Sen nở như không biết người âu sầu/ Hay sen cũng âu sầu mà người không biết/ Cùng sắc trắng trong, cùng đượm hương từ ngàn đời/ Chỉ khác em lên tiếng mà ta lặng im. (Liên bút từ sen - Nguyễn Lương Ngọc)
Gửi thư    Bản in

Phóng sự nhiều kỳ: Chuyện chưa kể về 100 người lính xe tăng ngày ấy (kỳ 4)

Kỳ 4: Bốn mươi năm sau

Nguyễn Thế Tường - 26-12-2011 09:55:03 AM

11 giờ 28phút 25 giây ngày 10/11/2011, Hồng Dung nhắn tin: “Các anh ơi! Em về quê chồng ở Thái Bình có việc, đã tìm về Hưng Yên gặp được mẹ anh Tư Cầu Muối. Bà khoẻ và phấn khởi lắm, lần đầu tiên có bạn của con đến chơi. Làng xóm kéo sang mừng”.

11giờ 50 phút 48 giây “Hình như họ hàng làng xóm… nghi ngờ em là “Người xưa” của anh Tư, họ cứ… thì thầm… thì thầm”.

Ôi, nếu được làm “người xưa” của Tư Cầu Muối, tôi xin đổi giới tính ngay!.

“Có những lúc muốn hái hoa rừng anh gửi tặng em thêu áo, và ngàn vì sao trên trời xâu thành một chuỗi em đeo. Và vì, đời lính không giàu mà cũng không nghèo, anh – yêu – em!” Tôi muốn trích phần ca từ này thêm một lần nữa vì nó quá ấn tượng, tôi thuộc nằm lòng mà 40 năm qua dò tìm suốt vẫn không biết của ca khúc nào, tác giả nào, thời kỳ nào?! Chỉ biết rằng nó được hát lên bởi một chàng sinh viên bách khoa – học viên hạ sĩ quan tăng thiết giáp thời đoạn chiến tranh đang vào độ cam go nhất, mà giờ đây, chỉ cần nhắm mắt lại là có thể vẽ cận cảnh từng chi tiết trên gương mặt, vầng trán, cái răng, cái tóc, nét cười đến bộ dạng của anh: Tư Tỏi, Tư Mắm, Tư Cầy, Tư Cầu Muối. Không hiểu sao Nguyễn Văn Tư, chàng trai Hà Nội gốc Hưng Yên, cựu sinh viên bách khoa, học viên lớp kĩ thuật tăng thiết giáp lại có nhiều biệt danh đến thế. Có thể vì tài chế biến các món hay bởi chân dung của anh. Tư Cầu Muối mà cầm con dao chọc tiết lợn đứng ở ngã ba đường thì cả băng xã hội đen chục người cũng phải nể, đứng trong bếp thì anh chị nuôi quân phải nhường chỗ. Nhưng, bên trong vẻ xù xì ấy là một trái tim nhân hậu bao dung vô cùng. Anh ôm đàn ghi ta “thùng” tay cào cào vào 6 giây, bấm vài hợp âm, rồi nhăn nhở hàm răng cải mả, hát (cũng không đến nỗi dở” ca khúc mà anh yêu thích: “… và ngàn vì sao trên trời, xâu thành một chuỗi em đeo…” Tư Cầu Muối ơi! Mấy mươi năm qua ở trên cao xanh ấy anh có hái được vì sao nào xâu thành chuỗi gửi xuống cho người yêu đeo vào cổ như chuỗi hạt lấp lánh không?! Tư Cầu Muối đã bay lên trời theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, cả linh hồn lẫn thể xác tại một địa danh như tiền định: Ngã Tư Bảy Hiền – Sài Gòn…

Lịch sử binh chuẩn tăng thiết giáp trang 278 viết: “Mờ sáng ngày 30(4/1975) Trung đoàn bộ binh 24 thuộc sư đoàn 10 và tiểu đoàn tăng 1 tiến đến ngã Tư Bảy Hiền. Địch  cho xe tăng ra ngăn chặn và tập trung các loại hoả lực bắn vào đội hình quân ta. Máy bay địch ném bom bừa bãi Ngã Tư Bảy Hiền, cổng số 5 sân bay, ngã ba Bà Quẹo đến trung tâm huấn luyện Quang Trung. Một tiểu đoàn dù nguỵ từ trong Sài Gòn ra phản kích. Đại đội bộ binh 7 cùng với 8 xe tăng thiết giáp của ta đột kích mở đường vẫn chưa tiến lên được. Hoả lực ngăn chặn của địch rất mạnh. Ta chưa nắm vững địch lại chỉ tiến công trên một trục đường nên bị tổn thất nặng…” Trận này, cả chính trị viên Nguyễn Xuân Trường và đại đội trưởng Nguyễn Văn Tư đều hy sinh. Ổ phục kích của địch ở Ngã Tư Bảy Hiền lấy phân tử bắn từ trước, khẩu X22 (22 nòng) bắn xối xả. Xe Tư trúng đạn bốc cháy nhưng vẫn bắn trả kịch liệt cho đến khi diệt được khẩu X22 thì cả kíp xe không một ai còn kịp nhảy ra ngoài. Cho đến ngày hôm sau, hôm sau nữa, khi cả Sài Gòn hân hoan chiến thắng thì ở Ngã Tư Bảy Hiền những chiếc xe tăng vẫn nóng đỏ. Khá lâu sau, bộ phận công tác chính sách mới thu lượm được từ trong xe những nắm tro… màu trắng. (Người lính bộ binh nếu ngã xuống sẽ được cỏ cây che chở. Người lính Hải quân hy sinh chìm vào lòng đại dương hoặc được sóng đánh lên bờ. Cả người phi công chiến đấu nếu mệnh hệ gì cũng rơi từ trên trời xuống đất. Còn anh lính xe tăng … thực ra trong xe T54 cũng có một cái cửa thoát hiểm ở mặt sàn nhưng lâm trận là hầu như không ai nhớ đến cả. Xe trúng đạn, với không gian buồng lái và  buồng chiến đấu hẹp như vậy thường bị sát thương rất nặng… Cả kíp xe thành khói… bay lên trời…). Tình cờ thế nào trong 100 người lính xe tăng ngày ấy lại có hai anh em rể, Nguyễn Văn Khoa (Tuyên Hoá- Quảng Bình) yêu em gái Nguyễn Văn Tư (Hà Nội). Hai anh em cùng nhập ngũ, cùng được chuyển sang tăng thiết giáp, cùng đi chiến trường và hy sinh cùng chiến dịch.

Không ai biết khi ngã xuống ở tuổi 25 đại đội trưởng tăng thiết giáp Nguyễn Văn Tư đã có mối tình nào vắt vai chưa!?

Sông Lô chiều cuối năm …” tôi đã nghe ca khúc này nhiều lần qua giọng nam cao của Doãn Tần nhưng không ngờ sông Lô đẹp đến thế, nói chính xác hơn là hai bờ Sông Lô thơ mộng đến thế. Cuối thu, sương lãng đãng quẩn quanh trong những bãi bắp rộng dài theo triền sông, triền đê. Không gian làng quê thanh bình đến độ như ngưng đọng lại. Nhưng chúng tôi ngược sông Lô không phải để ngắm cảnh mà để tìm tới một địa chỉ mới dò được trong hồ sơ chính sách Bộ tư lệnh tăng thiết giáp: xóm Dềnh, xã Gia Thanh, Phù Ninh, Phú Thọ, quê hương của học viên lớp K, cựu sinh viên trường đại học Nông nghiệp Hán Đức Lĩnh, hy sinh tại chiến trường B2 năm 1975. Lĩnh ngồi đó, chân dung của 40 năm trước, trẻ trung, trắng trẻo hơi bẽn lẽn với chiếc răng khểnh, quân hàm học viên một vạch vàng đúng thời kỳ huấn luyện. Tháng 9/1972 đi B (Bê) cùng với các bạn Hoài, Khoa, Hảo, Thành, Việt và cùng ngã xuống trong những trận đánh ở miền đông Nam bộ. Mẹ già 90 tuổi, chú ruột 87 tuổi, những người anh em ruột, chị em dâu, các cháu mọi lứa tuổi quay quần… 40 năm rồi, nay những người đồng đội mới tìm lên… tri ân. Có một đít cua ngăn ngắn của Ngô Quang Năng, trưởng ban liên lạc, những nén hương từ tay phó ban Trương Công Đạo. Phó trưởng ban Nguyễn Huy Quảng run run trao quà của quỹ “mãi mãi tuổi 20”. Xóm làng được tin bắt đầu kéo tới đông. Không gian mùa thu sẫm nhanh. Trời chiều đường xa, mọi người từ biệt như có phần vội vã không kịp dùng cơm của gia đình. Người mẹ 90 tuổi lưng còng tay vịn cột đứng trên bậc thềm chào với: “Các bác về nhé… Các bác về… con tôi không về ” Ôi, lời thảng thốt của người mẹ khóc con dồn nén 40 năm khiến đội ngũ cựu chiến binh chúng tôi trào nước mắt.

 

Vẫn là tin nhắn của Hồng Dung, thành viên thứ 101, em út của đại đội, uỷ viên nữ duy nhất của ban liên lạc phụ trách công tác đền ơn đáp nghĩa: “Các anh ơi, văn phòng công ty em ở Nha Trang đã cùng anh Lê Sơn Tịnh tới nhà và ra nghĩa trang thắp hương cho liệt sĩ Phùng Anh Dũng”.

Cảm ơn Hồng Dung, cảm ơn anh Lê Sơn Tịnh, may mắn rồi. 40 năm trước ông anh cả Lê Sơn Tịnh đã cứu một  tính mạng trong gang tấc. Thằng Tâm, bách khoa, cựu học sinh trường Trỗi (Nguyễn Văn Trỗi) lớp K, hết sức hiếu động. Đang giờ học lái, hắn lấy khẩu súng lục của trung đội trưởng Tình huơ huơ chỉ vào ngực người này, người kia doạ bắn. Lê Sơn Tịnh bay tới phóng một “cước”, khẩu súng văng lên trời, một tiếng nổ vang trong thinh không. Sau mấy giây chết lặng, mọi người nhìn lại xem có ai trúng đạn không. May, không ai chết cả. Lê Sơn Tịnh đi thắp hương cho Phùng Anh Dũng thì yên tâm rồi.

Thằng Quý Lăng kể: Tao đi hơn nghìn cây số từ Hà Nội vào Phan Rang dạy thêm lớp đại học thuỷ lợi tại chức, gặp buổi cô giáo anh văn tiết liền kề đến muộn, tao cáu: - Làm gì mà đến muộn? – Em xem gắng cái phim. Nghe giọng Hà Nội, tao dịu: - Phim gì ghê thế? – Cái phim về xe tăng. – Ơ! Xe tăng thì liên quan gì tới các cô? – Là vì anh của em là lính xe tăng Việt cộng- Ông ấy đi hồi nào? – Năm bảy mốt. - Ở quê đi à? – Không, sinh viên. – Tên gì? – Dũng, thầy hỏi làm gì? – Có phải Phùng Anh Dũng!? Cô giáo Chính tròn mắt. Mới biết, trái đất này nhỏ thôi mày ạ.

Đến Quảng Ngãi tôi gọi cho Chính: -A lô, có phải em đang ở Quảng Ngãi? – Không em ở Ninh Thuận cơ, tận cực nam miền trung. Chính là em gái áp út của Dũng. Nhà có 8 chị em, ba mất đã 10 năm, má mất năm ngoái ở Nha Trang. Quê gốc Quảng Nam, ba đi kháng chiến rồi cùng má tập kết ra Bắc. Chính sinh ở Hà Nội, về nam hơn 1/3 thế kỷ rồi mà vẫn giữ nguyên một chữ “cơ” ( tận Ninh Thuận cơ). Tôi giật mình, sợ toát mồi hôi. Điệu này lại một lần nữa bị chị Tú nạt rồi.  Năm 95 chị Tú đi tìm mộ Dũng, gởi thư than phiền với tôi về thói vô cảm của mấy ông chính sách. Tôi viết truyện ngắn ‘Tìm em” hư cấu chút đỉnh lá thư của chị, thành ra: “ ba chị đi kháng chiến mất sớm, má sanh hai chị em, chị là chị hai…” 16 năm sau, viết phóng sự tôi hồn nhiên trích lại lá thư đã bị hư cấu. Chỉ Tú chửi nữa cũng không oan. Dũng ơi! Mầy sống khôn thác thiêng tạ lỗi ba má và chị Tú dùm tao, không thì, sắp tới kỉ niệm 40 năm tụi mình qua tăng thiết giáp, gặp chị tao sợ lắm.

Không dễ gì trường sĩ quan tăng thiết giáp có thể hứa cho đánh hẳn một T54 (Tê năm tư) ra sân khấu làm nền trong đêm hội lửa trại giao lưu giữa cựu sinh viên – chiến sĩ tăng thiết giáp với nhân dân thôn Đồng Bông (Vĩnh Yên) và liên chi đoàn nhà trường. Sân khấu, hội trường chính là vùng gò đồi nơi 40 năm trước – ngày 6/12/1971, 100 chú chàng tân binh của sư 325 đổ bộ xuống học bài đầu tiên: Tăng và thiết giáp là hai loại xe khác nhau và buổi thực hành đầu tiên là làm tiều phu vào rừng chặt nứa. Nhưng ở đó, một giảng đường mới mở ra, cũng dẫn luận, định luật, định nghĩa. Có xủng xoảng sắt thép của tử thần và cả giá trị nhân văn thanh cao của đức xả thân. May mắn thay hay mặc nhiên phải thế: Cả 100 thành viên đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từ đó cho đến hết chiến tranh. 14 người nằm lại đất mẹ phương nam. Một số được quân đội giữ lại đào tạo rèn luyện thành sĩ quan cao cấp. Số đông về trường, học, tốt nghiệp, thành những cán bộ khoa học ấn tượng trong mọi lĩnh vực. Có người thương tật nặng lui về quê sinh sống là công dân tốt của xã hội – không một vết nhơ.

Ngày 30/10/2011, kỷ niệm cách mạng tháng mười Nga, đài truyền hình Trung ương tổ chức cầu truyền hình Hà Nội – Mac cơva, người ta thấy trung tướng anh hùng quân đội Đoàn Sinh Hưởng cùng với 4 cựu sinh viên chiến sĩ tăng thiết giáp đã cùng ông đi suốt những chiến dịch đến toàn thắng hát bài ca truyền thống: “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”. Vâng! Như năm bông hoa nở cùng một cội…

Lịch sử binh chủng tăng thiết giáp có thể ghi: “ngày ấy, 6-12-1971 có 100 người lính sinh viên gia nhập binh chủng…”./.

                                                                        Đồng Hới, tháng 11 năm 2011

 

Vĩ Thanh: Vẫn thằng Quý Lăng ở Hà Nội gọi cho tôi: Tường ơi, tao mới làm xong cái ca khúc cho bọn mình, hay nhất thế giới, ra kỷ niệm 40 năm cùng hát nhé. Ừ, cùng hát, hay đến đâu như “Năm anh em….” Là cùng chứ gì!? Liệu có bằng “giờ này anh về đâu, hỡi người bạn cũ cùng binh đoàn…?!”

Kỳ 3

Kỳ 2

Kỳ 1

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Tư liệu  

Nam triều công nghiệp diễn chí không phải cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của nước ta.

VanVN.Net - Bài viết  “NAM TRIỀU CÔNG NGHIỆP DIỄN CHÍ – CUỐN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM” của Nguyễn Văn Dân đã làm rõ một số đặc điểm của “Nam triều công nghiệp diễn chí” trong bối cảnh tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời trung ...