gốc sinh ra/ Sao đốt nhau rát thế?". Lời thơ kể tích xưa cùng hai chữ "chớ chớ" như ngăn lại, cản lại những ai không biết giữ gìn tình anh em thiêng liêng. Đúng là không dùng điển cố không thể nói được ý tứ sâu sắc thâm trầm có sức nặng như thế.

Có những câu thơ giáo huấn vượt lên thời gian tức không cũ ở bất kỳ thời nào, vì nó là chân lý "Ngày ngày gội tắm nhơ đâu bén/ Tháng tháng dùi mài đá ắt mòn.../ Lời năng nói là năng oán/ Biết đổi cho ai dạy dỗ con?" (Giáo tử). Các câu trên thật dễ hiểu. Câu hỏi cuối thật nặng tình, giàu ý nghĩa: sinh con phải dạy con. Đó là tình thương, nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm!

 

2. Những bài học về lao động, hòa nhập với tự nhiên, thân thiện với muôn loài.

2.1. Bài học về gần gũi, quý trọng lao động

Các tác giả Hồng Đức quốc âm đều là những nhà quý tộc, quan lại mà cao nhất là vua, nhưng như chúng ta thấy lại viết về những gì rất bình dân. Có bài viết theo "khẩu khí đế vương" nhưng sự vật, hình ảnh được miêu tả khá sinh động, có thể chưa hay đều, có thể còn lặp tứ, lặp ý nhưng theo chúng tôi một giá trị văn hóa lớn ở tập thơ nằm ngoài tập thơ là tinh thần dân chủ thật quý. Những câu chuyện vua Lê Thánh Tông đêm ba mươi Tết "vi hành" tặng câu đối cho nhà nghèo có thể không phải là giai thoại mà là chuyện thật, vì ta thấy hình ảnh người đánh cá, người ăn mày... trong tập thơ này cũng có "khí tượng đế vương". Nhìn vào thời dân chủ nay mà "quan nha" xây "biệt phủ" sống như trên trời xa cách mấy ngàn lần dân nghèo, lại càng thấy thời ấy là lý tưởng!!!

Ta không ngạc nhiên khi tập thơ miêu tả cảnh lao động thật gần gũi, êm đềm: "Đầu ngàn êu ểu cỏ xanh om/ Thả thả chăn chăn ít lại nom/ Mũi nghé lui chân đứng nhảy/ U trâu vịn cật ngồi khom" (Mục - Vịnh người chăn trâu). Bài thơ tả thực sinh động: đám trẻ thả trâu ăn ngoài bãi rồi bỏ đi chơi, sợ trâu lạc nên thỉnh thoảng lại chạy ra xem (ít lại nom). Hết chơi ra cưỡi trâu thì lùi lại trước mũi, trèo lên đầu trâu rồi nhảy lên lưng... Không quan sát tinh không thể có cách miêu tả cụ thể như vậy.

Giá trị người lao động được đề cao tới mức tột đỉnh: "Diệt, vắt, tay cầm quyền tướng súy/ Thừa lưa thóc chứa lộc công khanh/ Công A Hành đến trời biếc/ Tiết Tử Lăng còn núi xanh" (Vịnh người đi cày). "Diệt, vắt" là hiệu lệnh của người cày lệnh cho trâu đi sang hướng trái, phải, ở đây lại được nhìn như là vị "tướng súy" cầm quân. Công lao người cầm cày được sánh ngang A Hành tức Y Doãn nhà Thương có sự nghiệp hiển hách cao như trời xanh; phẩm chất tiết tháo ngang Tử Lăng tức Nghiêm Quang nhà Đông Hán quân tử cao cả như núi cao. Thậm chí được coi là người sắp xếp lại đất đai, cải biến lại vũ trụ: "Đỗi Vũ tắm mưa tai nhấp nhấp/ Nội Châu cuốc nguyệt cật khom khom/ Cày Y cúi đỡ dân Thương ngóng/ Lều Cát nằm lui chúa Hán nhòm" (Họa bài người đi cày). Sách "Thượng thư" kể "Đỗi Vũ" có từ tích vua Đại Vũ nhà Hạ khai phá đất đai rồi chia thành từng mảnh (đỗi, đạc), định ra từng loại tốt xấu. Sau khi đánh tan Trụ nhà Thương, Vũ vương nhà Châu cho thả trâu ra nội Đào Lâm ý nói thái bình lập nghiệp. Cách nói cường điệu có phần khuôn sáo, khó hiểu nhưng cái đáng bàn ở đây là ghi nhận tấm lòng trân trọng, kính trọng, yêu thương con người lao động. Mà ở thời nào cũng vậy, biết trân trọng con người thì trước hết là những người tử tế, nhân hậu - một phẩm chất mang tính cơ sở, tính gốc để làm những việc khác!

2.2. Hòa nhập với tự nhiên:

Phê bình sinh thái hiện đại coi sự hòa nhập vào tự nhiên, sống cùng/trong tự nhiên là một nét nhân tính. Nếu thế thì thơ Hồng Đức đậm đà tinh thần nhân văn, tính từ trước đó, xét trong văn học viết, chỉ sau Nguyễn Trãi. Hẳn nhiên không chỉ là viết nhiều, viết hay, còn là sự miêu tả với thái độ tri âm, trân trọng, biết ơn tự nhiên. "Thuở giá lui, đầm ấm lại/ Kho đầy phong nguyệt của nhà ta" (Hoa) là một không gian ấm áp, tươi tắn của mùa xuân, nhưng có lẽ ý thơ được tập trung hướng đến là nói về tinh thần sở hữu tự nhiên ở câu sau, coi tự nhiên như là cái kho nhà mình, đầy đủ, phong lưu, sẵn dùng. Đồng thời tự nhiên cũng chấp nhận điều đó một cách tự nhiên nhất. Trong một bài thơ khác là sự làm rõ ý này: "Trong kho vô tận đòi dùng đủ/ Ấy gió thừa ưa cũng của hằng" (Nguyệt). Con người và tự nhiên hài hòa, không hề xung khắc, tự nhiên có "thừa ưa" thì người cũng chỉ "đòi dùng đủ". Tại sao hôm nay con người ta không được như ngày ấy, lại tham lam quá đáng lạm dụng tự nhiên, để tự nhiên nổi giận?!

Có rất nhiều bài với ý thơ vui vẻ, phóng khoáng, cảnh vật tươi tắn, xôn xao. Con người cùng nhau giao hòa, người hòa với cảnh, cảnh lại như trêu người: "Trời muôn trượng thẳm làu làu sạch/ Nguyệt một vầng in vặc vặc trong/ Quyến khách thơ ngâm lòng phới phới/ Ghẹo người chuông nện tiếng boong boong" (Tháng Tám). Thiên nhiên tô điểm cho cuộc sống "thế giới tiên" ấy thêm tươi đẹp, vui vẻ, ấm áp, hài hòa, sinh động, tự do, thân ái: "Đường hoa chấp chới tin ong dạo/ Dặm liễu thung thăng sứ điệp truyền" (Lại vịnh cảnh mùa xuân), và: "Liễu vẽ mày xanh oanh chấp chới/ Mai tô má phấn bướm xun xoăn" (Vịnh cảnh mùa xuân). Có xuất hiện hình ảnh "công đường" vốn gắn liền với ý niệm về luật pháp, chính quyền nhưng ở đây thì "tự nhiên" tuyệt đối, thanh bình tuyệt đối: "Ngoài cửa đùn đùn tan bóng trúc/ Công đường thay thảy phủ màn hòe" (Lại vịnh cảnh mùa hè). Thiên nhiên lại hòa nhập với thiên nhiên cùng bảo vệ nhau, che chở: "Cá ngỡ câu chìm xui bạn lánh/ Chim ngờ cung bắn bảo nhau bay" (Lại vịnh trăng non).

Đó là thế giới mẫu mực lý tưởng của sự hài hòa con người, tạo vật!

Chúng tôi vẫn xin muốn nhấn mạnh thêm phương diện mỹ học chủ thể ở cái nhìn hóm hỉnh mà trân trọng thương mến con người: "Đùn đùn mây họp cháu con lắm/ Ngần ngật dù che dòng dõi sang/ Ca ngợi ả Tây lừng thủy quốc/ Mặt bằng Lang sáu đượm thiên hương" (Lại vịnh sen). Xin lưu ý cách miêu tả thiên nhiên bằng từ ngữ miêu tả con người (Đùn đùn mây họp cháu con lắm) cho thấy một quan niệm thiên nhiên như con người, tương hỗ, hài hòa. Mây họp cháu con làm "dù" che cho sen "dòng dõi sang", nhưng hai câu sau cho biết thêm sen và người lại hòa làm một qua hai điển tích. "Ả Tây" tức Tây Thi người con gái tuyệt đẹp đời Xuân Thu thường hay hái hoa sen (nên càng đẹp thêm). "Lang sáu" có từ Hán tự là "Lục Lang" từ tích Tương Xương Tông thời nhà Đường được Vũ Tắc Thiên sủng ái gọi là Lục Lang. Có người khen mặt Lục Lang đẹp như hoa sen nhưng Tắc Thiên Hoàng hậu khẳng định hoa sen đẹp như mặt Lục Lang mới đúng! Không biết cái đẹp nào là chuẩn mực thẩm mỹ cho cái đẹp nào, chỉ biết cả hai cùng rất đẹp và như lẫn vào nhau, nâng đỡ nhau.

Thiên nhiên con người hòa vào nhau lại được miêu tả một cách hóm hỉnh tạo nên một "đặc sản" nghệ thuật riêng của thơ thời Hồng Đức: "Lều tiện ba gian trải nắng sương/ Thấy trời dòm xuống biết trời thương/ Dồi dào đã được nhờ ơn nước/ Soi tới càng thêm tỏ bóng gương/ Đêm có ả trăng làm bạn cũ/ Ngày thì dì gió quét bên giường/ Lại còn một vẻ thanh quang nữa. Ngọc lộ đầy mâm để uống thường" (Lậu ốc - Nhà dột). Câu đầu tả thực. Các câu sau tả cách điệu: nhà dột, ánh sáng chiếu vào thì coi là "trời dòm", "trời thương"; nước mưa thì coi là "ơn nước"... "Ngọc lộ" là giọt sương có trong điển vua Vũ đế nhà Hán dựng đền tạc tượng người tiên tay bưng mâm hứng sương để hòa với tinh hạt ngọc mà uống mong được trường sinh. Nghĩa là theo quan niệm xưa thì sương rất quý là tinh hoa của trời đất, thế mà (nay) nhờ nhà dột nên sương xuống đầy mâm, uống là chuyện bình thường, tức còn sang trọng, quý giá hơn cả vua Vũ hán. Bài thơ là cái nhìn ngộ nghĩnh, vui hóm, lạc quan hiếm gặp trong thơ trung đại.

2.3. Thân thiện với muôn loài.

Hồng Đức quốc âm thi tập là thế giới về loài vật và sự vật rất đỗi thân quen. Điều này cho thấy tác giả của chúng phải rất bình dân, gần cuộc sống, hiểu cuộc sống thường ngày. Về loài vật, có thể kể các con vật được miêu tả: con rận, con kiến, con cóc, con muỗi, con gà... Về sự vật, như: cái nón, cái quạt, cái ấm, cái đó, cái cối xay, cái diều, nhà dột, cây chuối, quả dưa, cây tre, cây me, rau cải, khoai, bếp, cái rế, ông đầu rau... Có nghĩa là những đề tài có trong cuộc sống dân dã, tầm thường nhất. Ở đây nên đặt một đối sánh khi mà "Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp/ Mây, gió, trăng, hoa, tuyết núi, sông" (Hồ Chí Minh) mà thời Hồng Đức cách nay gần 600 năm đi vào những đề tài giản dị ấy thì càng cho thấy đó là một cuộc cách mạng về đối tượng miêu tả.

Sự vật rất sinh động nhờ dùng tính từ cực tả: "Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi/ Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè/ Cuốc cuốc, cuốc hằng khua mơ cuốc/ Ve ve, ve lại gẩy cầm ve" (Lại vịnh nắng hè 3). Cái được miêu tả có hồn do được khai thác những hình ảnh mang tính đặc trưng riêng biệt, ngộ nghĩnh mà sống động: "Bẻo lẻo đầu ghềnh con bố cốc/ Lênh đênh mặt nước cái đè he" (Hạ thử - Nắng hè). "Bố cốc" tức chim tu hú thường kêu vào đầu hè để nhắc người dân (xưa) cấy lúa (bố cốc). "Cái đè he" tức cá he mình to, dài, đầu giống đầu lợn, sống ở biển, mùa hè thường nổi từng đàn.

Nhờ có sự tri âm, thấu hiểu đối tượng miêu tả nên người đọc thấy được tình người trong thơ. Phải có một tình thương mới nhìn thấy, nghe thấy và có cách dùng những tính từ này: "Đậu lá vơ vàng con bướm bướm/ Ấp cây gầy guộc cái ve ve" (Lại vịnh nắng hè 1). Câu thơ được đảo trang để nhấn mạnh trạng thái: "Khắc khoải đã đau lòng cái cuốc/ Băn khoăn thêm tức ngực con ve" (Lại vịnh nắng hè 2). Người đọc như thấy không chỉ con cuốc khắc khoải, con ve băn khoăn mà cả chủ thể nhà thơ cũng băn khoăn khắc khoải!

Con rận là thứ sống ký sinh, gây hại (hút máu, truyền bệnh) cho con người nhưng vào thơ thì không là con rận đáng ghét nữa mà là loài vật đáng trọng qua lối miêu tả cách điệu bao dung: "Tạo hóa sinh mi được phận an/ No lòng ấm cật kẻo cơ hàn/ Lảu hay phong vị mùi thiên hạ/ Nhòm biết nhân tình sự thế gian" (Bạch sắt - Con rận). Từ bình diện quan hệ người vật cho thấy một ứng xử nhân ái, thân thiện; từ góc độ thẩm mỹ cho thấy cái nhìn hài hước vui vẻ. Dĩ nhiên không nhìn từ quan điểm khoa học vệ sinh...

 

3. Những tu từ nghệ thuật cơ bản:

Hạn chế dễ thấy nhất về hình thức của thơ thời Hồng Đức, vì thiên về ngâm vịnh ngợi ca nên khó tránh khỏi sự lặp và sáo, nhất là ở thơ chữ Hán, ở thơ Nôm gần với đời sống nên sinh động hơn nhưng cũng khó có thể nói đã tạo ra những tiến bộ nghệ thuật. Dưới đây chúng tôi xin đi vào một vài thủ pháp tu từ tiêu biểu.

3.1.Xu hướng cách điệu:

Thơ Hồng Đức triệt để sử dụng nguyên tắc cách điệu, có thể coi đây là căn cứ cơ bản để đọc thơ thời này với thơ thời khác. Vì sao vậy? Phải chăng từ lý do cơ bản là quan niệm nghệ thuật trong thơ cũng là quan niệm ca ngợi, khẳng định công lao nhà vua đã tạo ra một thời thái bình?! Tương ứng với thi pháp thể loại thơ trung đại để thể hiện quan niệm đó thì cường điệu, khuếch đại, khoa trương là phù hợp.

Cách điệu làm biến mất hình dáng sự vật, bản chất được hiểu khác lạ đi nhưng vẫn có một mối liên hệ gần gũi từ "mẫu gốc": "Mùi mẽ bát trân thường nhá/ Dáng tăm tam đảo hơi gần/ Hòa canh ngày giúp việc thừa tướng/ Thêm bếp đêm liều chước tướng quân" (Xích đầu ông - Ông đầu rau). Cách điệu tạo ra một sự vật mới bằng con đường liên tưởng, tưởng tượng, liên tưởng từ sự vật gốc, tưởng tượng ra sự vật mới. Ba ông đầu rau vào thơ thành mới mẻ khác thường: được thưởng thức mùi những món ăn quý (bát trân); là ba ngọn núi (tam đảo); giúp việc điều hòa chính sự (hòa canh - việc chính sự như việc nấu canh thêm muối, thêm giấm cho ngon); góp phần đẩy lui giặc giã ("thêm bếp" là tích tướng Ngu Hủ thời Đông Hán nghĩ cách cho mỗi lính làm thêm một bếp mới khi rút chạy, giặc đuổi theo thấy nhiều bếp tưởng đối phương đông nên bỏ). Người đọc vẫn thấy đó là ba ông đầu rau nhưng được bổ sung những hàm lượng tri thức thẩm mỹ mới, nhờ vậy tạo ra khoái cảm nghệ thuật. Tương tự, con cóc vốn tầm thường lại mang một "khí tượng" khác hẳn, oai phong lẫm liệt, đầy quyền lực: "Chừ thuở nên thân tấm áo sồi/ Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi/ Nâng tay mấy phút oai hùm nép/ Tặc lưỡi đôi lần chúng kiến lui" (Thiềm thừ - Con cóc). Cái cối xay được tả cách điệu, gây cười: "Có thuở ù ù cơn sấm động/ Đòi phen lã chã hạt mưa bay" (Cối xay). "Cơn sấm động" là khi cho lúa vào xay, "lã chã hạt mưa bay" là khi vỏ trấu và hạt gạo rơi xuống nia... Mục đích của cách điệu trào phúng trong thơ Hồng Đức là tạo ra tinh thần thẩm mỹ nhẹ nhàng, vui vẻ mà thêm yêu đời, yêu sự vật, yêu tự nhiên ở người đọc. Một tiếng cười hài hước nhẹ nhàng có thể chưa thâm thúy sâu sắc theo lối bác học, hàn lâm nhưng đáng mến, đáng yêu cần có trong cuộc sống thường nhật.

3.2. Phương thức láy từ, điệp từ:

Thơ Hồng Đức là thế giới của từ láy mà ở đó là sự tập hợp các từ (hoặc yếu tố) cơ bản của từ láy hiện đại, cho đến hôm nay hầu hết các từ láy ấy vẫn giữ nguyên nghĩa. Điều ấy cho thấy sức sống lâu bền của ngôn ngữ thơ miêu tả đời sống, gần với đời sống, phát sinh từ đời sống. Chức năng cơ bản của từ láy là làm sinh động hóa sự vật. Láy hình ảnh: "Lụp xụp bên giang bảy tám nhà/ Trời thâu bóng ác dãi tha la/ Chan chan thuyền đỗ đầu gành liễu/ San sát chài phơi cuối vụng hoa" (Ngư thôn tịch chiếu - Ánh chiếu dọi vào xóm chài). Các từ lụp xụp, chan chan, san sát diễn tả một cách chính xác nhất cái hoang vu của bãi sông lúc chiều tà với sự tập hợp, liên kết trong bồng bềnh sóng nước nơi đầu gành của đoàn thuyền và sự nối liền, san sát của lưới phơi... Láy ở câu thơ sau vừa là hình ảnh thong thả thảnh thơi vừa là tình cảm khoan khoái nhẹ nhàng: "Thuyền tếch thênh thênh chèo nhẹ nhẹ" (Viễn phố quy phàm - Thuyền buồm bến xa trở về).

Sự kết hợp láy tính từ chỉ trạng thái với tính từ chỉ âm thanh diễn tả cuộc sống thật thanh bình: "Sông lồng lộng, nước mênh mênh/ Lườn lượn chèo qua nép nép mình/ Gió hiu hiu, thuyền bé bé/ Mưa phún phún, nón kềnh kềnh/ Chuông chiền mỗi mỗi coong coong gióng/ Mơ xã lâu lâu cốc cốc lềnh/ Bến liễu đâu đâu tìm mộng mộng/ Đường về than thán, nguyệt chênh chênh" (Ngư giang hiểu vọng - Buổi sáng trông ra có thuyền đỗ).

Láy âm thanh được sử dụng nhiều nhất khi miêu tả tiếng chuông chứng tỏ Phật giáo trong thời hưng thịnh và tiếng mơ êm đềm, quê mùa, sau nữa là tiếng gà gáy, âm thanh lao xao họp chợ, tiếng cuốc nao lòng, tiếng ve yên ả: "Lẻ tẻ đầu non người quảy củi/ Lao xao cuối bãi khách về thuyền/ Mơ vang cốc cốc bên kia bến/ Chuông dóng coong coong mái nọ chiền" (Đan hà hiểu vọng - Buổi sớm trông ráng mây đỏ). Không thấy tiếng chó sủa, tiếng cãi cọ, tiếng nói to, càng không thấy tiếng quát tháo.

Tiêu biểu cho hình thức kết hợp láy hình ảnh và láy âm thanh qua một bài vịnh trăng: "Cày cạy nàng nào khéo hữu tình/ Mặt làu làu, vóc thỏ thanh thanh/ Tròn tròn, méo méo in đòi thuở/ Xuống xuống, lên lên suốt mấy canh/ Tháng tháng liếc qua lầu đỏ đỏ/ Đêm đêm liền tới trướng xanh xanh/ Yêu yêu, dấu dấu đàn ai gẩy/ Tính tính, tình tình tính tính tinh" (Họa vần bài vịnh trăng, bài X). Từ láy hình ảnh, trạng thái, tính chất làm sinh động hóa hình ảnh trăng, về hình dáng (mặt, vóc, tròn, méo), về màu sắc (đỏ đỏ, xanh xanh) theo thời gian (tháng tháng), thời điểm (mấy canh). Nếu thiếu láy âm thanh tiếng đàn thì không khí thanh bình êm đềm sẽ không trọn vẹn, bức tranh đêm hòa ái sẽ thiếu một nét sinh khí, khúc nhạc tụng ca sẽ thiếu một nốt chủ: "Tính tính, tình tình tính tính tinh"...

Hình thức điệp đi theo lối song trùng hình ảnh mở ra nhiều lớp không gian quấn quýt của hình ảnh, màu sắc, âm thanh, hương vị: "Hoa mới treo cành nguyệt mới ra/ Rất thanh thì nguyệt tối thì hoa/ Nguyệt cao nguyệt tỏ khi hoa chiếng/ Hoa thấp hoa hay thuở nguyệt tà/ Nguyệt ngậm ngùi hoa khi hạ tới/ Hoa ngao ngán nguyệt thuở thu qua/ Thế tình bàn bạc hoa cùng nguyệt/ Hoa chẳng phải thơm nguyệt chẳng già" (Hoa nguyệt).

3.3. Tạo hình theo lối cực tả và kết hợp phong cách trái chiều:

Láy tính từ toàn phần để cực tả một trạng thái ở mức đỉnh điểm: "Liễu phất tơ xanh mềm lướt lướt/ Hòe giương tán lục xếp trùng trùng" (Tháng tư), "Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè" (Lại vịnh nắng hè 3). Láy bộ phận nhưng diễn tả trạng thái ở mức cao nhất có thể: "Giăng ngang biển, chờn vờn lớn/ Cao chọc trời, ngần ngật xanh" (Song Ngư sơn - Núi Song Ngư) là tả ngọn núi với hình dáng (chờn vờn lớn) và tính chất màu sắc (ngần ngật xanh). Tương tự tả người bắt cá thì: "Manh áo quàng, mang lụp xụp/ Quai chèo xách, đứng lom khom" (Ngư - Vịnh người kiếm cá) và: "Nửa tấm áo tơi che lủn củn/ Một cần câu trúc uốn khom khom" (Họa bài người kiếm cá), "lụp xụp", "lủn củn" tả quần áo đơn sơ nhất, "lom khom", "khom khom" tả trạng thái động nhất lúc chuẩn bị bắt cá.

Cách điệu để tạo ra phong cách cao khi miêu tả sự vật nhưng lại đặt ngay cạnh sự vật hiện tượng theo phong cách thấp tạo ra một hình thức tương phản, nghịch lý để gây chú ý nhưng cái chính là tạo mâu thuẫn mang chất hài nhẹ nhàng: "Phong nguyệt một đòn lếch thếch/ Yên hà đôi bó quảy lom khom" (Tiều - Vịnh người hái củi). Không gọi là "củi" mà gọi là "phong nguyệt" (gió trăng), là "yên hà" (khói sông) nhưng con người lại bị tả theo nghĩa đen thông tục, qua các tính từ láy "lếch thếch", "lom khom". Bài thơ thường kết cấu thành hai phần, mở đầu là giới thiệu cảnh thực (phong cách thấp), như cảnh người đi cày: "Một cày, một cuốc, phận đã đành...", nhưng phần sau thì khác hẳn, được khoa trương: "Diệt, vắt, tay cầm quyền tướng súy/ Thừa lưa thóc chứa lộc công khanh/ Công A Hành đến trời biếc/ Tiết Tử Lăng còn núi xanh" (Vịnh người đi cày), không còn là người đi cày mà thành tướng súy công khanh. Có trường hợp phong cách thấp chỉ ở tên bài thơ (cối xay, nhà dột, cái ấm đất, trứng vịt...) nhưng cả nội dung bài lại theo nguyên tắc phong cách cao. Bài mang tên "Cái đó" có những câu: "Mưa một trận dãy ngòi hoa/ Quyền nẩy cho đi trấn cõi xa/ Sấu vươn lưng ngang suối biếc/ Rồng há miệng đớp doành la..." ( - Cái đó) thì không còn cái đó mà là bậc tài năng "đi trấn cõi xa", thành con vật linh thiêng sấu, rồng...

3.4. Lối tự trào, chơi chữ:

Trước đó Nguyễn Trãi tự trào bản thân về hình thức già nua: "Lưng gầy da sỉ tướng lù khù" nhưng trong Hồng Đức tuyệt không có câu nào tự trào về hình thức cá nhân. Có phải ý thức cá nhân thời Hồng Đức không mạnh? Hay phần lớn thơ do nhà vua làm, mà vua ngày xưa thì dân thường không được nhìn "ngọc thể", "long nhan" (thậm chí đến thế kỷ XVIII, XIX khi vua hành ngự trên đường thì thần dân phải quỳ xụp lạy không được nhìn xa giá)? Do vậy mà thường là tự trào về sinh hoạt như làm thơ, uống rượu: "Bẻo lẻo câu thơ cũ rích/ Hê ha chén rượu hăng sì" (Tự thuật). Tự coi thơ mình là "cũ rích" (bẻo lẻo, từ tượng thanh diễn tả âm thanh không đều, ngắt quãng, thông tục. Trong Hồng Đức có một lần dùng từ này tả âm thanh con tu hú: "Bẻo lẻo đầu ghềnh con bố cốc - Hạ thử); uống rượu không ngon, dù theo lối "khiêm cung" nhưng cũng cho thấy lối sinh hoạt bình dân của chủ thể. Trong một bài Tự thuật khác nhà thơ không ngần ngại đưa từ tục vào thơ: "Mềm gối cóc khô mềm gối mãi". Nhưng vẫn có kiểu tự trào cao ngạo về cuộc đời "phù vân": "Phú quý cần câu Nghiêm Tử/ Công danh con ngựa Tái ông" (Tự dật - Tự bày tỏ sự ẩn dật). Nghiêm Tử Lăng là bạn giúp Lưu Tú lên làm vua (Quang Vũ nhà Đông Hán) nhưng không làm quan mà đi ở ẩn câu cá. Tái ông là câu chuyện chưa biết thế nào là may rủi được mất của ông già biên ải. Cách dùng các điển tích này cho thấy nhà thơ coi nhẹ cuộc sống phù hoa phú quý.

Thơ Hồng Đức bắt đầu có ý thức chơi chữ Nôm nhưng chưa thể coi là một nguyên tắc nghệ thuật, mới dừng lại ở vài bài ngẫu hứng vui vẻ khi tả sự vật cho thêm phần ngộ nghĩnh: "Đá ấy xương, cỏ ấy lông/ Trời Nam đứng giữa gọi Nam công/ Múa vai bóng rợp dân muôn họ/ Giương cánh nâng phò nước chín trùng/ Lóng lánh kiền khôn thế giới/ Xênh xang xuân hạ thu đông/ Đành hay là giống trời sinh cỏ/ Ngỏng cổ chầu về đất tổ tông" (Nam Công sơn - Núi Nam Công). Tả núi có tên công (chim) thì có các chữ chỉ bộ phận và hành vi tương ứng: xương, lông, múa vai, giương cánh, ngỏng cổ.

Trở lên cho thấy giá trị văn hóa thơ Hồng Đức mạnh ở ý nghĩa xã hội nội dung, để lại cho hậu thế bài học sáng mãi: vua tôi liêm khiết, trên dưới đoàn kết; coi trọng, quý mến con người; hướng con người tránh xa cái xấu mà hướng về cái tốt, cái thiện. Còn là quy luật tiếng thơ là tiếng nói của thời thế, nhân thế; để có tiếng thơ nhân sinh thì nhà thơ, dù là ai cũng phải sống giữa cõi người, cõi đời!

N.T.T.

Nguồn: Tạp chí Thơ

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *