Gửi thư   
Bản in
VanVN.Net – Nguyễn Hiệp - một cây bút văn xuôi chững chạc đầy triển vọng của miền Trung và miền Đông Nam bộ. Sinh năm 1964 ở Hàm Tân, Bình Thuận, bên dòng sông Con Cuông bé nhỏ. Nhưng luôn có một dòng sông khác ngoài dòng sông Con Cuông nhiều kỷ niệm, lắm xót xa đã gắn chặt một thời niên thiếu côi cút của Nguyễn Hiệp với quê nhà. Dòng sông thời gian tím bầm dập nát nhưng cũng đầy ký ức dẫu buồn đau nhưng đã nâng đỡ tâm hồn và ý chí để có một nhà văn Nguyễn Hiệp hôm nay... VanVN.Net xin trân trọng giới thiệu những tác phẩm rút trong tập truyện ngắn mới nhất của anh: “Âm thanh đổ bóng”.

Nhà văn Nguyễn Hiệp trên vịnh Hạ Long (Ảnh: Phong Lan)
ÂM THANH ĐỔ BÓNG
Mười ngón tay Trần Vũ đang bị một thứ ma lực cuốn đi trên bàn phím, những chiếc búa gõ dường như được điều khiển bởi bàn tay vô hình nào đó. Bản Xô-nat Ánh trăng, chính nó, âm thanh đã tái hiện mồn một khí, hồn và ảnh của một đêm thanh, ánh trăng đang lắng xuống từng lớp, từng lớp, trước cửa ngôi nhà ấy. Ánh trăng lắng xuống, trầm tích ánh trăng dày lên, dày lên thời gian chờ đợi, rạo rực chờ đợi, mòn mỏi chờ đợi, chìm, tan trong bản hoan ca chờ đợi.
Chính nó, bản nhạc Vũ đàn thực hành hơn ba năm, bản nhạc mà vị nhạc sĩ gia sư được mời với giá cao ngất ngưởng ấy khi Vũ yêu cầu quá tha thiết đã chìu theo mà ngắt ra từng phân đoạn muốn Vũ đàn như một bài tập chạy ngón. Theo lời vị nhạc sĩ ấy, dù có năng khiếu nhưng Vũ sẽ không bao giờ sạch nước cản với kiểu học “chưa đi đã chạy” này, mà cái vị trí đứng đầu huyện trăm công ngàn việc của Vũ cũng không cho phép tập trung hơn. Thoạt đầu cái ý mời gia sư về nhà dạy đàn cho cả hai vợ chồng chỉ vì một cán bộ đàn em tặng vợ Vũ cây dương cầm, loại đàn đắt tiền và có hệ thống âm giai phong phú, phức tạp nhất trong các loại đàn, gọi là biết ơn về vụ đất đai vừa qua và “biết chị nhà rất thích cây đàn này”. Thật ra ý nguyện có được cây dương cầm của ông trưởng chi Thanh niên ngày xưa là ý nguyện của Vũ. Người đàn em của Vũ biết rõ điều đó nên đã vất vả theo đuổi thực hiện hết thủ đoạn này tới thủ đoạn khác mới có được. Một lý do nữa ngoài chuyện tình cảm sâu kín của Vũ còn do tính tình của vị đứng đầu huyện này, ai cũng biết Vũ là người thích hoàn hảo, hoàn hảo hoặc cố ra vẻ hoàn hảo suốt ngày và từng giờ, từ việc kí chuyển một công văn đến chuyện xuất hiện ra mắt cử tri, cả trong những bàn nhậu với đồng sự cùng cánh. Vũ thích và muốn tạo dựng một hình ảnh chủ tịch văn võ song toàn, tính tình này của Vũ như một sự bù trừ cho tính nhút nhát thâm căn cố đế một thời thanh niên của mình.
Các ngón tay của cả hai vợ chồng cứ đơ đơ lóng ngóng, học trước quên sau, những nốt nhạc chui từ tai này qua tai khác, những âm giai chỉ là những chuỗi âm thanh kèn kẹt đùng đục khó tính trơ lạnh. Người lớn tuổi như vợ chồng Vũ mà phải tập luyện để có được đôi bàn tay mềm dẻo, có được đôi tai biết thẩm âm thật khó.
Vậy mà đêm nay nó như người chết sống dậy hay như một hoài thai định mệnh. Sự sống và ma lực duyên phận gì với nhau mà đêm nay căn phòng Vũ tràn ngập ánh trăng, mát lạnh hồn trăng. Bàn tay Vũ cuống cuồng bấn loạn, tâm hồn Vũ lúc chìm trong nỗi sầu man mác lúc lặng đi trong cô đơn tận cùng, chỉ có âm thanh huyền bí của bản nhạc cứ bật lên réo rắt như phát ra từ một cõi xa xôi nào đó. Chợt khựng lại. Chỉ có trăng suông thì chưa đủ làm nên đêm tình ái. Chỉ có trăng suông thì tâm hồn ta mãi chỉ là một bến đợi, đợi đến mãn kiếp. Những gì lắng đọng qua tháng năm của một người chờ đợi? Một bó hồng móc hờ trên chiếc bản lề rỉ sét? Một tiếng mở cửa khẽ khàng chỉ có trong tưởng tượng khát khao? Một cánh chim vụt bay đi giận dỗi để lại vệt sáng ảo mờ trong đêm? Không gì cả. Nói cách khác chỉ là những bông phong du ảo mờ, mỏng manh đến như vô ảnh. Nhắm mắt. Nhắc nhở hơi thở mình dịu nhẹ, dịu nhẹ, những ngón tay Vũ bị điều khiển rải nhẹ trên phím, lướt nhẹ, lướt nhẹ… Trong lớp lớp trầm tích ánh trăng, Vũ quay ánh mắt vào bên trong, lắng, thật lắng để khẽ khàng mở ngăn tủ kí ức chính mình, càng cố gắng càng chỉ nhìn thấy những hình bóng ảo mờ lung linh thoắt hiện lên thoắt lại biến tan lộn vòng theo dải âm thanh kêu đòi thao thiết, khiến con người chết lặng yên từ sâu thẳm, chết lạnh cóng giữa sa mạc cát cháy, chết thiêu tro giữa hồ xanh nước mát. Từ cõi ấy, những bông phong du giờ đã chịu hiện dần, những đốm trắng vẫn còn nhảy nhót, lung linh, bay lượn qua nhau, kí ức đang chơi trò trốn tìm ngày xưa nhưng dù sao những bông hoa bé xíu mỏng manh tinh tuyền ấy cũng đã hiện lên. Phong du trắng trời. Phong du trắng. Chỉ có phong du ngày ấy mới trắng như vậy.
Các ngón tay Vũ đột ngột dập mạnh xuống bàn phím rồi lặng đi như đêm đã thật sự đi vào khuya vắng. Chợt lại giật mạnh, giật mạnh, các cơ bắp trên thân thể Vũ căng cứng như chuột rút đau buốt rồi đột ngột giãn ra mềm nhũn, từng chùm âm thanh nổ bùng trên bàn phím. Lại nhanh chóng lặng lờ… Ước muốn dẫn con người đi, bào mòn con người mà không bao giờ cho con người ấy tới nơi, cứ cố sà xuống đậu lại nhưng rồi nhanh chóng bay đi, lả tả bay đi cùng trăm ngàn sợi trắng khô mỏng, như triệu triệu bông trắng khô mỏng, như tỷ tỷ nhân sinh khô mỏng rơi lao lung vào trong hư vô.
II.
Tôi nhặt từ tâm hồn tôi bông cỏ trắng
Trao tặng em đầu những ngày xuân,
Bông cỏ trắng trinh nguyên
Vừa bay vừa nở
Chỉ nhọc nhằn ở lại
Chỉ trĩu buồn cư trú đáy tim…
Ở thị trấn này ai ai cũng biết, cũng thường nhắc về Hiền là mối tình đầu của Vũ. Vũ im lặng giữ một bí mật trong lòng: Đó mãi mãi là mối tình đơn phương vô vọng, một tình yêu thầm lặng qua năm tháng nhưng không bao giờ tới đích của ông. Cô tú Hiền là con ông trưởng chi Thanh niên ngày xưa. Ngôi nhà duy nhất ở thị trấn này có đàn dương cầm. Đêm đêm, gã trai si tình tên Trần Vũ ngồi gục bên hàng rào để nghe tiếng đàn phát ra từ ô cửa sáng đèn. Có đêm trăng rất nhiều bông phong du từ đâu bay về, phong du đậu cả trên tóc, trên mặt, Vũ hứng được một bông cỏ trắng như tơ ấy trong lòng tay rồi lại tiếp tục dán mắt lên vùng sáng ấy, hướng tai về vùng sáng ấy, Vũ chìm đắm trong âm thanh dìu dặt man mác của bản xô- nat Ánh trăng mà cô tú tên Hiền đang chơi, Vũ tin những bông cỏ trắng kia chính là tín hiệu tốt lành. Quả thật đó là đêm duy nhất cô tú Hiền sau khi kết thúc bản nhạc đã bước ra mỉm cười với kẻ si tình ở góc rào. Ngày nghe tin dữ: Hiền bị băng huyết đột ngột qua đời, Vũ đã khóc cạn nước mắt, vật vã không thiết đến ăn uống, người gầy rộc đi. Vũ đợi lúc vắng người mới ra ngồi ủ rũ bên mộ Hiền, dân thị trấn này ai cũng thấy, ai cũng xót xa, rơi lệ trước hình ảnh buồn bã thương hại đó.
Sau, người ta nghe tin Vũ đã lên “Xanh”. Năm bảy lăm, Vũ trở về trong đoàn quân tiếp quản địa phương. Cô giáo Hậu là con cái nhà gia thế nhất nhì xóm biển lâu đời. Nhất Bát Tì, nhì Thất Ngà. Ông nội cô được xếp vào hàng thất phẩm đã qua đời, gia đình cô là đối tượng được lưu ý nhưng vì cô Hậu tích cực tham gia chiến dịch diệt giặc dốt, xông xáo trên mặt trận bình dân học vụ, được đi báo cáo thành tích trong mấy kì đại hội liền nên tổ chức cũng đồng thuận cho hai người kết hôn. Mấy mươi năm gá nghĩa sống với cô giáo Hậu, Vũ cứ bị chứng “đồng sàng dị mộng”, vẫn tôn trọng tình nghĩa vợ chồng nhưng tình yêu thì đã trót trao hết một lần theo bông phong du cỏ trắng ngày nào.
Trần Vũ rời ghế, nhạc thơ là thứ gì mà ám được cả vào con người sắt thép “lí trí” như Trần Vũ? Vũ lầm bầm đọc thơ rồi lầm bầm tự hỏi. Vũ chắp tay sau lưng đi qua đi lại cả mấy mươi phút, rồi áp người ra thành cửa sổ, rồi lại đi, rồi lại dựa vào thành cửa sổ, mắt trắng dại dán vào một nơi xa xăm nào đó. Vũ đi cả cây số đường trong căn phòng hẹp, chốc chốc ông lại quơ vội chai “Johnnie Walker” loại mạnh nhất, ngửa mặt, lắc lắc dốc dốc liên tục, rượu chảy tràn lên cả mắt cả mũi, đôi môi ướt sũng rượu mấp máy chậm dần. Vũ lại vật vờ đi, những viên gạch men bóng lộn như lún xuống in bóng, hằn dấu từng bước chân bâng quơ mà nặng nhọc của Vũ. Và trong cái vòng đi ma dẫn cuối cùng ấy Vũ ngã bẹp xuống nền nhà…
Vũ đưa tay hứng mãi, chụp mãi về phía trước với lòng tay trống không. Nhưng với Vũ lúc này, ông đã thấy thực, thấy mồn một. Bầu trời phong du chỉ hiện ra với kẻ si tình. Hàng trăm sợi mỏng manh cõng một cái hạt nâu xấu xí tựa ước muốn của Vũ luôn muốn bay lên nhưng cứ vướng bận cái thân xác nâu đen vàng đỏ tím tái tím bầm. Giải pháp cuối cùng cho ước muốn là gì? Trong cơn mê man do say xẩm đột ngột, Trần Vũ mơ màng cố bắt chước giọng điệu của một nhà triết học, Vũ lên gân nghiêm túc trầm trọng hóa ngôn từ như cái cách ông thường làm mỗi khi họp giao ban vào sáng thứ hai hàng tuần, nhưng bây giờ sau khi thều thào được trọn câu hỏi thì ông cũng vừa nhập thổ, ngất đi.
III.
Cô giáo Hậu lọt thỏm trong chiếc ghế da màu mắm ruốc, khuôn mặt nhăn nhúm, méo nhàu không khác gì lớp da bọc ghế. Căn phòng chợt sụp tối nhợt nhạt.
Vợ Vũ là người đàn bà câm lặng. Không ai biết được cô giáo Hậu ít nói hẳn đi từ lúc nào. Ngoài những giờ giảng bài bắt buộc ở lớp, thời gian còn lại cô Hậu trốn chui trong chiếc áo dày câm lặng. “Để khỏi đau thêm”, “Tự bào mòn khả năng của cơ thể để tự chữa trị”, “Để giảm bớt khả năng tinh thần”, “Để níu kéo được ngày nào hay ngày đó cái gia đình tro tàn ghẻ lạnh này”… Không biết bao nhiêu lý do gặm nhấm tâm hồn cô Hậu, hút hết sức sống cô Hậu. không biết bao nhiêu suy tư, lý lẽ đóng khung con người cô trong chiếc áo câm lặng mòn mỏi ngán ngẩm không còn cả những buồn vui thông thường của một kiếp người. Gần như tất cả âm thanh, mọi lời nói đều thừa trong nhà này, tê liệt, chỉ sự tê liệt là ngự trị lên người, lên vật, lên các khoảng trống trong nhà.
Vậy mà những âm thanh bật từ những ngón tay Trần Vũ vang lên trong căn phòng tối nay cứ vọng âm đến từng ngóc ngách, rền rền, len lỏi rồi vang nhói ngập tràn trong tâm hồn tưởng chừng đã khép kín của cô giáo Hậu.
Cô giáo Hậu ngã dụi đầu vào thành ghế, sau vài hơi thở dài hắt ra, khuôn mặt gầy gò vốn xanh xao càng bợt nhạt đi, bất động, hơi thở nhẹ như không thở rồi cái nhịp yếu ớt ấy cũng đều dần đều dần. Cô đang giận những việc làm của chồng mình trong thời gian gần đây. Cô giận Vũ đã cho người khai thác cát đen băm vằm cái xóm biển lâu đời bình yên của cô, cả dọc dài bãi cát rừng dương bỗng bị đào xới, mặn hóa, rồi hoang hóa, rồi cát bay mịt mù… Cô không còn mặt mũi nào mà về xóm biển, mà gặp lại bà con dòng họ thân thuộc. Trong giấc mê man, cô thấy người ta đang ghép mặt cho mình. Phải trải qua mười tám cuộc phẩu thuật lớn nhỏ, đến lần cắt chỉ cuối cùng người ta mới cho cô soi gương. Một bộ mặt mới toanh trơ ra gượng gạo xa lạ nhưng không còn rúm ró như khuôn mặt cũ. Trên một cái khay i-nox sáng bóng, cô liếc thấy khuôn mặt cũ bèo nhèo dị hợm máu me, không có mũi, hai hốc mắt trống hoác như hai vùng đen thăm thằm. Đó là khuôn mặt người ta vừa vứt ra sau cuộc giải phẫu cuối. Một bác sĩ nào đó quần áo trắng toát thì thầm nói sẽ giúp các dây thần kinh phát triển trở lại, máu sẽ lưu thông tốt hơn và các cơ sẽ cử động bình thường. Cô không dám tin vào những lời hứa ấy, cô chợt thấy sợ, mồ hôi lạnh tuôn túa nhòe nhoẹt hai bên thái dương làm cho vị bác sĩ phải rút cả khăn mùi xoa, rồi vạt áo blu của mình lau liên tục hết bên phải lại bên trái cho cô. Chợt tay chân cô run lật bật, đôi môi lập bập lạnh, cái lạnh đâu đó từ bên trong đang tràn ra, cô gào lên: “Trả khuôn mặt cho tôi!” Cô nhào tới cái khay i-nox, vung tay bứt hết các dây chuyền dịch quanh đầu…
Cô lại thấy mình đang lang thang trong dòng người đông đúc giữa chợ. Cô sựng lại khi nghe một con bé hỏi người mẹ: “Mẹ ơi! Phải con quỷ đó không mẹ?” Cô Hậu loay hoay tìm cái giấy chứng minh trong túi rồi lao theo tìm con bé, cô muốn nói với bé rằng “Cô đây, khuôn mặt trước khi giải phẫu của cô đây mà, cô là con người đàng hoàng chứ không phải quỷ đâu…” Cô lao đi tìm con bé trong dòng người, cô vừa chạy vừa dáo dát tìm, tìm mãi, thấy hai bím tóc gần giống là nhào tới hăm hở nhưng liên tiếp thất vọng vì không phải. Lại thất vọng. Lại sụp xuống. “Không thể để cho cô bé ấy tưởng mình là quỷ” Nghĩ vậy, cô Hậu lại bật dậy lao đi. Vừa thở hổn hển vừa gọi: “Cháu ơi! Bé ơi! Hình cô đây này, cháu xem… cháu xem…”
Trần Vũ bàng hoàng dụi mắt khi nghe tiếng ú ớ của vợ. Vũ lồm cồm bò dậy với tay đập đập rồi lay mạnh đôi vai gầy gò. Cô Hậu ậm ừ, từ từ mở mắt, một thực tại tê liệt trước mắt rõ dần, đối với cô nó còn ngán ngẩm hơn cả cơn ác mộng vừa rồi, cô đưa tay sờ lên trán, lên mũi, lên mắt mình như một thói quen làm những động tác bâng quơ của người vừa ngủ dậy. Sống với người không yêu mình và cả mình cũng kinh tởm thì ngày tháng trôi qua là thời gian của những cơn ác mộng triền miên.
Từ ngày Trần Vũ đặt bút ký vào bản hợp đồng san ủi trá hình khu nghĩa địa, thật ra là múc đất bán cho những dự án khổng lồ đến nay, lòng Vũ quả thật bất an. Vũ thật sự bấn loạn khi bà Sáu, một người bà con bên nội xuất hiện ở văn phòng ủy ban huyện. “Đồng tiền làm mù mắt ông hay sao mà ông lại cướp cả đất của người chết, hả? Hả!? Hả!? Hả!?” Trần Vũ biết tính bà Sáu nên vừa rót nước vừa xoa dịu: “Là chủ trương… là quy hoạch… con có muốn vậy đâu”. “Tôi dốt nát hông hiểu chủ trương chủ triết gì ráo, ăn cướp đất của người chết là tội tày đình, trời không dung đất không tha. Tôi nói cho mà biết: Ông liệu mà sám hối đi, dừng lại đi, kẻo muộn, kẻo muộn ông chủ tịch à… Trần Vũ để bà nói cho hả, ai chửi cứ chửi, ai làm cứ làm”. Nghĩ trấn an mình vậy thôi chớ Trần Vũ biết bà Sáu này đã từng dang tay dạng chân ra cản đường xe tăng khi chúng kéo xác một đồng chí của anh trên đường. Bọn lính xe tăng nhảy xuống chỉa súng, bà nắm luôn họng súng dí vào ngực mình. Bà trừng mắt hét lớn: “Dừng lại! Dừng lại ngay!” Khi chiếc tăng chịu dừng hẳn bà mới tuôn một thôi một hồi: “Tôi không biết Việt cộng là ai, tôi không bên này bên kia gì cả, nhưng người ta chết rồi không nên ác như vậy. Dù sao mình cùng da vàng mũi tẹt với nhau, Nghĩ cho cùng cũng con một nhà. Đừng, tôi xin các ông đừng hành hạ người ta nữa! Tôi biết tâm các ông không ác nhưng nhất thời bị ma xui quỷ khiến mà làm vậy. Thả người ta ra để bà con chúng tôi đem chôn. Bà con đâu! Tháo dây mau để mấy ông đây còn đi làm công vụ!” Chính tay bà bế xốc cái xác lên chịu một mình một đầu khiêng đi. Bọn lính không biết do bà đánh trúng huyệt hay chúng chưa chuẩn bị cho tình huống bất ngờ này nên không phản ứng gì, cứ đứng đực ra đó một lúc rồi lên xe đi mất. Trần Vũ nhớ hết, giao liên đã kể từng chi tiết cho Vũ nghe.
Bà Sáu lại tuôn một thôi một hồi trước mặt chủ tịch Vũ, rồi trước khi cầm cái nón lá te te đi ra khỏi cổng huyện, bà nhìn xoáy Vũ: “Ông chủ tịch huyện à, ông không nhớ để tôi nhắc cho mà nhớ. Cái mộ quét vôi trắng mới bị sụt lở đổ gãy chính là mộ của con Hiền đó. Con nhỏ linh lắm, tội nghiệp. Không ai dám nói điều đó với ông hả? Người ta sợ chớ già này… Ông biết rõ mà…
Mộ Hiền sao? Mộ Hiền sao? Mộ Hiền sao!? Trần Vũ thấy đất dưới chân mình đang nghiêng xuống, sụp xuống. Hình ảnh ngôi mộ toác làm hai lóe lên trong trí não Vũ, đập vào trí não Vũ cùng lúc với tiếng sét rền động. Vũ nhớ lại trận say vật vã tối qua, nhớ lại cái cách chơi đàn như bị ma khiến của mình mà xởn gai ốc. Vũ lim dim mắt tập trung để cố xua cái dòng chảy cảm xúc đớn đau tự nhiếc móc mình ra khỏi đầu nhưng càng cố xua đuổi hình ảnh ngôi mộ lở lói toác hai lại càng bám riết, dính chặt, hình ảnh bộ xương người gãy vụn tung tóe lại càng bám riết, dính chặt. Những chuỗi âm thanh chợt dâng lên buốt nhói màng nhĩ, rồi bùng vỡ, rồi phình lớn, những âm thanh chuyển thành những khối tròn nhòe nhoẹt trăng trắng, những cặp mắt quở trách tượng thành, nổi lên sắc nét trên khuôn mặt tối tăm. Tất cả đang chực quật ngã Vũ, bóp siết Vũ, còng cùm Vũ. Vũ đưa hai tay ôm lấy đầu. Căn phòng thực sự không còn ánh sáng. Vũ chìm trong tiếng đàn bản “xô-nat Ánh trăng”, tiếng đàn ma nhập của mình. Ánh trăng hiện lên lạnh băng trong tâm khảm Vũ. Những bông phong du lửng lơ, lửng lơ rồi đột ngột bấn loạn, bay vòng, giật, quắn, tung lên, liệng xuống, cả góc trời bấn loạn những bóng đổ của âm thanh. Trần Vũ chới với đổ vật xuống ghế như một thân cây tự mục rã, như một… thân… cây… tự… rã… mục. Rã mục. Rã mục. Rã mục.
Chân núi Tà Cú, tháng 4/ 2010
PHẤN
Chạng vạng, mắt thường quáng gà, lại là thời điểm người nuôi ong làm việc cật lực, họ sống trong chạng vạng nhiều hơn. Họ phải tất bật cho ong “ăn” ngay trong cái chốc lát đó, không được sớm cũng không được muộn. Sớm thì ong ở các thùng khác sẽ tấn công thùng nào được cho “ăn” trước. Muộn thì ong sẽ không “ăn” được, không tìm được phao, ong sẽ rớt vào nước đường. Phấn là một người đàn bà nuôi ong nhiều năm, là người làm việc phần lớn vào các buổi chạng vạng, hơn ai hết chị hiểu đồng hồ sinh học của chị chỉ giờ cao điểm vào lúc ấy. Xong việc vào giờ này, người ta thường nghĩ về bản thân mình nhiều nhất. Khi bóng người dài ra, sắp tan vào bóng đêm là khi con người bất nhất: tâm hồn hoa, thân xác vật. Cảm giác vừa dâng trào rạo rực lại vừa khước từ chị trong các thời khắc chạng vạng. Lâu dần rồi sẽ quen, lâu dần rồi sẽ quen, lâu dần rồi sẽ quen... Chị luôn nhắc nhở mình hy vọng... Lâu dần mình sẽ quen.
... Lưỡi lướt nhè nhẹ, liếm phớt lớp mật xoa da mặt Phấn. Chị tỉnh hồn, bước ra khỏi giấc ngủ. Chị vẫn giả vờ nhắm mắt, bất động. Lưỡi lại lướt bên má còn lại. Da thịt chị rân rân, vùng cảm giác sâu kín đã ngủ quên lâu nay chợt thức dậy. Một đường ấm nóng nữa, tới vành môi thì lưỡi ngập ngừng dừng lại. Phấn cố kềm chế để khỏi ưỡn người lên. Chị không dám cử động vì sợ mất đi những cảm giác mà rất lâu, rất lâu rồi chị chưa sống lại trong nó, dù là khoảnh khắc thoáng qua. Một cái gì đó nóng và nồng khẽ chạm môi trên, chỉ khẽ chạm viền môi rồi lại thôi. Chị chờ đợi. Chị nín thở chờ đợi. Chị nghe hơi thở gấp gáp phả lên mặt. Lưỡi đột ngột rà lượn mạnh bạo, tham lam quấn quanh môi, chỉ liếm lớp mật mà chị làm mặt nạ dưỡng da trước khi ngủ, còn môi chị vẫn đang hứng chịu cơn gió lạnh phũ phàng trêu ngươi. Phấn bàng hoàng choàng người dậy. Không có ai. Không bóng người. Không tín hiệu gì là vừa nãy đây đã có một chiếc lưỡi mềm nóng và nồng nàn tiếp xúc với chị. Chị rà tay lên khuôn mặt rít trịt của mình thì rõ ràng một số chỗ lớp mật đã mỏng đi. Chị muốn tự cười vào cái cảm giác rân rân như thật vừa qua. Có lẽ chỗ lớp mật mỏng đi ấy cũng là do chị đắp xoa không đều tay? Dù sao chị vẫn cố tin. Có ai đó, chắc chắn có ai đó đang yêu chị trong lén lút, trong sợ hãi. Cảm giác của chị đã bị khước từ; chị thốt lên khe khẽ, như là thái độ khinh miệt cho trí tưởng tượng của mình: Phấn ơi là Phấn!
Chị biết phấn chẳng phải là những hạt ánh sáng trên thiên đường rơi xuống trần gian tích tụ trong hoa. Không, muôn ngàn lần không, chị không còn dám tin những mộng tưởng của một thời con gái ấy. Những thân phận đã nhuốm đủ đầy trần ai nhưng tạo hoá trớ trêu lại đặt vào trong hoa thì có, nó chỉ mang một phần sự sống mong manh, mong manh đến mức tự nó thì không là gì cả. Khi còn trẻ đôi lúc chị còn tưởng tượng bao nhiêu là phấn hoa khắp cùng trời đất đã tụ hội về mà tạo ra vóc dáng hình hài bằng xương bằng thịt của mình. Mình là phấn. Lớn lên, Phấn là kẻ luỵ tình. Phấn chìm lặng trong bầu trời tình luỵ. Phấn xáo trộn và đổ vỡ. Phấn khát khao thoả mãn và mong muốn chìm ngập trong cảm giác được yêu...
“Làm hoa để người ta hái
Làm gái để người ta thương”
Hoa tàn thì nhạt phấn phai hương...
Phấn tàn thì là gì đây?...
Phấn rùng mình với bao ý nghĩ, bao liên tưởng chẳng đầu chẳng đuôi gì nhưng cứ tuôn tràn trong lòng. Phấn mở mắt thật to nhìn căng ra màn đêm đặc sệt, chị lắng nghe tiếng nước mưa rơi khẽ khàng trên lá, có giọt đọng đầy buông rơi những tiếng bục bục lách tách xuống nền nước ứ trong vườn. Chắc cơn mưa đêm trong khu vườn này cũng sinh ra từ trần tục nên cơn mưa mất trinh vì bụi bặm đục ngầu. Có một thời chị cứ ngỡ giọt mưa trong veo, cũng như chị đã từng tin rằng mình là hạt ánh sáng giáng trần. Chị thật sự thấy chua xót rồi thở hắt ra một cái thật mạnh, chị quấn chặt mền nhắm mắt lại.
Đêm sau. Đêm sau nữa. Cứ đêm đến là Phấn đắp mật lên mặt làm chiếc mặt nạ dưỡng da. Đêm nào chiếc mặt nạ mật ấy cũng đưa chị tới trước ngưỡng cửa của căn nhà cảm giác, rồi đóng cửa đánh rầm một cách ác độc...
&
Chạng vạng là thời điểm mắt sáng ngời nhưng không thấy gì vì khi bóng dài ra người ta quay vào bên trong. Ma ái tình đam mê là một loại vua không ngai, ai cũng nói, cũng tin nó ngự trị đâu đó trên trần gian này nhưng không ai thấy bao giờ... Phấn quá mệt mỏi vì ngày đầu dựng trại nhưng những ý nghĩ về ái tình cứ bám riết lấy chị, con người luôn bị hành vì thứ mình thiếu mà.
... Những chú ong thám thính lượn liên tiếp mấy vòng số tám rồi đáp xuống trước cửa thùng. Trong thoáng chốc tất cả vội vã bay đi, tiếng vo vo vu vu lan toả khắp khu vườn, đàn ong đã nhận được tín hiệu về một vùng phấn dồi dào và khởi động hành trình lấy phấn se tổ. Không gian dày đặc những dấu chấm li ti và âm thanh ngân nga quen thuộc. Vài con đã nhanh chóng bay trở lại, chân con nào cũng như mang những đôi ủng phấn màu cam. Phấn đứng quan sát chăm chú, chị đảo mắt một vòng vườn đào, cầu mong trời yên gió lặng, hơi an tâm vì lá trong vườn chỉ khẽ lay lay, im phăng phắc cũng sợ lắm, đó là sự im lặng chuẩn bị giông bão. Trời đất thật giống con người, cái gì trong trời đất có thì trong từng con người cũng có. Phấn lắc đầu quay bước vào trại. Vừa dọn gọn lại những chiếc khung dính sáp nham nhở, chị vừa nhanh tay gom mấy que củi nhỏ vương vãi cho ra phía sau, chuẩn bị bếp lửa đầu tiên của lần hạ trại này.
“Chào người về theo mùa bông!”
“Ủa vậy mà em tưởng... phải nói ‘về theo mùa bông trái vụ’.” Thanh long chong điện ra trái vụ...
“Trái, nhưng mà nhiều người làm thành ra thuận.”
Người vừa lên tiếng hết sức văn hoa ấy là một trung niên mù đeo kính râm. Ông ta đứng lại một thoáng lắng nghe tiếng bước chân của Phấn rồi phăm phăm bước tới.
“Sao nói hôm qua ra?”
“Có ai đợi chờ gì mình đâu anh, cứ thủng thẳng.”
“Có chớ. Có người ngồi lắng nghe tiếng chân em suốt cả ngày.”
“Thiệt sao?!...”
Mùa phấn, đương nhiên không phải là mùa lấy mật rồi, đó chính là mùa tăng đàn, gầy thêm ong chúa, củng cố lại lực lượng ong thợ. Chỉ sau tháng hai cho đến giáp tháng mười một, chị và bầy ong mới có mặt ở những vườn cây có hoa như vườn thanh long cạnh vườn đào lộn hột này.
Bếp lửa thả một ngọn khói mỏng manh lơ lửng lên trên những tán lá thưa. Hai người ngồi bên nhau lặng im. Đầu óc Phấn trống rỗng, chị đã làm tất cả những gì phải làm, giờ bắt đầu thấm mệt. Bốc những thùng ong trong đêm. Ngồi gật gù trên chiếc xe chở ong chạy gần hai trăm cây số. Liên hệ, xin phép chính quyền địa phương. Chuyển thùng ong xuống đặt ngay ngắn trên các giá sắt. Đóng cọc, giăng bạt. Lăn các thùng đường vào trại. Pha đường cho kịp buổi ăn chiều chạng vạng của ong... Đôi lúc Phấn không thể hiểu nổi sức lực ở đâu ra mà mình đã làm được chừng ấy việc. Hình như khi cha mẹ đặt cho ta cái tên thì đã vận vào ta một cái nghiệp nào đó rồi. Phấn nghiệm thấy trường hợp của mình thì đúng quá.
Ba trăm thùng ong không phải là một đàn lớn lắm nhưng đó là tất cả gia sản của Phấn. Thật ra chẳng có lý do gì để Phấn yêu đời đến mức luôn chân luôn tay như hôm nay. Phấn chẳng còn muốn nhớ đến cái gia đình đã tro lạnh từ lâu của mình. Lấy chồng chín năm là đúng chín năm ngồi chờ chồng. Cơm nguội rồi hâm lại, rồi lại nguội. Cái lồng bàn màu đỏ đậy mâm cơm là hình ảnh Phấn nhìn vào nó nhiều nhất trong chín năm mang lấy đời sống làm vợ. Phấn có lúc ngớ ngẩn nghĩ rằng mình đã nhìn nhiều đến mức làm bạc màu cái lồng bàn ấy. Nghe tiếng xe giảm ga ngoài đường là chồm người dậy nhưng rồi lại thất vọng quay vào. Có hôm, đợi mãi, khoanh người trên bộ xa-lông ngủ lịm đi rồi giựt mình, ra nhìn trời thấy khuya lắc khuya lơ, làng xóm chìm trong giấc ngủ, Phấn chỉ biết đánh một hơi thở thườn thượt ngao ngán rồi thui thủi quay vào nhà. Mà chẳng phải lí do chính đáng gì cho cam, bữa nào cũng chỉ một nội dung là nhậu, là lai rai, là karaoke. Vợ chồng người ta có thể gây gổ, xúc phạm nhau đến tận cùng rồi sau đó làm lành với nhau, lại yêu thương nhau như những ngày bắt đầu mới mẻ, đó là chuyện cơm bữa của nhiều gia đình, nhưng người ta không thể sống chung với một người chồng không thèm đếm xỉa gì đến mình. Sáng, anh ta đi từ sớm. Khuya, anh ta về trong trạng thái say khướt. Phấn cố chiều chuộng anh ta bằng mọi cách nhưng chẳng thay đổi tí gì và thật sự chị cũng có quá ít cơ hội. Phấn tìm cách lý giải nhưng rồi cũng chẳng lý giải được gì vì chẳng có thước tấc nào đo nổi lòng con người. Có khi anh ta mê muội những trò nhậu nhẹt, nghêu ngao ấy chỉ vì anh ta mê muội nó, thế thôi. Quyết định chia tay đến trong đầu Phấn như giọt nước tràn ly, nó nhanh chóng trở thành một quyết tâm sắt đá: Làm lại cuộc đời. Chị tin có những người đàn ông biết yêu thương đang chờ đợi mình. Chồng chị là giám đốc công ty thu mua mật ong. Anh ấy sinh ra trong một gia đình có nghề lấy mật lâu đời ở cực nam đất nước. Bà con dòng họ anh bây giờ vẫn còn sinh sống quanh khu chợ Kramuôn So, tức chợ Sáp-Ong-Màu-Trắng. Ông cố nội anh là thợ gác kèo “ăn ong” chuyên nghiệp từ thời người cháu sáu đời của Mạc Cửu là Mạc Tử Khâm đấu tranh đòi Krautheiner, thống đốc Nam Kì, trả nguồn lợi ong cho dòng họ gia tộc của ông ta. Cha anh đấu thầu lô, làm ăn phất lên, là người luôn đóng vai trò Tằng Khạo, một vị trí ở bậc nhất trong “Trại ăn ong” được cất hàng năm. Truyền thống gia đình là vậy nhưng người chồng của chị đã sa đà vào chốn ăn chơi trác táng, bỏ mặc công việc, bỏ mặc vợ ở nhà. Vợ chồng cưới nhau xong là gia đình hỗ trợ thành lập cơ sở nuôi ong và mua bán mật lớn nhất lúc bấy giờ ở miền Đông nhưng cho đến khi Phấn quyết định chia tay thì công ty ngấp nghé trên miệng vực của sự phá sản. Phấn bỏ lại sau lưng tất cả và trở thành người nuôi ong du mục từ đó.
&
Chạng vạng là ranh giới giữa khoảnh khắc và trăm năm... Phấn vẫn tiếp tục miên man trong dòng suy nghĩ.
... Phấn vẫn phải sống, vẫn phải bám vào cái nghiệp du mục. Từ đầu năm đến nay, đàn ong của Phấn đã di chuyển hơn mười nơi. Thoạt đầu, trong những chuyến đi dài ngày lùi lũi trong cô đơn lạnh lẽo, trong nắng gắt mưa mù triền miên, Phấn còn mong đến tháng mười một, nhìn thấy bụng con ong vàng óng lên là mừng, là đã vào mùa quay mật để kết thúc một năm rày đây mai đó bầm dập, nhưng rồi bây giờ chị không còn cảm giác trông đợi ấy nữa. Đi cũng chính là cuộc sống của chị. Bầy ong chính là những người bạn thân thiết của chị. Con ong chúa ở thùng số chín đã quá sồ sề, vô dụng, bị bọn ong thợ khiêng ném ra ngoài. Một lần lỡ cho ăn trước giờ chạng vạng, các bầy ong xông vào thùng giành đường của nhau, những trận chiến ác liệt xảy ra, xác ong chết vốc từng nắm trên tay, chị khóc sạch nước mắt. Một mùa phấn, cách đây bốn năm, hơn nửa bầy ong tự dưng rụng cánh rồi ngã lăn ra chết. Khi lim dim mắt đã thấy cái hố “trắng tay” hiện ra ám ảnh, tưởng tất cả đã không thể cứu vãn, nhưng rồi Phấn phát hiện ra bầy ong bị một loài kí sinh giống như những con chí nhỏ tấn công. Muộn còn hơn không, chị chạy đôn chạy đáo bằng mọi cách để cứu được bầy ong còn lại... Tất cả chuyện về bầy ong, những sự cố, những được mất, vui buồn của bầy ong cũng chính là những câu chuyện được mất vui buồn của chính Phấn.
Phấn hoa, một chút gì đó thoảng nhẹ trong không khí, chỉ có những người nuôi ong như Phấn mới nhận biết, thường thì phải nhờ đến đôi chân của những chú ong. Chị không lí giải được khả năng đó, mà cũng hơi sức nào với những thắc mắc vớ vẩn như vậy. Chỉ có một điều làm chị thấm thía: Cuộc sống của chị là cuộc sống đi theo mùa hoa, mùa lá. Mùa thanh long, chong điện ra hoa, thì theo lấy phấn se tổ gầy đàn. Mùa lá cao su tiết mật lá non, mùa bông tràm đọng mật vàng rực, Phấn dẫn đàn bám theo từng khu vườn, có khi đi qua năm ba tỉnh để lấy mật. Quay mật bán xong lại mua đường dự trữ, lại gầy đàn, từ một thùng ba khung, rồi bốn khung, đến mức đạt sáu khung, lại quay mật, lại ra đi. Phấn đi mãi, chẳng còn nghĩ đến chuyện trở về, không còn có khái niệm trở về trong đầu. Cũng chính những chuyến ra đi bất tận như vậy đã hoá giải được nỗi hận, niềm đau trong lòng chị, tất cả đã được chôn kín xuống đáy tim, cho đến một ngày...
...Gió lồng lên xao xác vườn đào lộn hột, ong co cụm lại trước cửa thùng, một số con liều mạng bay lên nhưng đã bị thổi bạt trở lại, chân trơ ra như những chiếc que nhỏ, không giọt phấn. Hơn ba trăm thùng ong xếp thành hai cụm chín hàng như hai ngôi làng nhỏ heo hút buồn bèo, cư dân ong không buồn trò chuyện với nhau, không buồn chào nhau. Tất cả co cụm lại. Chỉ có gió rít, gió giật. Gió không trong veo như người ta tưởng, gió nhám xàm, thổi qua vườn rồi vẫn cứ nhám xàm, không thấy đâu vẫn cứ nhám xàm, thốc vào mặt thì như roi quất, lòn vào da thịt thì da thịt tấy đỏ cả lên. Bụi đất ở cái xứ sở này cũng nhiều như ma vậy, cũng ẩn mình ghê gớm như ma vậy. Người còn muốn ngã gục, huống là ong.
Phấn nhắc ghế ngồi bó gồi nhìn lên trời sao. Chị nghĩ mông lung về bầu trời sao trống rỗng vậy mà chứa bao nhiêu là sự sống, bao nhiêu là sự kì diệu. Lòng người hẹp hòi quá chắn chắn sẽ bế tắc. Phấn cố chuyển dòng suy nghĩ của mình về hướng yêu thương.
“... Hoan lạc thú, biệt ly sầu
Nỗi khổ chứa đầy tình tương tư.”
Phấn ngâm nga đoạn thơ nàng nghe được khi vào trong xóm lấy nước, truyền hình đang chiếu phim, ngày còn đi học, đọc truyện Kim Dung nhiều, thậm thà thậm thụt, lén lén lút lút cúi đầu xuống hộc bàn, vậy mà không nhớ mấy câu này, nay tự dưng nghe từ miệng sát thủ Lý Mạc Sầu trên phim lại không sao quên được, nó cứ bám dính như keo. Tại sao kẻ hận đời hận tình lại ngâm nga được những câu thơ hay như vậy?
&
... Bước ra từ căn phòng quay mật tối om, Phấn cởi bỏ bớt một lớp áo, chị phát hiện ra mấy con ong đã chui vào tận áo lót. Trong khi bắt những con ong táo tợn ấy, chị chợt nhớ về người đàn ông mù chủ vườn mà chị bám víu như một cứu cánh. Anh ấy đã làm chị thất vọng.. Phấn nghĩ là mình đã cuốn anh ta vào trò chơi “ăn ong liếm mật”, một trò chơi xuất phát từ những hoang tưởng cuồng dại của mình.
... Phấn bực mình vì anh ấy cũng chỉ biết liếm mật trên chiếc mặt nạ dưỡng da của chị rồi ngồi bần thần. Chị định ôm chầm lấy anh mà kéo rịt vào lòng nhưng nhìn thấy khuôn mặt ấy, mọi hứng thú đã nhanh chóng tan biến.
Đêm sau, không dừng ở mặt nạ mật, Phấn thoa mật lên khắp cả cơ thể, rốn chị ứ đầy mật, mật tràn xuống cả hai bên bẹn. Phấn cười thầm một mình rồi nằm ngửa ra trong lều. Khi nghe tiếng chân của anh mù đến, chị nhắm mắt, nén cho hơi thở nhè nhẹ, giả ngủ say. Anh chàng bắt đầu rờ mó nhè nhẹ rồi bắt đầu như mọi khi, khắp nơi trên khuôn mặt, trừ môi chị. Lại rờ mó. Lại tận rốn. Một cách tham lam. Phấn nghe cả hơi thở anh mù bắt đầu mạnh dần, nhanh dần. Cả cơ thể anh ấy bắt đầu vồ vập trên người chị. Người chị đã bắt đầu ứa ra, cảm giác tê mê đã lan khắp cùng khiến toàn thân mềm nhũn. Ngay lúc ấy, anh mù đã dừng lại. Chị cố chờ đợi thêm, nhưng vẫn không có gì ngoài những giọt nước nóng hôi hổi nhễu ra từ người anh ta.
Mật em đây, sao anh không uống?
Hồn em dâng, sao anh chẳng...?
Phấn kết luận: đa phần đàn ông chỉ thích mật chứ không biết yêu.
Bực mình, Phấn đã đuổi anh ta đi cùng với lời đoạn tình dứt khoát trong đêm: “Hãy coi nhau là bạn anh nhé!”
Ngày hôm sau, trước khi chạng vạng, Phấn đã thay mật bằng nước đường rưới lên khắp cơ thể. Và ngay lập tức từ hơn ba trăm thùng ong, tiếng vù vù rộ lên, đàn ong vỡ tổ. Chúng đậu đầy trên mặt chị, Phấn nhắm mắt lại, bất chấp. Chúng đậu đầy trên vú, trên rốn chị khiến toàn thân chị rạo rực. Cảm giác nhột nhạo dâng lên. Trăm ngàn mũi kim li ti châm vào da thịt, chỗ này nhói đau, chỗ kia nhói đau, chỗ kín nhói đau, chỗ hở cũng nhói đau. Phấn chồm dậy, cố mở mắt nhìn, chị hơi hốt hoảng với cảnh tượng cả cơ thể đã bị lũ ong phủ kín. “Con người ong” khẽ cựa quậy. “Con người ong” lưỡng lự, nửa muốn dừng lại cuộc chơi điên rồ này, nửa lại tiếc uổng những cảm giác rất lạ nên cố nằm xuống. Ảo tưởng. Chị tiếp tục ảo tưởng về sự thoả mãn, dù đau nhưng thoả mãn, còn hơn ta mãi mãi không được gần nó. Sự ảm đạm hằng ngày ở trại ong đã bị nàng giết chết bằng trò chơi ảo tưởng này. Chị bị cuốn vào dòng xoáy của những mũi kim. Da chị mòn đi bởi những mũi kim. Máu chị cạn đi bởi những mũi kim. Một thứ cảm giác diễm lệ hơn tất cả tình yêu diễm lệ trên đời này cộng lại. Chị đang có nó. Chị tự tạo ra nó. Chị muốn biết như thế nào là tột đỉnh để lý giải niềm bất hạnh của mình. Chị giận đôi mắt mù, con người mù. Chị dưỡng da cho trắng trẻo để làm gì khi có ý định ăn ở với một gã mù chỉ biết quờ quẫn rờ mó. Chị nhờ những đôi cánh côn trùng để trả thù đời, để lý giải chính mình. Phấn tưởng mình nhanh chóng kết thúc bữa ăn cảm giác này, sẽ bắt đầu cất tiếng hót của chim trời trong tột đỉnh cao xanh, trong ngất ngây đê mê, trong rùng mình mãn nguyện, nhưng chị đã lầm, cơn nhức nhối ê ẩm không chịu nổi chợt lan ra nhanh chóng. Cơ thể chị tan rã. Những hạt phấn tạo nên chị tan rã trong cơn đau buốt. Mắt hoa. Tai ù. Chị bắt đầu chao nghiêng. Chị bắt đầu mê man. Chị thấy rõ ràng bầy ong đã bay lên rồi tụ lại đen kịt trước mặt, bầy ong đã sắp xếp thành hình khuôn mặt, rồi mắt, rồi mũi... Đó là hình khuôn mặt người chồng cũ của chị, khuôn mặt mà chị đợi chờ ngày ngày đêm đêm trong chín năm làm vợ. Tại sao cứ phải thấy khuôn mặt ấy?! Hơn ai hết, chị hiểu tất cả những việc làm điên rồ của chị, kể cả sẵn sàng huỷ hoại cơ thể của mình cũng chỉ vì mục đích muốn trả thù người đàn ông đã phản bội tình yêu. Chị tức giận gào lên, chồm lên.
Phấn tỉnh lại, quằn quại gạt phăng lũ ong ra khỏi cơ thể. Ảo tưởng sụp đổ. Rã rượi. Chị ôm mặt khóc rấm rức, tiếng khóc nặng đến mức rơi xuống như những giọt mưa, cơn mưa đêm trong vườn chẳng còn trinh trắng.
&
Nỗi xót xa trong tình trường dù ở mức nào rồi cũng phải qua đi. Những năm đầu xa chồng đầy khó nhọc sẽ qua đi. Phấn còn phải sống với, trong thực tại của chính mình, vậy thì cớ gì mình lại để sự oán giận dẫn đường. Có lẽ Phấn cũng đã biết mình sai khi lấy sự thù hằn, hờn giận thế gian làm tâm mình, biết đó là độc tố của đời sống sao không tìm sự trống rỗng tĩnh lặng mênh mông như của bầu trời kia? Trung tâm của con người, đường đi của con người sao không phải là bầu trời vị tha mênh mông ngập tràn sự sống. Nghĩ được như vậy chị thấy mình như một hạt phấn lửng lơ trôi bên vô vàn những hạt phấn khác thơm tho ngào ngạt cả một vùng trời. Trong một đêm, vườn thanh long sáng rực bởi những bóng điện nối nhau mút mắt, bởi trăm trăm ngàn ngàn bông hoa trắng muốt trinh nguyên, mặt đất đầy hoa và ánh sáng như sự tụ hội của ý hướng tinh sạch, giải toả hết mọi áp lực, chị đã tự tha thứ cho mình với những gì xảy ra trong các buổi chạng vạng vừa qua. Đừng bao giờ xét đoán kiểm duyệt mùa xuân, dù là chỉ xét đoán, kiểm duyệt những bóng mờ của nó! Chị tâm niệm như vậy, từ chính cuộc đời mình.
Phấn hình dung đến cảnh sáng mai, trong ánh nắng sớm rẽ quạt lung linh của vườn đào, chị vừa vươn vai vừa mở nắp những thùng ong để chúng vù đi. Trên tầng xanh cao cao, chiếc lá non vừa nhú lên đã đọng giọt mật lấp lánh ánh sáng như ngọc của cây, những giọt mật cùi thanh sạch quý giá, không nhiễm độc tố. Sau những u uất, đông lạnh, xám trơ, mùa xuân của đất trời sẽ về thật đúng lúc. Mùa xuân của con người rồi chắc chắn về đúng lúc. Phàm điều gì xảy ra trong trời đất cũng xảy ra như vậy trong từng con người. Chạng vạng vừa rớt mất dạng vào cái túi không có thật, cái-túi-cảm-giác của Phấn, mà cũng là của vũ trụ mênh mông.
Dưới chân núi Tà Cú, 12/2008

Bìa tập truyện ngắn "Âm thanh đổ bóng"
MỊ LỰC
Uống đại dương no cứng nỗi ham mê
Vẫn chết khát bụng người nhai đá tảng
Bốp… Bốp… Có một bệnh nhân tâm thần chốc chốc lại vỗ hai tay vào nhau, miệng lại lầm bầm: “Vì tao, tao phải đánh mày, vì mày tao phải đánh mày, đánh tao…” Thoạt đầu, chẳng ai hiểu bệnh nhân tên O này muốn nói gì, sau một lúc, mọi người mới ồ lên: A, là vỗ muỗi. Chính vì câu đố buồn cười ấy của O mà trong bệnh án có ghi thêm “dị ứng với muỗi” rồi lại thấy thêm dòng gạch nối “muỗi chứ không phải mũi”. Ai đọc trang bệnh án này cũng phì cười vì sự lẩm cẩm của vị bác sĩ tâm thần, nhưng ai đã từng ở bệnh viện lúc ấy thì thấy thương cho ông bác sĩ già suốt ngày bị “tra tấn” bởi những câu chuyện muỗi, giấc mơ muỗi quái dị của bệnh nhân tên O này. Có thời điểm tưởng O hết bệnh, vị bác sĩ đưa cho O một trang sách tiếng Anh, O đọc rành rẽ, giọng chuẩn Luân Đôn làm cho vị bác sĩ gật gù liên tục. Bác sĩ hỏi chuyện thiền, trúng đài, O phát một thôi một hồi những hiểu biết sâu sắc không chê vào đâu được. Cũng vì câu nói tỉnh táo của O: “Thiền giúp uốn nắn đặc tính dân tộc và văn hoá” mà vị bác sĩ chắc ăn O hết bệnh. Khi O bước ra cửa, ông còn nhận xét : “Thành phần của nông dân miền Nam thật phức tạp, trước khi mặc áo nâu, họ mang áo trắng cổ cồn, quá nhiều người như vậy…”
Đầu giờ chiều, vị bác sĩ đem giấy xuất viện đến cho O thì không thấy O đâu cả, bác sĩ nhìn xuống gầm giường thì phát hiện ra O đang thu mình một góc.
-Anh làm gì ở đó?
-Suỵt suỵt… Để cho mấy con muỗi tìm chết cha nó luôn…
Vị bác sĩ lắc đầu cất tờ giấy xuất viện vào túi. Trong cái lắc đầu của vị bác sĩ có sự thất vọng, có cả nỗi buồn thương những gì bệnh nhân O đã trải qua, buồn thương cho cả những giấc mơ kì dị mà ông đã nghe bằng cả tấm lòng khi chính O kể lại vào những ngày đầu óc tỉnh táo.
&
…O lôi cái bàn ủi “con gà” trong góc bếp ra, dốc dốc tay trút hết lớp tro bụi, tẩn mẩn tỉ mỉ lau cái khớp nắp hình đầu con gà bằng đồng đã rỉ xanh, hì hụi ngồi quạt mấy cục than cho hừng đỏ, công việc mà hơn hai mươi năm nay ông chưa lần nghĩ tới. O hất nắp đầu gà đánh trốc một tiếng vừa nghĩ: “Chà, rồng lại mời tôm đến nhà, chuyện lạ đây.” Vừa đè mạnh tay đưa cái bàn ủi qua qua lại lại các nếp nhăn của chiếc sơ mi “si- đa” mới mua mùa lúa trước, O vừa nghĩ ngợi lung trong đầu. O khoác áo, vuốt thêm mấy lần vạt cho phẳng rồi băng bờ ruộng qua khu toà nhà cao lớn, sáng trưng ánh điện.
-Ô, người anh em, hàng xóm với nhau bao nhiêu năm…
-…Nhà lớn ngạch cửa cao…
-Ôi, của nả phù du, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau. Chẳng qua anh… Thôi, mời mời…
-…
… - Mây xứ mình lạ thiệt đó! Đêm mà mây cứ mồn một như giữa ban ngày. Tui gọi nó là mây Niết bàn, anh thấy được hông? Hắn nói. O ậm ừ. Không phải là không có gì trong đầu nhưng O mang máng ngờ cái lõi của chuyện mời mọc này chưa được nói ra. Khi hắn gọi thứ mây hồng ở đây là mây Niết bàn thì O định cãi lại: Niết bàn là cõi không còn tham sân si sao lại ví kì cục vậy được, nhưng rồi chính O cũng đã tìm được cách lí giải theo hướng ma ma Phật Phật của hắn, thật ra thì do nhiều đêm ngồi một mình O cũng thường ngắm mây hồng bay trong đêm.
…Mây hồng trôi trong đêm là thứ phù hoa hơn tất cả các loại phù hoa, có lần ngồi bó gối ngước lên bầu trời, O đã lẩm nhẩm hát một đoạn như vầy: “Cho mây ươm tóc em nồng /Tình yêu tắm trong mây hồng…”, nhưng rồi thả trôi ánh mắt mình hồi lâu theo những mảng sắc hồng hồng anh ánh đó O chợt xấu hổ vô cùng vì cái tính trời trợt bẩm sinh của mình, đến mức nhầm lẫn thứ màu mỡ giả tạm, thứ phong lưu mượn hồn độc hại với nhẹ hồng buổi sớm, với rung động đầu đời, với đôi môi nồng nàn lãng mạn đẹp đẽ nhất kiếp nhân sinh. Mây hồng ở đây là loại mây xà xuống thấp do ánh đèn của hàng chục ngàn bóng điện tròn bảy lăm oat đồng loạt hực lên cả đêm mà hồng hồng đỏ đỏ vàng vàng, mà biến ảo hư hư thật thật, bởi vậy sắc của nó mới vừa giả tạo vừa bợm bãi đe doạ làm sao, hình của nó mới vừa hào nhoáng, vừa rỗng xốp đến kẻ dại nhất cũng sinh lòng nghi ngờ, hồn của nó lờ đờ trôi thấy đó mà như là chẳng có. Nó là ngọn lửa đã tắt. Nó sinh ra từ hư không (hư không chứ không phải tính không) và đang lừ lừ bay về hư không, như một xác tro không hơn không kém. Vậy mà hắn, gã trọc phú mới, đi đâu ngồi đâu cũng xưng danh nhà thơ ấy, cứ huyên thuyên.
Chỉ miền quê rặt, chó ăn đá gà ăn muối, mái tranh vách đất u u ám ám… mà rồi đột ngột xôn xao nhà nhà người người chong điện sáng trời sáng đất, mật độ hạ bình điện trong nháy mắt đã hình dung biểu đồ dâng một cột đỏ lòm lòm cao nhất nước, xe xe cộ cộ rồ rồ ăn chơi bia bọt, tiệc tùng chung chi, mánh mung, phe cánh, thủ đoạn rục rịch trắng đêm,… mới có loại mây hồng lờ lờ sáng bầu trời khuya. Màu mây, loại mây ấy chưa thời nào, chưa nơi nào trên trần gian này đường đường chính chính trình diễn trên bầu trời đêm lâu vậy. Phàm thứ gì màu mỡ giả tạm, qua nhanh thì người đời gọi phù hoa, vậy mà mây hồng ở đây thì hắn lại xem là mây Niết bàn: rung riêng rủng riểng trắng nói đen còn được thì bài ca con cá mây Niết bàn nghe sặc luận điệu ru dụ có gì là lạ, những gã “nhà thơ” địa phương như hắn xét cho cùng chỉ là những thứ trang sức, đầu sai hoặc dùng mỹ từ “thơ” chỉ một mục đích là “cho sang”, (nghe nói có người trong hai năm đã viết được chín trăm bài thơ, gửi đăng khắp các tờ tin từ cấp huyện cho đến cấp ngành nghề, có người nhờ hai tiếng nhà thơ mà thăng quan tiến chức như diều gặp gió, có kẻ trọc phú mở miệng là “cánh nhà thơ tụi mình”… Kiểu “nhà thơ” nhan nhản các chiếu nhậu), họ không đáng để tranh cãi. O thầm nghĩ vậy rồi đưa tay phẩy một cái vào khoảng không.
Uống hết hai bình trà với đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Hắn huyên thuyên. O ậm ờ. Mấy lần nhìn vói xuống bếp, hắn mới hắng giọng: Xong chưa bây? Dọn cho bác O với tui mâm đặc biệt nha, dọn thẳng ngoài hiên này cho mát! Vợ hắn lật đật bưng mâm chén bước lên, thơn thớt nói cười, chợt mắt bỗng lấm la lấm lét, mặt cúi gầm xuống đất. O đã thấy được thái độ ấy nhưng chưa biết nó là gì. Mùi thịt thà, xà lách, bánh mì bay thốc lên mũi, O cố kềm chế để không phải nuốt nước miếng.
Hắn tự tay nhấc chiếc chảo dày đặt lên bếp ga, đổ dầu ăn vào, chảo vừa bốc lên mấy sợi khói, hắn gắp hai miếng thịt bò bỏ vào xèo xèo, đẩy qua đẩy lại. Hắn nói: Món bò bít tết này phải làm tới đâu ăn tới đó mới ngon. O đã nuốt trôi ba miếng, ly rượu Tây đã làm hai má O nóng bừng, O mới hỏi “Nay có chuyện gì mà thịnh soạn thế này?” “Có gì đâu, hàng xóm láng giềng chiều chiều lai rai với nhau tí chút thì nhầm nhò gì mà thịnh với soạn.”…
Khi đã ngà ngà lâng lâng, hắn đưa O ra cổng, vừa vỗ vỗ vai, hắn vừa thì thào: Tôi chỉ cho anh bí quyết làm thịt bò cho mềm nghen: Một chút chanh, anh nhớ chưa, còn hầm thì phải là ổi non, chua chát nó mới mềm, chua chát nó mới…mềm… Hắn vỗ vai O một cái thật mạnh rồi cười hề hề quay vào nhà.
Mấy lần lên bờ xuống ruộng, cuối cùng O cũng lảo đảo đặt chân lên đất nhà. “Chua chát nó mới mềm”, sao hắn lại nhấn mãi cái câu ấy? Chợt có linh tính điều gì đó chẳng lành, O phăm phăm tiến về phía chuồng bò nhà mình. Lẽ ra O phải nghe tiếng cạ cạ vào chuồng của con Khú mới phải, sao lại im lặng? O rút khúc cây cài cửa. Con Khú nằm bẹp một góc chuồng. Chân O dẫm phải thứ gì sền sệt như bùn. Máu! O dụi mắt liên tục, rõ ràng là máu…
&
Cuộc đời O nghĩ cũng tủi thân, thật ba chìm bảy nổi chín lênh đênh. Lúc còn nhỏ thì tức tối lồng lộn với bọn bạn bè trẻ con cứ theo trêu chọc bằng cái câu hỏi khốn kiếp “Ai đi đó?”, rồi nói lái lại là “O đi…”, chỉ vậy mà suốt thời niên thiếu lúc nào O cũng như người ngứa gan, sẵn sàng cà khịa với bất cứ ai. Lem luốc lớn lên, giấc mơ nào cũng thấy mình đóng vai người hùng, kẻ giàu có, được thiên hạ ngưỡng mộ nghiêng mắt lặng người, nhưng mải chỉ trơ những bước chân khập khiễng té trượt chúi nhũi bữa đói bữa no, giờ lại ánh hồng tàn tro, mị lực đảo chao bám riết hành hạ trong đầu. Từ ngày nghe được ba tiếng Mây - Niết - Bàn, lòng chợt bất an, nửa muốn cãi lại cái gã nhà thơ trọc phú mở miệng là văn nhã xập xoè, nửa hy vọng tìm ở đó sự quyến rũ, lý giải khác: Có thể Niết bàn ở đây được hiểu là cách nói theo kinh nghiệm nội tâm. O trách mình sao lại không biết trong lịch sử thiền cũng đã từng có cách nói “Cầu trôi chứ nước không trôi” phi lý và mâu thuẫn này? Có lẽ tay nhà thơ lừa bịp mua đất của O nói những điều phi lý một cách đầy lý lẽ? Rồi O muốn xét lại mình, O phỉ báng mình, coi ba cái lý sự cùn, ba cái chữ sĩ trong đầu có phải là thứ vô dụng ác độc giam hãm tù đày mình lâu nay.
Vì muốn mua mấy mảnh ruộng và lô vườn liên canh liên cư mà hắn đành đoạn cho người thẻo mông con bò Khú để tách O ra khỏi mảnh ruộng của mình. Bữa tiệc thịt bò bít tết ấy đã làm O chết điếng cả năm trời, chẳng làm ăn gì được, O đã khóc hết nước mắt. Nhớ lại đêm ấy, O ngồi ôm ngang cổ con Khú suốt đềm, mắt dại chằm chằm nhìn muốn đục chém màn đêm cho hả giận. “Khú ơi! Là Khú ơi! Mày có tội tình gì đâu!?” Đến nửa khuya, thì O cũng gào rú được một thôi một hồi. Con Khú đã gắn bó với O trên mảnh ruộng sớm sớm chiều chiều như hình với bóng hỏi làm sao không buồn thương cho được. Cứ nhìn cái lưỡi cày rỉ sét lỗ chỗ vàng, bơ vơ bất động nắm một góc hiên là không cầm nước mắt. Mỗi lần rơi nước mắt là mỗi lần hình ảnh cặp mắt lấm lét của vợ hắn lại hiện lên làm cho người O căng lên, nóng bức không chịu nổi… Cuối cùng lòng thù hận cũng nguôi ngoai, bởi làm gì hắn thì thật tình O cũng chẳng dám làm gì phạm pháp, đành ngậm chát nuốt chua mà bán tất cả ruộng vườn hương hoả ông bà để lại cho hắn. Đôi lúc, nhớ lại mọi chuyện, O còn cám ơn hắn, nhờ hắn mớm cho viễn cảnh “phi thương bất phú” mà anh mới có ý tưởng độc đáo riêng mình. O mang tiền bán đất đi thuê một lô mặt đường, O gò lưng đi gom lượm, khiêng, vác, thồ mấy chục phiến đá vảy đủ hình thù trốc ra vương vãi dưới chân núi, mướn thợ may hàng chục bộ nhục bồ đoàn, áo nâu, mở quán cà phê Thiền, với mong muốn giúp người tĩnh tâm, quên đi sân hận, ham muốn, O quá ngao ngán với những chiếc bóng người, mọi tầng lớp, đang xoèn xoẹt lao đi cuồng dại mê đắm với bụi đường, bụi tiền, bụi tham bám dính, bụi ác dày trơ ngoài kia, quá ngao ngán với bao thủ đoạn ác độc chiếm đất, chiếm nhà của bọn trọc phú mới. O muốn xả và cũng muốn mọi người cùng xả nhưng O đã nhầm, con người ở đây chỉ chiếc bè trôi chở chống lòng tôn sùng của nả, bạc tiền đang mê cuồng trôi với cuộc đời bão dông. Thời của những thói mạt tâm. Quán khai trương cả tháng vẫn vắng như chợ bà Đanh, lỗ trắng mắt lại còn bị người ta chửi cho ê mặt: Vớ vẩn, uống cà phê để bàn chuyện làm ăn, để bạn bè tán gẫu, để giết chết thời gian… sao thiền được. Dù O ra sức thuyết giảng, giải thích cũng không ai nghe. O nói: Ngồi tĩnh tâm với ly cà phê sẽ giúp mọi người đánh thức sức mạnh vốn có bên trong mình. Họ bịt tai, bịt mắt, bịt miệng.
Lời nói của O gió thổi bay đi. Thiền quán của cũng tan như bọt nước. Từ ngày cất những chiếc áo nâu và những chiếc nhục bồ đoàn vào một góc nợ nần, O chuyển qua mở trại bia lộ thiên ven con đường vào Lũng Say này, những đêm vắng khách O thường nhìn mây hồng bay, lâu dần thành thói quen, O đâm nghiện loại mây phù hoa này mới hết nước nói. Khách quen ở trại bia thường ngồi ngập vào những buổi chiều chỉ là cán bộ công nhân viên chức và các tay mánh mung buôn bán chung chi, lần đầu tiên O thấy gã nông dân xuất hiện ở đây mà lại uống “lầy”, không biết bao nhiêu là vỏ bia vương vãi quanh bàn, quanh chân. Thoạt đầu, gã uống và nói chuyện trâu bò heo gà, thanh long gạo đậu:
-Hai răng trưởng thành chính giữa mọc bằng, hai răng sữa áp vừa rụng, nó hai năm tuổi. Tôi nói sai tuổi trâu mới là lạ…
…- Thanh long năm nay được giá, cái xứ chết đói đến nơi, bo bo mì lát muôn năm, tự dưng lại được trời cứu đói…
Sau đó, gã tự kể chuyện của mình, rồi gã khóc, rồi gã hát như bị rượu xô rượu đẩy, tẩu hoả nhập ma, sa đà trẻ nhỏ. Gã này uống bia nhiều đến nỗi O nhìn mà say theo. Cũng có thể trí tưởng tượng của O có vấn đề, nhìn gà hoá cuốc còn đỡ, đằng này lại nhìn một nhoè thành ba, O thật sự thấy trên cái bàn ấy có ba người ngồi, O nghe rõ ràng họ nói chuyện với nhau, họ hát với nhau. Ba con người rõ ràng: I, Ư và Ơ, O đặt tên cho họ như thế cũng vì những lời hát phát ra mang sắc thái dân ca đủ cả ba miền:
- Đẹp như trong mộng ì ì ì ì ì… Í…i… ì…
-Say... Say …Trời đất lăn quay…ứ… ư… O tưởng tượng ra người bên cạnh vừa ngã nghiêng ra bộ ra tịch vừa đưa tay định dìu người có giọng hát i i kéo nhựa ấy thì bị nhét ly rượu vào tay.
-Kể từ biết uống tới giờ, tớ uống đã hơn ba chiếc thuyền lớn… chở đầy rượu…i…i… Say hả? Say này… Này rót… uống nhá… nhá… Trăm phần trăm… Dzô đi! Dzô…í…ì…i… Người tên I dừng lại đột ngột, ly rượu rơi xoảng xuống nền gạch. I cũng rơi người xuống, ngoẹo đầu qua thành ghế rồi lịm nhanh như nhúm than cây sến cây sơn vốn chẳng giữ lửa lại vừa bị hất đúng một thùng nước đầy, chỉ kịp xèo cái đã nguội lạnh, người I bây giờ chưa đến mức như món đông sương nhưng ẹo oặt nhũn nhoẹt một bị thịt chợ chiều. Kẻ vừa chịu đựng cú ép trăm phần trăm, đưa chân trượt trên vỏ chai ngã sượt khỏi bàn lại lồm cồm vịn ghế khom lưng xốc nách bạn nhậu. Người ngồi lầm lì nãy giờ, cứ đưa ly lên là nốc cạn ở ghế bên kia đủng đỉnh nhấc từng chân ra khỏi ghế rồi vừa bước tới nhét vội tà áo của người say vào quần vừa ngước cằm lắc lắc, chợt phồng gân cổ mà lên câu vọng cổ mùi mẫn: Lan ơi… Sao đành cắt đứt dây chuông… Ánh điện đường mới mắc của thị trấn Lũng Say hắt bóng họ đổ dài, mỗi lần họ nghiêng chao sát đất, bóng chợt ngắn lại, tiếng ư ư ơ ơ nhề nhệ trôi theo họ như những đám mây chứa âm thanh, mớ âm thanh chẳng nghĩa lý gì. O bực mình vì người khác uống mà sao mình lại say, rõ ràng O đã mang thật sự đầy đủ các triệu chứng của người say. Tím chi tím tái tím tê (ơ ơ), tím xanh tím mét (ơ), mắt mê tối sầm. Tím gì như thịt da thâm, trận đau hôm trước, tím bầm hôm sau…(ớ…ơ …ơ…). Lúc Ơ bước xiêu vẹo bên đường, O mải nhìn theo, không buồn dọn quán. O hiểu ra: Khi người ta đau, người ta thường hát hò kiểu đó. Con đường của thị trấn Lũng Say về khuya hiu hắt khó tả, chợt O rợn lạnh trong người, vừa thụt lùi vào quán, O vừa rùng mình thấy các đám mây hồng đang chuyển sang tím rịm một góc trời.
&
…Đêm thứ nhất, sau khi bán đất cho hắn, O nằm mơ thấy mình bị róc đi hai mông đít, máu chảy ra lênh láng một mép ruộng, không thấy đau nhưng mất hết sinh lực, tay chân không buồn động cựa, ruồi bu không đuổi nổi.
Đêm thứ hai, O lại nằm mơ thấy một hình hài da bọc xương đang gục gặc di chuyển trên một bãi cỏ gai. Đến gần thấy bộ xương quen quen, giáp mặt hoá ra bộ xương đó chính là mình.
Đêm thứ ba, vừa nhắm mắt là O chìm vào vùng trời đầy mây hồng, O vừa lao theo những đám mây sặc sỡ là là bên trên tầm tay với, chợt O sựng lại vì phát hiện những cơn gió đang xuyên qua người mình, gió lạnh buốt, gió xuyên qua tim, những sợi gân máu treo nối lửng lơ đầy ngay trong cơ thể, O đưa tay rờ rẫm khắp thân mình, chỗ nào O cũng chạm phải những khúc xương, xương cứng đơ, lạnh ngắt như xương của lễ Sang cát, của ngày bốc mộ. Trong đám mây hồng, chợt xuất hiện hàng đàn muỗi khổng lồ, tiếng “vo ve” rền rền góc trời, muỗi núp bóng trong sắc mây hồng, những cặp chân cao khều lòng khòng khua động, chúng đông đến mức làm cho những đám mây như phình ra. Quái vật muỗi! Những con muỗi có cặp mắt kép đe doạ. Xúc tu của chúng rất nhạy với mùi mồ hôi của con người. Vừa thấy một đám đông áo nâu đang cày bừa trên đồng ruộng, đàn muỗi mừng quíu, âm thanh “vo ve” của chúng nghe rộn ràng, nghe xôn xao như kiểu đám người dự tiệc. O cứ trố mắt nhìn, ngỡ có loài muỗi mới chuyên hút mồ hôi người, không phải hút máu truyền bệnh sốt rét như loài A- no- phen. Chúng quần tụ trên đầu những người nông dân như những chiếc máy bay, những chiếc xúc tu nhạy cảm mồ hôi huơ huơ đánh mùi. Bầy muỗi liên tiếp phát ra những tiếng “vo ve” rền trời rền đất. Họ đã dừng tay cày, dừng tay cấy, họ quay đầu nghe bên phải, quay đầu nghe bên trái, họ đứng yên, miệng nở nụ cười thật tươi, khuôn mặt họ rạng ngời, rồi cùng kéo nhau đi về một hướng theo sự điều khiển của tiếng “vo ve” trên bầu trời. Ngay lúc những người nông dân đang vui mừng thì những cái vòi khổng lồ của bầy muỗi căng ra, chúng đồng loạt lao xuống đồng ruộng xanh um, lao xuống những khu vườn trù mật. Thoạt đầu O cứ tưởng những người nông dân đã nghe theo những âm thanh hướng dẫn đúng đắn hấp dẫn nào đó, giờ lại thấy những chiếc vòi muỗi đồng loạt hút, bụng chúng căng phồng lên từng giây một. Những người áo nâu đang vui vẻ đi với nhau như sau một ngày cần lao cực nhọc, chợt chao đảo ngã nghiêng. Có người té sấp. Có người té ngửa. Đất dưới chân họ bời bời vườn ruộng cò bay thẳng cánh chợt thụt dần, thụt dần rồi biến mất, họ chơi vơi rơi, chơi vơi lộn đầu xuống, cứ thế tất cả đều rơi thẳng, những vật rơi cùng phương. Bầy muỗi hút đất càng lúc bụng càng phình to, có con đã lặc lè vẫn còn cố hút. Tiếng “vo ve” vui mừng rền động át cả tiếng kêu rú của những người áo nâu. O cũng nhắm mắt rơi cùng phương với họ. Nỗi sợ hãi làm mồ hôi lạnh tuôn túa giọt giọt hai bên thái dương. Chợt O mở mắt trừng trừng xuống đáy thẳm. O hét lên một tiếng kinh hoàng rồi giật mình tỉnh giấc. Hoá ra chỉ là cơn ác mộng. Bây giờ đang là đêm. O lại đưa tay vỗ muỗi. Bốp. Và bốp. Và… bốp… nữa…, không… thôi.
Chân núi Tà Cú 3/2009
GIẢI THUẬT
Má ơi con má điên rồi
Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi
(Nguiễn Ngu Í)
Giải thuật là một thứ nhức đầu, bởi vậy khi tự chuyển linh hồn mình qua một thân xác mới, một thân xác cứng đơ bị treo lơ lửng giữa không trung, tôi mới có dịp suy nghĩ về thứ hình vẽ đường đi rối rắm, phức cảm của nó; gọi là thuật toán cũng được, gọi là thuật văn cũng xong. Ở đây, tên gọi không thay đổi được bản chất của những tiếng nói tắc nghẹn từ tôi, tôi đã hoàn tất mình từ, trong, với một cuộc đời mà trạng thái ban đầu có sẵn, hoàn cảnh ban đầu có sẵn là trầm mình trong cuộc chiến giữ nước đầy máu và nước mắt của dân tộc tôi, trong cuộc chiến nhiễu loạn giữa những người anh em ruột rà máu thịt của tôi. Tôi đã sống những ngày ấy bằng niềm tin nhiều hơn là sự thật, tôi triệt để ngang qua, ngang qua, ngang qua theo đúng hành trình để cuối cùng dẫn đến kết quả đã được dự đoán từ đầu. Tôi chịu ơn niềm tin và cả ý nghĩ mình là kẻ phản bội, tôi chịu ơn “hơi thở vua Hùng” mà bạn tôi đã gợi lên trong đầu tôi khập khễnh bước đi kiếm tìm bằng những con số ước lệ. Tôi chịu ơn cả ca nước đen lờ đờ dưới gầm cầu vì đó là những thử thách để tôi xuyên qua chính mình và hiểu một điều đơn giản: Những cố gắng lý giải, chứng minh của tôi và bạn tôi là vô ích, vì thuật toán - thuật văn ấy đã có mặt trên đời này, hiển nhiên kết quả là đúng.
Hú hú hú…u…u…u… Hú hú hú…u…u…u… Hú hú hú…u…u…u…
Đau. Từng cơn đau giật nhói vùng thùy chẫm. Tiếng gió hú rít vọng vọng. Cơn đau lan nhanh nửa đầu, rồi đau bưng cả lên làm như đầu mình là cái trứng nhúng dấm, xương sọ đang mỏng dần và mềm nhũn. Lập tức cơn đau gợi lên trong đầu tôi nỗi lo sợ bâng khuâng, nỗi sợ bóng dáng phù du. Con đường phía trước tối sầm. Cặp mắt tối sầm.
…Lửa đột ngột bùng lên, ngọn lửa cách đây hơn ba mươi năm cứ thỉnh thoảng bùng cháy trong đầu tôi cùng với những cơn đau. Cháy tre. Chẳng có thứ gì trên đời giống với cháy tre cả. Cả vùng trời đêm chợt đỏ lòm lòm như xuất huyết, chợt vàng men mét như da người sốt rét. Lửa xoe xoé đủ màu đủ sắc. Ngọn lửa bốc cao như muốn nói: “Cho mượn cái thang lên trời!” Cả rừng tre dưới chân đồn Gió Ngàn Phương nương theo ngọn gió bấc dữ dội táp nóng hừng hừng. Tiếng tre cháy nổ át cả tiếng súng. Tôi vừa xách thêm thùng đạn tiếp cho Thạnh thì đã thấy nó cởi trần trùng trục, vừa siết cò súng vừa chửi đổng: “Má nó! Hết trò chơi hay sao mà chơi trò luộc xác, giết chóc nhau thế này.” Gió nóng vẫn tiếp tục tạt thốc từng luồng vào lỗ châu mai, tôi cũng bắt chước Thạnh, cởi áo vác vai. Bầu trời đỏ bên ngoài được đóng khung qua lỗ châu mai bèn bẹt nhìn cứ như một bức tranh trừu tượng. Tôi nói với Thạnh: “Sắc trời ngoài đó điển hình của cuộc chiến”. “Má nó, chết tới nơi còn thơ với thẩn”. Một tiếng nổ rền, đất cát tuôn xuống rào rào, vừa phủi áo phành phạch lên người, có thể vì ân hận đã hơi nặng lời với tôi, Thạnh cũng chuyển sang văn vẻ: “Má nó! Hơi thở của vua Hùng cũng không thể nóng hơn…” Thạnh có cái tật thâm căn cố đế là nói gì cũng lôi vua Hùng vào.
Hình như Thạnh còn định bồi thêm hình ảnh văn vẻ nào nữa thì một tiếng nổ chát chúa ngay lỗ châu mai, luồng lửa vàng rực chói loà hất văng tôi ra xa, đập mạnh vào vách hầm. Khi tỉnh dậy tôi bàng hoàng chẳng thấy Thạnh đâu nữa, chỉ còn khối thịt đen thui co rút như một khối than sau trận cháy rừng. Tôi không ngờ đó là câu nói cuối cùng của Thạnh. Tôi hồn vía chẳng còn, cứ lầm bầm như một cái máy lặp đi lặp lại: “Lửa! Hơi thở vua Hùng… Hơi thở vua Hùng… Hơi thở… vua… Hùng… Không biết lặp đến lần thứ mấy thì tôi cũng nhận biết đôi chân của mình cũng bị nám đen, tôi hú lên và quáng quàng định bò đi nhưng không thể, không thể nào được nữa.
… “Một thằng hề trong trò chơi hư ngụy, huyễn hoặc đang rúng người bàng hoàng trống rỗng đau. Một khán giả từng mê đắm vỡ tuồng, từng cười cười khóc khóc theo mỗi lần khép mở của cánh màn nhung để rồi một sáng nọ sững sờ trước đống đồ lề trang điểm, ngụy trang, những đạo cụ vứt bừa bộn trên bãi rác không tên. Nhìn. Nhìn mãi rồi bung cười sặc sụa. Tiếng cười chưa dứt, cơn đau đã lấn nhanh, miệng méo xệch, lưỡi đắng ngắt, tâm hồn tê tái…”
Tôi không cười trò diễn mà cười cho những xúc động, phiền não ngây thơ, cười những rưng rưng, những hiu hắt hình hài hề hịch của chính mình.
II.
Tôi chồm tay qua, gồng hết sức hất người sang xe đò. Anh lơ xe xếp nhanh chiếc xe lăn của tôi rồi quăng roẹt xuống gầm xe làm tôi hơi đau lòng nhưng cũng không phản ứng gì được, việc đeo sầu ngậm tủi với tôi cũng quen rồi. Năm rưỡi đến Sài Gòn. Đóng lệ phí, cầm tờ biên nhận, chẳng biết điều gì đang chờ đợi mình: Đục sọ, lật da mặt đốt xoang, tháo từng mảnh xương sọ ra để chơi trò xếp hình, cắt u ác tính… Có thể hết bệnh, cũng có thể bán thân bất toại, nói nôm na là liệt, là cái thây biết thở, là đời sống thực vật. Mọi người chịu đựng tôi. Tôi chịu đựng tôi. Mình chịu đựng đầu. Cơn chịu đựng thần kinh. Nghĩ tới bấy nhiêu điều ấy tôi bỗng rùng mình.
Bảng số điện tử nhảy qua con số 036 đỏ lòm lòm. Con số đẹp, tổng là một số đại lão dương, mười tám đời vua Hùng cũng có tổng hai chữ số bằng chín, tự dưng tôi liên tưởng và nhớ trung sĩ nhất Thạnh. Lửa lại cháy bùng trong đầu tôi, tôi định hú lên thì bị cắt rựp bởi lệnh từ não truyền lạnh lùng “Đẩy ngang cánh cửa phòng khám”. Tính tôn trọng đám đông còn lại ít ỏi của tôi, lúc này đây như ca nước lạnh tạt lên đầu, tôi biết mình đang có đầy đủ ý thức của người bình thường. Đo huyết áp. Kiểm tra xoang. Tay bác sĩ bịt khẩu trang lòi cặp mắt thâm đen, tay chọt lốc cốc lên bàn phím, thiếu lưỡi hái ở tay kia nữa là thành vị thần chết điển hình của thời đại thông tin, thời đại tốc độ, thời đại chóng mặt đau đầu. Hai ngón tay “thần chết” cứ xe xe hai bên tai “chốc sè sè, chốc sè sè”… Nghe bình thường. Hỏi thêm: Ăn bình thường? Ngủ bình thường? Bài tiết bình thường?... Trả lời: Chỉ có não là không bình thường, tức lá không sâu, không rụng cuống, duy gốc rễ có vấn đề.
Chuyển đo não tâm đồ. Ngồi! “Tôi đang ngồi mà”. Cái lệnh “ngồi” thừa nhưng sắc lạnh, vô cảm của cô “bờ- lu- trẻ” ngăn chặn tôi không được quyền bông lơn, dù thầm biết rằng cái lệnh hớ ấy sẽ làm cô ta cười rũ tóc tai nếu được ra sau cánh cửa kia. Tôi nhấc người lên rồi ngồi phịch xuống một cách hề hịch làm những bệnh nhân ngồi chờ đưa tay bụm miệng.
Chùm dây điện mười tám sợi đủ màu sắc, tôi lần đếm được mười tám sợi đúng (hơi giật mình vì tổng hai chữ số lại là chín), lòng thòng nối với tấm trùm màu đen tuyền. Rột rột roẹt roẹt… Họ tiêm thứ nước gì đó ướt lạnh da đầu. Nhìn vào cửa kính tủm tỉm cười, tôi nửa giống người ngoài hành tinh, nửa giống phi công Nhật trong chiến dịch thần tốc Trân Châu Cảng, một chiến dịch đã đánh thức con thú chiến tranh khổng lồ. Tôi đang mơ màng xem thử mình có nên hoạch định một chiến dịch gì đó cho riêng mình không thì “bờ-lu- sồn sồn” há miệng thật to, lệnh vỡ: Nằm! Nhắm mắt! Vừa nằm vừa nhắm mắt, loại lệnh đúp này thật hiệu quả khi muốn cắt đứt ngay lập tức dòng suy nghĩ của người khác. Tôi đột ngột dứt bỏ những ám muội trong đầu mình mà không cần một chút quán tưởng hay thiền định gì cả. Tôi nhắm tít mắt và hình dung đến những hình răng cưa ngoằn ngoèo trườn trên trang giấy dài cả sãi tay, ngôn ngữ thần chết thường không minh bạch.
“Không có sóng chậm khu trú”. “Không thấy phổ bất thường”. Chẩn đoán: Đau migrain, loại đau nửa đầu thường gặp ở phụ nữ, thế mà tôi lại bị. Chỉ đau nửa đầu thôi sao? Uống thuốc sẽ hết sao? Hú hồn.
Về nhà. Hết thuốc. Lại đau. Khám lần hai. Vẫn không có sóng chậm khu trú, không thấy phổ bất thường. Thêm chứng cứng cổ. Viêm màng não thường cứng cổ, nhưng cứng cổ chưa chắc là viêm màng não. Vẫn chưa có kết luận mới.
Lại đau. Quá tam ba bận. hàng loạt triệu chứng lộ diện. Chẩn đoán khác: Bộ não thoái hoá. Tôi liên tưởng đến mấy lát chao vuông vuông làm bằng đậu nành đang lỏng bỏng trong nước tương ăn ở chùa. Rụng rời tay chân. Đột ngột tối như có ai vừa đổ thùng nước đen quanh người tôi. Hoá ra bản chất không thay đổi của tôi là tham sống sợ chết. Tôi đưa hai tay bóp mạnh hai bên thái dương vì một cơn đau vừa giật nhói. Kí ức lạ trào lên, cũng có thể do cơn đau ngăn trở mà tôi chưa nhận ra “ruột rà máu thịt” với chúng, chưa nhận ra đó là loại kí ức vừa mới đây của mình.
III.
… Nắng đổ lửa. Một tay vịn trụ cầu, tay kia tôi vói ra khua khua rác rồi vục già nửa ca nước đen trên dòng kênh đen sền sệt chất thải. Ngửa cổ lên trời, ực cạn. Móc lại ca chỗ cũ, tôi đưa tay chùi mép, tay cũng lấm đen, lại quệt vội vào tà áo trơn chua của mình. Ngước nhìn xung quanh, người đen đặc, những cặp mắt hiếu kì trố ra. Vài ba ngưởi ngồi thụp xuống ọc ói ngay bên vệ đường. Có người rùng mình rú lên quay mặt. Số còn lại đứng như trời trồng, chòng chọc nhìn. Họ chờ xem cái chết của tôi sẽ đến như thế nào, sự tởm lợm tràn đầy trong mắt họ, trong hành vi bộc phát của họ.
Kên hả? Chúng mày muốn gì? Tôi gồng tay lăn lui, quay đầu xe về phía họ, tôi ẩy mạnh tay xe lăn ào lên trên đường. Tôi ngang phè vậy xem thử ai dám làm gì tôi. Chén kiểu nguyên lành đổi chén sành sứt mẻ. Làm sao họ dám. Tôi biết tỏng tòng tong cái sự đời. Họ chạy, họ cách tôi vài bước chân. Tôi là thằng điên chính hiệu, còn họ luôn cách tôi vài bước chân. Luôn luôn là như thế.
Tôi cứ lao tới, cứ cà khịa. Họ chạy hết. Họ lánh xa. Còn lại một mình giữa nắng chang chang, tôi ôm mặt khóc hu hu như đứa trẻ hay gây sự chú ý nơi người lớn, hay tủi thân tủi phận, hay thút thít sụt sùi nhiều khi chẳng vì điều gì cả. Bao nhiêu năm qua, tôi đã miễn dịch với chất độc, với dơ dáy, bẩn thỉu nhưng không thể nào miễn dịch được với nỗi buồn tủi trẻ con ấy.
IV.
Cơn mưa đêm ập đến. Mưa nghiêng tôi xuống. Tôi nghiêng tôi xuống. Tôi rịt dáng tôi còng cụp xuống tay vịn chiếc xe lăn. Chốc chốc tôi lại ngửa mặt lên trời trò chuyện với những giọt mưa, với ánh đèn vàng. Bóng đèn đường lớn, loại đèn đường dành cho phố núi nhiều sương mù, ánh sáng của chúng hắt ra vàng chạch, lạnh lẽo ma quái. Tôi ngước ngắm cả vùng xam xám bên trên, mặc những giọt mưa đêm như trăm ngàn mũi kim lớn lao vào, đâm vào tận tròng mắt, tôi cố lưu thật lâu cảm giác buốt tận óc mà quên nỗi đau buốt trong tim. Chỉ có nỗi đau mới che lấp được nỗi đau. Nhắm. Mở. Lim dim. Trừng trừng. Nheo. Ánh sáng và bóng tối tạo thành hình nóc nhà (giống nóc nhà của má tôi). Ngôi nhà vàng sáng kim gai, lúc giọt giọt giận dỗi thốc ngang, lúc giọt giọt xuôi tay đâm thẳng, lúc bạt phải, lúc bạt trái… Thiên nhiên không để ý đến tâm trạng của từng cá thể, bởi Bà Mẹ ấy biết rõ dù có ngã bề nào, có đau kiểu gì, dù sống dù chết, dù vật vờ, phiêu dạt kiểu gì cũng trong vòng tay rộng lớn của Bà mà thôi. Mưa nghiêng tôi xuống. Tôi nghiêng tôi xuống vì tâm hồn mình trĩu nặng vết thương. Rốt cuộc chỉ có tôi biết tôi, chẳng ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới, chẳng ảnh hưởng gì đến cân bằng âm dương hay sự phát triển, thật ra là tiến triển, là chuyển động.
V.
Trong kí ức gần có kí ức xa. Kí ức đớn đau thường lồng trong nhau như những vòng tròn đồng tâm. Tôi thường bị những vòng tròn đồng tâm hành hạ. Ngày mới bắt đầu. Nắng lại đổ lửa. Một tay vịn trụ cầu, tay kia tôi vói khua khua cho rác dạt xa rồi vục múc già nửa ca nước đen trên dòng kênh đen sệt nước thải. Một miếng ruột gà ruột vịt gì đó lòng thòng dính theo mép ca. Tôi hắt tay, đưa ca nước tận mắt săm soi. Mặt nước trong ca chính là chiếc gương. Đầu tiên tôi thấy mắt mình hằn đỏ, rồi thấy râu ria xồm xoàm, tóc tai bù xù như một xác chết treo lâu ngày trong gió… Tiếng u u dâng lên to dần.
…U u tạch tạch tạch… Chiếc trực thăng xà xuống bãi sỏi đỏ thốc bụi mịt mù. Tôi cùng toán quân tăng viện nhào xuống rồi lẩn nhanh vào những bụi sầm bụi sim lùm lùm như những chiếc dù nhỏ trên đỉnh đồi của đồn trú Gió Ngàn Phương. Sở dĩ đồn có tên như vậy vì đồn ăn ngầm trong đồi bằng hệ thống hầm hang chằng chịt, gió từ vô vàn lỗ châu mai rin rít, hu hú suốt ngày đêm. Lính bên trong lúc nào cũng như đang nghe một điệu nhạc ma quái. Khi trườn được vào trong hầm, tôi mới định thần trở lại. Thạnh, thằng bạn (cùng là trung sĩ nhất lực lượng trừ bị, cùng mang trên áo “cánh gà kép”, cùng ba tháng quân trường với tôi) vừa vỗ vai vừa lớn giọng chọc quê: “Trượt dây tử thần ở Lam Sơn tao thấy mày bảnh lắm, sao lúc nãy mày run như cầy sấy vậy?”. Tôi thụi vào lưng nó một cái “Mày thì hơn gì”.
Sau khi trình sự vụ lệnh, đặt ba lô xuống vách hầm, việc đầu tiên của Thạnh là rút lưỡi lê khoét vào vách hầm một khung hình chữ nhật. Tôi hỏi: Làm gì? Nó chỉ im lặng. Xong, nó lục trong ba lô ra tấm hình cũ kỹ, nhàu nát đặt lên rồi thả người đánh phịch, ánh mắt đăm đắm một hồi rồi thẩn thờ, xa xăm. Tôi tưởng là tấm hình người thân, má nó hay một em gái hậu phương nào đó nên tôn trọng quay đi. Chuyện lính xa nhà lâu ngày gắn hình người yêu lên vách lô cốt rồi nhìn hình mà thủ dâm là chuyện tôi nghe đầy lỗ tai. Ngã người lên tấm pon- chô chưa được mươi phút thì tay trung úy phụ trách đến truyền lệnh phải tham chiến. Ngay lúc cầm cây súng M16 trên tay tôi mới nhận ra tấm hình nhàu nát kia là tấm bản đồ nước Việt. Nhưng rồi dưới ánh mắt kiểm soát như dao bén của tay trung úy buộc tôi phải lao đi không kịp bàn luận với Thạnh một câu.
Trong tiếng súng cắc cù, ánh sáng hoả châu thỉnh thoảng hắt vào vách hầm, Thạnh xoay người nói với tôi: “Ước mơ của tao là trở thành sử gia”. Nó luôn nói về Văn Lang và các vua Hùng, có lúc tôi thật sự nghĩ “thằng này bị bệnh ám thị về nguồn gốc”, nhưng chịu khó lắng nghe nó, tôi lại nghĩ hiếm có người nào dám lật lại những vấn đề mà ai cũng tưởng là hiển nhiên.
-Lịch sử là lịch sử, tức là phải minh bạch, rõ ràng, phải là sự thật trăm phần trăm. Càng gần với sự thật thì hai chữ “lịch sử” mới xứng đáng viết hoa. Trên thế giới hiếm có đất nước nào lại viết sử bằng truyền thuyết hoặc bán truyền thuyết. Tại sao chúng ta không dùng khoa học để soi rọi lại? Lịch sử không phải là ánh trăng mờ ảo để người ta thích thú ngâm nga những câu thơ duy mỹ… Mắt Thạnh sáng quắc khi nói những dòng ấy, tôi như bị cuốn phăng theo những suy nghĩ của bạn. Tôi khơi gợi thêm:
-Đẹp thì có đẹp thật nhưng liệu các thế hệ con cháu mai sau có chịu vậy không? Việc viết sử bằng truyền thuyết và bán truyền thuyết bắt đầu khi nào, Thạnh biết tường tận không?
-Sao hổng biết. Đầu tiên là do Ngô Sĩ Liên đưa những truyền tích vào bộ Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, ông có cẩn thận thêm câu “Tin sách chẳng bằng không có sách” nhưng hậu sinh cứ thế coi như sự thật. Như cái ông Trần Trọng Kim cứ thế, cứ thế rồi học trò học thuộc lòng, cứ thế, cứ thế… Thạnh nghi ngờ con số mười tám đời vua Hùng chỉ là con số ước lệ, một tập hợp, một chu kì… Thạnh phản đối với cách viết sử kiểu thêu dệt, các đời vua Hùng là có thật, phải viết gần với sự thật càng tốt, dẫu bốn ngàn năm văn hiến có rút lại cũng chẳng sao, nỗi tự hào dân tộc vẫn nguyên vẹn trong lòng từng con dân nước Việt. Thạnh kể có lần nó nằm mơ gặp một vị cao to xưng là Hùng Việt Vương, vị này nói giọng đồng oang oang: “Hãy trả ta về đúng thời của ta!” Chân tay nó run lập cập. Nó quỳ xuống. Nó đã hứa trong giấc mơ. “Nhưng giật mình lại nghe bom đạn ì xèo, chán quá!” Nó chửi bới cuộc chiến này đã cản trở ước mơ viết lại sử theo những nghiên cứu công phu và chân xác của nó. Tụi mình chiến đấu vì điều gì? Chẳng vì cái gì cả. Tụi mình luộc xác mình, hiến xác mình, chôn chặt hoài bão của mình vì ai, vì ai? Chẳng vì ai cả. Vậy lẽ ra tụi mình phải dán lên trán hai chữ “điên khùng” từ lâu rồi mới phải. Các vua Hùng chắc không hề nghĩ rằng có một thế hệ hậu sinh vừa điên khùng vừa hậu đậu như vậy. Thạnh luôn chắc lưỡi: Không có cuộc chiến quỷ quái này, chắc chắn nó sẽ chạm được hơi thở vua Hùng. Nó rất tự tin khi nói rằng sẽ viết lại ngọc phả khác với bản cũ. Những bản ngọc phả cũ: Kể cả bản viết từ thời Tiền Lê, cả bản thời Trần, cả bản san nhuận thời Hậu Lê đều có nhiều chỗ mơ hồ, chưa khoa học… Tôi vốn ít hiểu biết về sử nên ít dám có ý kiến nhưng tôi là người duy nhất trong đơn vị biết lắng nghe nó nói, nó thuyết giảng, thỉnh thoảng tôi chỉ đặt thêm câu hỏi, nhờ vậy mà chúng tôi gắn bó với nhau như hình với bóng.
Ngay cái hôm ly tang, cái ngày quả bọc phá nổ banh lỗ châu mai, trước khi ôm cây trung liên trực chiến, nó còn quỳ lạy cái “bàn- thờ- Việt” ấy, nó khấn các vua Hùng phù hộ độ trì cho nó sống qua khỏi cơn binh đao lửa đạn này. Nhưng rồi các vua Hùng đã không nghe lời khấn thiết tha của nó… Hơi thở vua Hùng vẫn còn trong bàng bạc những huyền tích do người đời mường tượng, thêm thắt.
VI.
“Tôi nó sinh ra nhầm chinh chiến, mới quen nhau mà thương mến. Nó quê ngoài kia, từ lâu lắm không lần về…” Tôi vừa lăn xe trôi trong nắng cháy chang chang vừa hát thống thiết một đoạn tân nhạc, lòng chợt nhớ da diết hình ảnh thằng bạn trung sĩ nhất của tôi. Trở về từ cuộc chiến, trong sọ tôi vẫn còn não nhưng là một bộ não thoái hoá. “Thạnh ơi! Bao nhiêu năm, tao mơ có dịp sẽ nối dài ước ao của mày là chạm được hơi thở vua Hùng, tao sẽ cố suy nghĩ theo hướng của mày, tao đã vò đầu hàng đêm để hiểu, để yêu thương những con số ước lệ, nhưng giờ thì không thể, chuyến đi tìm của hai đứa mình đã kết thúc”.
Tôi đưa tay lên miệng, tự cắn mình một cái thật đau. Ồ, tôi vẫn còn biết đau! Tôi cắn lên bắp tay một lần nữa để biết mọi người nhìn thấy mình điên. Hú hú hú… Lửa tre, lửa đạn đang bùng bùng trong đầu tôi. Tôi nhấm nháp da thịt mình lần nữa để biết mình vĩnh viễn không thể suy tư gì được, không còn nhận thức gì được, không còn cơ hội để “chạm được hơi thở vua Hùng”, dù chỉ trong lí thuyết, trong câu văn. Hú hú hú… Hú hú hú… Hú hú hú…
Riêng lý do lần cắn phập thứ ba tôi rất mơ hồ nhưng thân xác đã ngã ra. Khi rời khỏi khu nhà xác ở bệnh viện, tôi bay lên rồi đi vào một hang động đầy những khối đá vôi xốp như mây trời. Gió nổi lên rất mạnh. Tôi lồm cồm bò, tôi nhớ ca nước đen trong quãng sống lắc lay của mình, tôi nhớ khả năng miễn dịch với sự dơ dáy nhưng không miễn dịch được với nỗi đau, tôi nhớ sự chú ý cùng cực và lo sợ khôn tả trong đêm chiến tranh, tôi nhớ quá… Môi tôi nứt toác ra vì khát, tôi khát, một loại khát vọng từ xu hướng sâu kín nhất của cá thể tôi, tôi khát nhưng vẫn cố vừa bò vừa lao lên ngược chiều gió. Cơn gió đột ngột buốt lạnh như vừa đội mồ, đội mả mà lên. Ngay lúc tưởng chừng tan biến, hồn tôi chợt lạnh cóng, hai môi tôi lập cập đánh vào nhau, tôi đông cứng dần dần rồi treo lơ lửng như bị một chiếc mạng nhện vô hình khổng lồ bó chặt. Nhìn quanh tôi thấy có nhiều linh hồn cũng bị trói gô lửng lơ như mình vậy. Dường như đây chính là cái bọc trăm trứng của Mẹ Âu Cơ đã hạ sinh trăm con cường tráng rùng rùng lên non xuống biển, nhưng giờ cũng chính là cái bọc thu gom những linh hồn èo ọt, bệnh tật, điên khùng như tôi, như một số đông người cùng thời với tôi, một thế hệ bị dụ khị, bị đưa vào vở bi hài kịch chia rẽ, giết chóc, một trò chơi mà trong đó kẻ hư ngụy như tôi lại cứ đinh ninh mình chính danh quân tử. Trong tích tắc cuối cùng, tôi thấy chiếc vương miện to lớn hiện ra rực rỡ, chói ngời. Tôi biết luồng hơi lạnh kia phả ra từ hơi thở của vua Hùng thật sự, chắc là vua Hùng đầu tiên. Tôi cứ tưởng Tổ tiên không hề để ý đến từng sinh linh cháu chắc chút chít nhỏ nhoi nhưng thật ra tất cả đều được quan sát theo dõi, chăm sóc từ nơi cao xa này. Tôi cố cảm nhận ở mức có thể được với và trong hơi thở của vua Hùng, từng luồng, từng luồng, lúc chầm chậm lúc rít rú nhưng tất cả đều lạnh lùng, làm tôi liên tưởng nhanh đến sự lạnh lùng nghiệt ngã của quy luật trần gian. Nhưng dù gì tôi cũng đã kết nối! Tôi khấp khởi mừng vì đã được kết nối, đã được “về nhà”. Tôi tiếc không có Thạnh ở đây để nó nhận ra hơi thở ấy là của vua Hùng thứ mấy, có thể là của vua Hùng thứ nhất hay thứ mười lăm, mười sáu, hay mười chín hai mươi gì đó cũng nên. Không nhứt thiết phải mười tám; mà có khi chính nó cũng sai lầm, nó từng bảo tôi, hơi thở vua Hùng… nóng… lắm…kia mà, hơi thở vua Hùng… nóng… lắm…kia mà.
Dù nóng, dù lạnh, dù gì đi nữa thì quy trình giải thuật cũng hoàn tất. Tôi đã đi xuôi về ngược trọn một kiếp người. Cứ đi, sẽ đến, đừng bao giờ tìm cách chứng minh đúng sai. Đúng sai cũng chỉ là ước lệ mà thôi. Giải thuật là một thứ nhức đầu thực sự. Hú hú hú…
Dưới chân núi Tà Cú, 11/ 2008 – 5/2010
VanVN.Net – Nguyễn Hiệp - một cây bút văn xuôi chững chạc đầy triển vọng của miền Trung và miền Đông Nam bộ. Sinh năm 1964 ở Hàm Tân, Bình Thuận, bên dòng sông Con Cuông bé nhỏ. Nhưng luôn có một dòng sông khác ngoài dòng sông Con Cuông nhiều kỷ niệm, lắm xót xa đã gắn chặt một thời niên thiếu côi cút của Nguyễn Hiệp với quê nhà. Dòng sông thời gian tím bầm dập nát nhưng cũng đầy ký ức dẫu buồn đau nhưng đã nâng đỡ tâm hồn và ý chí để có một nhà văn Nguyễn Hiệp hôm nay... VanVN.Net xin trân trọng giới thiệu những tác phẩm rút trong tập truyện ngắn mới nhất của anh: “Âm thanh đổ bóng”.

Nhà văn Nguyễn Hiệp trên vịnh Hạ Long (Ảnh: Phong Lan)
ÂM THANH ĐỔ BÓNG
Mười ngón tay Trần Vũ đang bị một thứ ma lực cuốn đi trên bàn phím, những chiếc búa gõ dường như được điều khiển bởi bàn tay vô hình nào đó. Bản Xô-nat Ánh trăng, chính nó, âm thanh đã tái hiện mồn một khí, hồn và ảnh của một đêm thanh, ánh trăng đang lắng xuống từng lớp, từng lớp, trước cửa ngôi nhà ấy. Ánh trăng lắng xuống, trầm tích ánh trăng dày lên, dày lên thời gian chờ đợi, rạo rực chờ đợi, mòn mỏi chờ đợi, chìm, tan trong bản hoan ca chờ đợi.
Chính nó, bản nhạc Vũ đàn thực hành hơn ba năm, bản nhạc mà vị nhạc sĩ gia sư được mời với giá cao ngất ngưởng ấy khi Vũ yêu cầu quá tha thiết đã chìu theo mà ngắt ra từng phân đoạn muốn Vũ đàn như một bài tập chạy ngón. Theo lời vị nhạc sĩ ấy, dù có năng khiếu nhưng Vũ sẽ không bao giờ sạch nước cản với kiểu học “chưa đi đã chạy” này, mà cái vị trí đứng đầu huyện trăm công ngàn việc của Vũ cũng không cho phép tập trung hơn. Thoạt đầu cái ý mời gia sư về nhà dạy đàn cho cả hai vợ chồng chỉ vì một cán bộ đàn em tặng vợ Vũ cây dương cầm, loại đàn đắt tiền và có hệ thống âm giai phong phú, phức tạp nhất trong các loại đàn, gọi là biết ơn về vụ đất đai vừa qua và “biết chị nhà rất thích cây đàn này”. Thật ra ý nguyện có được cây dương cầm của ông trưởng chi Thanh niên ngày xưa là ý nguyện của Vũ. Người đàn em của Vũ biết rõ điều đó nên đã vất vả theo đuổi thực hiện hết thủ đoạn này tới thủ đoạn khác mới có được. Một lý do nữa ngoài chuyện tình cảm sâu kín của Vũ còn do tính tình của vị đứng đầu huyện này, ai cũng biết Vũ là người thích hoàn hảo, hoàn hảo hoặc cố ra vẻ hoàn hảo suốt ngày và từng giờ, từ việc kí chuyển một công văn đến chuyện xuất hiện ra mắt cử tri, cả trong những bàn nhậu với đồng sự cùng cánh. Vũ thích và muốn tạo dựng một hình ảnh chủ tịch văn võ song toàn, tính tình này của Vũ như một sự bù trừ cho tính nhút nhát thâm căn cố đế một thời thanh niên của mình.
Các ngón tay của cả hai vợ chồng cứ đơ đơ lóng ngóng, học trước quên sau, những nốt nhạc chui từ tai này qua tai khác, những âm giai chỉ là những chuỗi âm thanh kèn kẹt đùng đục khó tính trơ lạnh. Người lớn tuổi như vợ chồng Vũ mà phải tập luyện để có được đôi bàn tay mềm dẻo, có được đôi tai biết thẩm âm thật khó.
Vậy mà đêm nay nó như người chết sống dậy hay như một hoài thai định mệnh. Sự sống và ma lực duyên phận gì với nhau mà đêm nay căn phòng Vũ tràn ngập ánh trăng, mát lạnh hồn trăng. Bàn tay Vũ cuống cuồng bấn loạn, tâm hồn Vũ lúc chìm trong nỗi sầu man mác lúc lặng đi trong cô đơn tận cùng, chỉ có âm thanh huyền bí của bản nhạc cứ bật lên réo rắt như phát ra từ một cõi xa xôi nào đó. Chợt khựng lại. Chỉ có trăng suông thì chưa đủ làm nên đêm tình ái. Chỉ có trăng suông thì tâm hồn ta mãi chỉ là một bến đợi, đợi đến mãn kiếp. Những gì lắng đọng qua tháng năm của một người chờ đợi? Một bó hồng móc hờ trên chiếc bản lề rỉ sét? Một tiếng mở cửa khẽ khàng chỉ có trong tưởng tượng khát khao? Một cánh chim vụt bay đi giận dỗi để lại vệt sáng ảo mờ trong đêm? Không gì cả. Nói cách khác chỉ là những bông phong du ảo mờ, mỏng manh đến như vô ảnh. Nhắm mắt. Nhắc nhở hơi thở mình dịu nhẹ, dịu nhẹ, những ngón tay Vũ bị điều khiển rải nhẹ trên phím, lướt nhẹ, lướt nhẹ… Trong lớp lớp trầm tích ánh trăng, Vũ quay ánh mắt vào bên trong, lắng, thật lắng để khẽ khàng mở ngăn tủ kí ức chính mình, càng cố gắng càng chỉ nhìn thấy những hình bóng ảo mờ lung linh thoắt hiện lên thoắt lại biến tan lộn vòng theo dải âm thanh kêu đòi thao thiết, khiến con người chết lặng yên từ sâu thẳm, chết lạnh cóng giữa sa mạc cát cháy, chết thiêu tro giữa hồ xanh nước mát. Từ cõi ấy, những bông phong du giờ đã chịu hiện dần, những đốm trắng vẫn còn nhảy nhót, lung linh, bay lượn qua nhau, kí ức đang chơi trò trốn tìm ngày xưa nhưng dù sao những bông hoa bé xíu mỏng manh tinh tuyền ấy cũng đã hiện lên. Phong du trắng trời. Phong du trắng. Chỉ có phong du ngày ấy mới trắng như vậy.
Các ngón tay Vũ đột ngột dập mạnh xuống bàn phím rồi lặng đi như đêm đã thật sự đi vào khuya vắng. Chợt lại giật mạnh, giật mạnh, các cơ bắp trên thân thể Vũ căng cứng như chuột rút đau buốt rồi đột ngột giãn ra mềm nhũn, từng chùm âm thanh nổ bùng trên bàn phím. Lại nhanh chóng lặng lờ… Ước muốn dẫn con người đi, bào mòn con người mà không bao giờ cho con người ấy tới nơi, cứ cố sà xuống đậu lại nhưng rồi nhanh chóng bay đi, lả tả bay đi cùng trăm ngàn sợi trắng khô mỏng, như triệu triệu bông trắng khô mỏng, như tỷ tỷ nhân sinh khô mỏng rơi lao lung vào trong hư vô.
II.
Tôi nhặt từ tâm hồn tôi bông cỏ trắng
Trao tặng em đầu những ngày xuân,
Bông cỏ trắng trinh nguyên
Vừa bay vừa nở
Chỉ nhọc nhằn ở lại
Chỉ trĩu buồn cư trú đáy tim…
Ở thị trấn này ai ai cũng biết, cũng thường nhắc về Hiền là mối tình đầu của Vũ. Vũ im lặng giữ một bí mật trong lòng: Đó mãi mãi là mối tình đơn phương vô vọng, một tình yêu thầm lặng qua năm tháng nhưng không bao giờ tới đích của ông. Cô tú Hiền là con ông trưởng chi Thanh niên ngày xưa. Ngôi nhà duy nhất ở thị trấn này có đàn dương cầm. Đêm đêm, gã trai si tình tên Trần Vũ ngồi gục bên hàng rào để nghe tiếng đàn phát ra từ ô cửa sáng đèn. Có đêm trăng rất nhiều bông phong du từ đâu bay về, phong du đậu cả trên tóc, trên mặt, Vũ hứng được một bông cỏ trắng như tơ ấy trong lòng tay rồi lại tiếp tục dán mắt lên vùng sáng ấy, hướng tai về vùng sáng ấy, Vũ chìm đắm trong âm thanh dìu dặt man mác của bản xô- nat Ánh trăng mà cô tú tên Hiền đang chơi, Vũ tin những bông cỏ trắng kia chính là tín hiệu tốt lành. Quả thật đó là đêm duy nhất cô tú Hiền sau khi kết thúc bản nhạc đã bước ra mỉm cười với kẻ si tình ở góc rào. Ngày nghe tin dữ: Hiền bị băng huyết đột ngột qua đời, Vũ đã khóc cạn nước mắt, vật vã không thiết đến ăn uống, người gầy rộc đi. Vũ đợi lúc vắng người mới ra ngồi ủ rũ bên mộ Hiền, dân thị trấn này ai cũng thấy, ai cũng xót xa, rơi lệ trước hình ảnh buồn bã thương hại đó.
Sau, người ta nghe tin Vũ đã lên “Xanh”. Năm bảy lăm, Vũ trở về trong đoàn quân tiếp quản địa phương. Cô giáo Hậu là con cái nhà gia thế nhất nhì xóm biển lâu đời. Nhất Bát Tì, nhì Thất Ngà. Ông nội cô được xếp vào hàng thất phẩm đã qua đời, gia đình cô là đối tượng được lưu ý nhưng vì cô Hậu tích cực tham gia chiến dịch diệt giặc dốt, xông xáo trên mặt trận bình dân học vụ, được đi báo cáo thành tích trong mấy kì đại hội liền nên tổ chức cũng đồng thuận cho hai người kết hôn. Mấy mươi năm gá nghĩa sống với cô giáo Hậu, Vũ cứ bị chứng “đồng sàng dị mộng”, vẫn tôn trọng tình nghĩa vợ chồng nhưng tình yêu thì đã trót trao hết một lần theo bông phong du cỏ trắng ngày nào.
Trần Vũ rời ghế, nhạc thơ là thứ gì mà ám được cả vào con người sắt thép “lí trí” như Trần Vũ? Vũ lầm bầm đọc thơ rồi lầm bầm tự hỏi. Vũ chắp tay sau lưng đi qua đi lại cả mấy mươi phút, rồi áp người ra thành cửa sổ, rồi lại đi, rồi lại dựa vào thành cửa sổ, mắt trắng dại dán vào một nơi xa xăm nào đó. Vũ đi cả cây số đường trong căn phòng hẹp, chốc chốc ông lại quơ vội chai “Johnnie Walker” loại mạnh nhất, ngửa mặt, lắc lắc dốc dốc liên tục, rượu chảy tràn lên cả mắt cả mũi, đôi môi ướt sũng rượu mấp máy chậm dần. Vũ lại vật vờ đi, những viên gạch men bóng lộn như lún xuống in bóng, hằn dấu từng bước chân bâng quơ mà nặng nhọc của Vũ. Và trong cái vòng đi ma dẫn cuối cùng ấy Vũ ngã bẹp xuống nền nhà…
Vũ đưa tay hứng mãi, chụp mãi về phía trước với lòng tay trống không. Nhưng với Vũ lúc này, ông đã thấy thực, thấy mồn một. Bầu trời phong du chỉ hiện ra với kẻ si tình. Hàng trăm sợi mỏng manh cõng một cái hạt nâu xấu xí tựa ước muốn của Vũ luôn muốn bay lên nhưng cứ vướng bận cái thân xác nâu đen vàng đỏ tím tái tím bầm. Giải pháp cuối cùng cho ước muốn là gì? Trong cơn mê man do say xẩm đột ngột, Trần Vũ mơ màng cố bắt chước giọng điệu của một nhà triết học, Vũ lên gân nghiêm túc trầm trọng hóa ngôn từ như cái cách ông thường làm mỗi khi họp giao ban vào sáng thứ hai hàng tuần, nhưng bây giờ sau khi thều thào được trọn câu hỏi thì ông cũng vừa nhập thổ, ngất đi.
III.
Cô giáo Hậu lọt thỏm trong chiếc ghế da màu mắm ruốc, khuôn mặt nhăn nhúm, méo nhàu không khác gì lớp da bọc ghế. Căn phòng chợt sụp tối nhợt nhạt.
Vợ Vũ là người đàn bà câm lặng. Không ai biết được cô giáo Hậu ít nói hẳn đi từ lúc nào. Ngoài những giờ giảng bài bắt buộc ở lớp, thời gian còn lại cô Hậu trốn chui trong chiếc áo dày câm lặng. “Để khỏi đau thêm”, “Tự bào mòn khả năng của cơ thể để tự chữa trị”, “Để giảm bớt khả năng tinh thần”, “Để níu kéo được ngày nào hay ngày đó cái gia đình tro tàn ghẻ lạnh này”… Không biết bao nhiêu lý do gặm nhấm tâm hồn cô Hậu, hút hết sức sống cô Hậu. không biết bao nhiêu suy tư, lý lẽ đóng khung con người cô trong chiếc áo câm lặng mòn mỏi ngán ngẩm không còn cả những buồn vui thông thường của một kiếp người. Gần như tất cả âm thanh, mọi lời nói đều thừa trong nhà này, tê liệt, chỉ sự tê liệt là ngự trị lên người, lên vật, lên các khoảng trống trong nhà.
Vậy mà những âm thanh bật từ những ngón tay Trần Vũ vang lên trong căn phòng tối nay cứ vọng âm đến từng ngóc ngách, rền rền, len lỏi rồi vang nhói ngập tràn trong tâm hồn tưởng chừng đã khép kín của cô giáo Hậu.
Cô giáo Hậu ngã dụi đầu vào thành ghế, sau vài hơi thở dài hắt ra, khuôn mặt gầy gò vốn xanh xao càng bợt nhạt đi, bất động, hơi thở nhẹ như không thở rồi cái nhịp yếu ớt ấy cũng đều dần đều dần. Cô đang giận những việc làm của chồng mình trong thời gian gần đây. Cô giận Vũ đã cho người khai thác cát đen băm vằm cái xóm biển lâu đời bình yên của cô, cả dọc dài bãi cát rừng dương bỗng bị đào xới, mặn hóa, rồi hoang hóa, rồi cát bay mịt mù… Cô không còn mặt mũi nào mà về xóm biển, mà gặp lại bà con dòng họ thân thuộc. Trong giấc mê man, cô thấy người ta đang ghép mặt cho mình. Phải trải qua mười tám cuộc phẩu thuật lớn nhỏ, đến lần cắt chỉ cuối cùng người ta mới cho cô soi gương. Một bộ mặt mới toanh trơ ra gượng gạo xa lạ nhưng không còn rúm ró như khuôn mặt cũ. Trên một cái khay i-nox sáng bóng, cô liếc thấy khuôn mặt cũ bèo nhèo dị hợm máu me, không có mũi, hai hốc mắt trống hoác như hai vùng đen thăm thằm. Đó là khuôn mặt người ta vừa vứt ra sau cuộc giải phẫu cuối. Một bác sĩ nào đó quần áo trắng toát thì thầm nói sẽ giúp các dây thần kinh phát triển trở lại, máu sẽ lưu thông tốt hơn và các cơ sẽ cử động bình thường. Cô không dám tin vào những lời hứa ấy, cô chợt thấy sợ, mồ hôi lạnh tuôn túa nhòe nhoẹt hai bên thái dương làm cho vị bác sĩ phải rút cả khăn mùi xoa, rồi vạt áo blu của mình lau liên tục hết bên phải lại bên trái cho cô. Chợt tay chân cô run lật bật, đôi môi lập bập lạnh, cái lạnh đâu đó từ bên trong đang tràn ra, cô gào lên: “Trả khuôn mặt cho tôi!” Cô nhào tới cái khay i-nox, vung tay bứt hết các dây chuyền dịch quanh đầu…
Cô lại thấy mình đang lang thang trong dòng người đông đúc giữa chợ. Cô sựng lại khi nghe một con bé hỏi người mẹ: “Mẹ ơi! Phải con quỷ đó không mẹ?” Cô Hậu loay hoay tìm cái giấy chứng minh trong túi rồi lao theo tìm con bé, cô muốn nói với bé rằng “Cô đây, khuôn mặt trước khi giải phẫu của cô đây mà, cô là con người đàng hoàng chứ không phải quỷ đâu…” Cô lao đi tìm con bé trong dòng người, cô vừa chạy vừa dáo dát tìm, tìm mãi, thấy hai bím tóc gần giống là nhào tới hăm hở nhưng liên tiếp thất vọng vì không phải. Lại thất vọng. Lại sụp xuống. “Không thể để cho cô bé ấy tưởng mình là quỷ” Nghĩ vậy, cô Hậu lại bật dậy lao đi. Vừa thở hổn hển vừa gọi: “Cháu ơi! Bé ơi! Hình cô đây này, cháu xem… cháu xem…”
Trần Vũ bàng hoàng dụi mắt khi nghe tiếng ú ớ của vợ. Vũ lồm cồm bò dậy với tay đập đập rồi lay mạnh đôi vai gầy gò. Cô Hậu ậm ừ, từ từ mở mắt, một thực tại tê liệt trước mắt rõ dần, đối với cô nó còn ngán ngẩm hơn cả cơn ác mộng vừa rồi, cô đưa tay sờ lên trán, lên mũi, lên mắt mình như một thói quen làm những động tác bâng quơ của người vừa ngủ dậy. Sống với người không yêu mình và cả mình cũng kinh tởm thì ngày tháng trôi qua là thời gian của những cơn ác mộng triền miên.
Từ ngày Trần Vũ đặt bút ký vào bản hợp đồng san ủi trá hình khu nghĩa địa, thật ra là múc đất bán cho những dự án khổng lồ đến nay, lòng Vũ quả thật bất an. Vũ thật sự bấn loạn khi bà Sáu, một người bà con bên nội xuất hiện ở văn phòng ủy ban huyện. “Đồng tiền làm mù mắt ông hay sao mà ông lại cướp cả đất của người chết, hả? Hả!? Hả!? Hả!?” Trần Vũ biết tính bà Sáu nên vừa rót nước vừa xoa dịu: “Là chủ trương… là quy hoạch… con có muốn vậy đâu”. “Tôi dốt nát hông hiểu chủ trương chủ triết gì ráo, ăn cướp đất của người chết là tội tày đình, trời không dung đất không tha. Tôi nói cho mà biết: Ông liệu mà sám hối đi, dừng lại đi, kẻo muộn, kẻo muộn ông chủ tịch à… Trần Vũ để bà nói cho hả, ai chửi cứ chửi, ai làm cứ làm”. Nghĩ trấn an mình vậy thôi chớ Trần Vũ biết bà Sáu này đã từng dang tay dạng chân ra cản đường xe tăng khi chúng kéo xác một đồng chí của anh trên đường. Bọn lính xe tăng nhảy xuống chỉa súng, bà nắm luôn họng súng dí vào ngực mình. Bà trừng mắt hét lớn: “Dừng lại! Dừng lại ngay!” Khi chiếc tăng chịu dừng hẳn bà mới tuôn một thôi một hồi: “Tôi không biết Việt cộng là ai, tôi không bên này bên kia gì cả, nhưng người ta chết rồi không nên ác như vậy. Dù sao mình cùng da vàng mũi tẹt với nhau, Nghĩ cho cùng cũng con một nhà. Đừng, tôi xin các ông đừng hành hạ người ta nữa! Tôi biết tâm các ông không ác nhưng nhất thời bị ma xui quỷ khiến mà làm vậy. Thả người ta ra để bà con chúng tôi đem chôn. Bà con đâu! Tháo dây mau để mấy ông đây còn đi làm công vụ!” Chính tay bà bế xốc cái xác lên chịu một mình một đầu khiêng đi. Bọn lính không biết do bà đánh trúng huyệt hay chúng chưa chuẩn bị cho tình huống bất ngờ này nên không phản ứng gì, cứ đứng đực ra đó một lúc rồi lên xe đi mất. Trần Vũ nhớ hết, giao liên đã kể từng chi tiết cho Vũ nghe.
Bà Sáu lại tuôn một thôi một hồi trước mặt chủ tịch Vũ, rồi trước khi cầm cái nón lá te te đi ra khỏi cổng huyện, bà nhìn xoáy Vũ: “Ông chủ tịch huyện à, ông không nhớ để tôi nhắc cho mà nhớ. Cái mộ quét vôi trắng mới bị sụt lở đổ gãy chính là mộ của con Hiền đó. Con nhỏ linh lắm, tội nghiệp. Không ai dám nói điều đó với ông hả? Người ta sợ chớ già này… Ông biết rõ mà…
Mộ Hiền sao? Mộ Hiền sao? Mộ Hiền sao!? Trần Vũ thấy đất dưới chân mình đang nghiêng xuống, sụp xuống. Hình ảnh ngôi mộ toác làm hai lóe lên trong trí não Vũ, đập vào trí não Vũ cùng lúc với tiếng sét rền động. Vũ nhớ lại trận say vật vã tối qua, nhớ lại cái cách chơi đàn như bị ma khiến của mình mà xởn gai ốc. Vũ lim dim mắt tập trung để cố xua cái dòng chảy cảm xúc đớn đau tự nhiếc móc mình ra khỏi đầu nhưng càng cố xua đuổi hình ảnh ngôi mộ lở lói toác hai lại càng bám riết, dính chặt, hình ảnh bộ xương người gãy vụn tung tóe lại càng bám riết, dính chặt. Những chuỗi âm thanh chợt dâng lên buốt nhói màng nhĩ, rồi bùng vỡ, rồi phình lớn, những âm thanh chuyển thành những khối tròn nhòe nhoẹt trăng trắng, những cặp mắt quở trách tượng thành, nổi lên sắc nét trên khuôn mặt tối tăm. Tất cả đang chực quật ngã Vũ, bóp siết Vũ, còng cùm Vũ. Vũ đưa hai tay ôm lấy đầu. Căn phòng thực sự không còn ánh sáng. Vũ chìm trong tiếng đàn bản “xô-nat Ánh trăng”, tiếng đàn ma nhập của mình. Ánh trăng hiện lên lạnh băng trong tâm khảm Vũ. Những bông phong du lửng lơ, lửng lơ rồi đột ngột bấn loạn, bay vòng, giật, quắn, tung lên, liệng xuống, cả góc trời bấn loạn những bóng đổ của âm thanh. Trần Vũ chới với đổ vật xuống ghế như một thân cây tự mục rã, như một… thân… cây… tự… rã… mục. Rã mục. Rã mục. Rã mục.
Chân núi Tà Cú, tháng 4/ 2010
PHẤN
Chạng vạng, mắt thường quáng gà, lại là thời điểm người nuôi ong làm việc cật lực, họ sống trong chạng vạng nhiều hơn. Họ phải tất bật cho ong “ăn” ngay trong cái chốc lát đó, không được sớm cũng không được muộn. Sớm thì ong ở các thùng khác sẽ tấn công thùng nào được cho “ăn” trước. Muộn thì ong sẽ không “ăn” được, không tìm được phao, ong sẽ rớt vào nước đường. Phấn là một người đàn bà nuôi ong nhiều năm, là người làm việc phần lớn vào các buổi chạng vạng, hơn ai hết chị hiểu đồng hồ sinh học của chị chỉ giờ cao điểm vào lúc ấy. Xong việc vào giờ này, người ta thường nghĩ về bản thân mình nhiều nhất. Khi bóng người dài ra, sắp tan vào bóng đêm là khi con người bất nhất: tâm hồn hoa, thân xác vật. Cảm giác vừa dâng trào rạo rực lại vừa khước từ chị trong các thời khắc chạng vạng. Lâu dần rồi sẽ quen, lâu dần rồi sẽ quen, lâu dần rồi sẽ quen... Chị luôn nhắc nhở mình hy vọng... Lâu dần mình sẽ quen.
... Lưỡi lướt nhè nhẹ, liếm phớt lớp mật xoa da mặt Phấn. Chị tỉnh hồn, bước ra khỏi giấc ngủ. Chị vẫn giả vờ nhắm mắt, bất động. Lưỡi lại lướt bên má còn lại. Da thịt chị rân rân, vùng cảm giác sâu kín đã ngủ quên lâu nay chợt thức dậy. Một đường ấm nóng nữa, tới vành môi thì lưỡi ngập ngừng dừng lại. Phấn cố kềm chế để khỏi ưỡn người lên. Chị không dám cử động vì sợ mất đi những cảm giác mà rất lâu, rất lâu rồi chị chưa sống lại trong nó, dù là khoảnh khắc thoáng qua. Một cái gì đó nóng và nồng khẽ chạm môi trên, chỉ khẽ chạm viền môi rồi lại thôi. Chị chờ đợi. Chị nín thở chờ đợi. Chị nghe hơi thở gấp gáp phả lên mặt. Lưỡi đột ngột rà lượn mạnh bạo, tham lam quấn quanh môi, chỉ liếm lớp mật mà chị làm mặt nạ dưỡng da trước khi ngủ, còn môi chị vẫn đang hứng chịu cơn gió lạnh phũ phàng trêu ngươi. Phấn bàng hoàng choàng người dậy. Không có ai. Không bóng người. Không tín hiệu gì là vừa nãy đây đã có một chiếc lưỡi mềm nóng và nồng nàn tiếp xúc với chị. Chị rà tay lên khuôn mặt rít trịt của mình thì rõ ràng một số chỗ lớp mật đã mỏng đi. Chị muốn tự cười vào cái cảm giác rân rân như thật vừa qua. Có lẽ chỗ lớp mật mỏng đi ấy cũng là do chị đắp xoa không đều tay? Dù sao chị vẫn cố tin. Có ai đó, chắc chắn có ai đó đang yêu chị trong lén lút, trong sợ hãi. Cảm giác của chị đã bị khước từ; chị thốt lên khe khẽ, như là thái độ khinh miệt cho trí tưởng tượng của mình: Phấn ơi là Phấn!
Chị biết phấn chẳng phải là những hạt ánh sáng trên thiên đường rơi xuống trần gian tích tụ trong hoa. Không, muôn ngàn lần không, chị không còn dám tin những mộng tưởng của một thời con gái ấy. Những thân phận đã nhuốm đủ đầy trần ai nhưng tạo hoá trớ trêu lại đặt vào trong hoa thì có, nó chỉ mang một phần sự sống mong manh, mong manh đến mức tự nó thì không là gì cả. Khi còn trẻ đôi lúc chị còn tưởng tượng bao nhiêu là phấn hoa khắp cùng trời đất đã tụ hội về mà tạo ra vóc dáng hình hài bằng xương bằng thịt của mình. Mình là phấn. Lớn lên, Phấn là kẻ luỵ tình. Phấn chìm lặng trong bầu trời tình luỵ. Phấn xáo trộn và đổ vỡ. Phấn khát khao thoả mãn và mong muốn chìm ngập trong cảm giác được yêu...
“Làm hoa để người ta hái
Làm gái để người ta thương”
Hoa tàn thì nhạt phấn phai hương...
Phấn tàn thì là gì đây?...
Phấn rùng mình với bao ý nghĩ, bao liên tưởng chẳng đầu chẳng đuôi gì nhưng cứ tuôn tràn trong lòng. Phấn mở mắt thật to nhìn căng ra màn đêm đặc sệt, chị lắng nghe tiếng nước mưa rơi khẽ khàng trên lá, có giọt đọng đầy buông rơi những tiếng bục bục lách tách xuống nền nước ứ trong vườn. Chắc cơn mưa đêm trong khu vườn này cũng sinh ra từ trần tục nên cơn mưa mất trinh vì bụi bặm đục ngầu. Có một thời chị cứ ngỡ giọt mưa trong veo, cũng như chị đã từng tin rằng mình là hạt ánh sáng giáng trần. Chị thật sự thấy chua xót rồi thở hắt ra một cái thật mạnh, chị quấn chặt mền nhắm mắt lại.
Đêm sau. Đêm sau nữa. Cứ đêm đến là Phấn đắp mật lên mặt làm chiếc mặt nạ dưỡng da. Đêm nào chiếc mặt nạ mật ấy cũng đưa chị tới trước ngưỡng cửa của căn nhà cảm giác, rồi đóng cửa đánh rầm một cách ác độc...
&
Chạng vạng là thời điểm mắt sáng ngời nhưng không thấy gì vì khi bóng dài ra người ta quay vào bên trong. Ma ái tình đam mê là một loại vua không ngai, ai cũng nói, cũng tin nó ngự trị đâu đó trên trần gian này nhưng không ai thấy bao giờ... Phấn quá mệt mỏi vì ngày đầu dựng trại nhưng những ý nghĩ về ái tình cứ bám riết lấy chị, con người luôn bị hành vì thứ mình thiếu mà.
... Những chú ong thám thính lượn liên tiếp mấy vòng số tám rồi đáp xuống trước cửa thùng. Trong thoáng chốc tất cả vội vã bay đi, tiếng vo vo vu vu lan toả khắp khu vườn, đàn ong đã nhận được tín hiệu về một vùng phấn dồi dào và khởi động hành trình lấy phấn se tổ. Không gian dày đặc những dấu chấm li ti và âm thanh ngân nga quen thuộc. Vài con đã nhanh chóng bay trở lại, chân con nào cũng như mang những đôi ủng phấn màu cam. Phấn đứng quan sát chăm chú, chị đảo mắt một vòng vườn đào, cầu mong trời yên gió lặng, hơi an tâm vì lá trong vườn chỉ khẽ lay lay, im phăng phắc cũng sợ lắm, đó là sự im lặng chuẩn bị giông bão. Trời đất thật giống con người, cái gì trong trời đất có thì trong từng con người cũng có. Phấn lắc đầu quay bước vào trại. Vừa dọn gọn lại những chiếc khung dính sáp nham nhở, chị vừa nhanh tay gom mấy que củi nhỏ vương vãi cho ra phía sau, chuẩn bị bếp lửa đầu tiên của lần hạ trại này.
“Chào người về theo mùa bông!”
“Ủa vậy mà em tưởng... phải nói ‘về theo mùa bông trái vụ’.” Thanh long chong điện ra trái vụ...
“Trái, nhưng mà nhiều người làm thành ra thuận.”
Người vừa lên tiếng hết sức văn hoa ấy là một trung niên mù đeo kính râm. Ông ta đứng lại một thoáng lắng nghe tiếng bước chân của Phấn rồi phăm phăm bước tới.
“Sao nói hôm qua ra?”
“Có ai đợi chờ gì mình đâu anh, cứ thủng thẳng.”
“Có chớ. Có người ngồi lắng nghe tiếng chân em suốt cả ngày.”
“Thiệt sao?!...”
Mùa phấn, đương nhiên không phải là mùa lấy mật rồi, đó chính là mùa tăng đàn, gầy thêm ong chúa, củng cố lại lực lượng ong thợ. Chỉ sau tháng hai cho đến giáp tháng mười một, chị và bầy ong mới có mặt ở những vườn cây có hoa như vườn thanh long cạnh vườn đào lộn hột này.
Bếp lửa thả một ngọn khói mỏng manh lơ lửng lên trên những tán lá thưa. Hai người ngồi bên nhau lặng im. Đầu óc Phấn trống rỗng, chị đã làm tất cả những gì phải làm, giờ bắt đầu thấm mệt. Bốc những thùng ong trong đêm. Ngồi gật gù trên chiếc xe chở ong chạy gần hai trăm cây số. Liên hệ, xin phép chính quyền địa phương. Chuyển thùng ong xuống đặt ngay ngắn trên các giá sắt. Đóng cọc, giăng bạt. Lăn các thùng đường vào trại. Pha đường cho kịp buổi ăn chiều chạng vạng của ong... Đôi lúc Phấn không thể hiểu nổi sức lực ở đâu ra mà mình đã làm được chừng ấy việc. Hình như khi cha mẹ đặt cho ta cái tên thì đã vận vào ta một cái nghiệp nào đó rồi. Phấn nghiệm thấy trường hợp của mình thì đúng quá.
Ba trăm thùng ong không phải là một đàn lớn lắm nhưng đó là tất cả gia sản của Phấn. Thật ra chẳng có lý do gì để Phấn yêu đời đến mức luôn chân luôn tay như hôm nay. Phấn chẳng còn muốn nhớ đến cái gia đình đã tro lạnh từ lâu của mình. Lấy chồng chín năm là đúng chín năm ngồi chờ chồng. Cơm nguội rồi hâm lại, rồi lại nguội. Cái lồng bàn màu đỏ đậy mâm cơm là hình ảnh Phấn nhìn vào nó nhiều nhất trong chín năm mang lấy đời sống làm vợ. Phấn có lúc ngớ ngẩn nghĩ rằng mình đã nhìn nhiều đến mức làm bạc màu cái lồng bàn ấy. Nghe tiếng xe giảm ga ngoài đường là chồm người dậy nhưng rồi lại thất vọng quay vào. Có hôm, đợi mãi, khoanh người trên bộ xa-lông ngủ lịm đi rồi giựt mình, ra nhìn trời thấy khuya lắc khuya lơ, làng xóm chìm trong giấc ngủ, Phấn chỉ biết đánh một hơi thở thườn thượt ngao ngán rồi thui thủi quay vào nhà. Mà chẳng phải lí do chính đáng gì cho cam, bữa nào cũng chỉ một nội dung là nhậu, là lai rai, là karaoke. Vợ chồng người ta có thể gây gổ, xúc phạm nhau đến tận cùng rồi sau đó làm lành với nhau, lại yêu thương nhau như những ngày bắt đầu mới mẻ, đó là chuyện cơm bữa của nhiều gia đình, nhưng người ta không thể sống chung với một người chồng không thèm đếm xỉa gì đến mình. Sáng, anh ta đi từ sớm. Khuya, anh ta về trong trạng thái say khướt. Phấn cố chiều chuộng anh ta bằng mọi cách nhưng chẳng thay đổi tí gì và thật sự chị cũng có quá ít cơ hội. Phấn tìm cách lý giải nhưng rồi cũng chẳng lý giải được gì vì chẳng có thước tấc nào đo nổi lòng con người. Có khi anh ta mê muội những trò nhậu nhẹt, nghêu ngao ấy chỉ vì anh ta mê muội nó, thế thôi. Quyết định chia tay đến trong đầu Phấn như giọt nước tràn ly, nó nhanh chóng trở thành một quyết tâm sắt đá: Làm lại cuộc đời. Chị tin có những người đàn ông biết yêu thương đang chờ đợi mình. Chồng chị là giám đốc công ty thu mua mật ong. Anh ấy sinh ra trong một gia đình có nghề lấy mật lâu đời ở cực nam đất nước. Bà con dòng họ anh bây giờ vẫn còn sinh sống quanh khu chợ Kramuôn So, tức chợ Sáp-Ong-Màu-Trắng. Ông cố nội anh là thợ gác kèo “ăn ong” chuyên nghiệp từ thời người cháu sáu đời của Mạc Cửu là Mạc Tử Khâm đấu tranh đòi Krautheiner, thống đốc Nam Kì, trả nguồn lợi ong cho dòng họ gia tộc của ông ta. Cha anh đấu thầu lô, làm ăn phất lên, là người luôn đóng vai trò Tằng Khạo, một vị trí ở bậc nhất trong “Trại ăn ong” được cất hàng năm. Truyền thống gia đình là vậy nhưng người chồng của chị đã sa đà vào chốn ăn chơi trác táng, bỏ mặc công việc, bỏ mặc vợ ở nhà. Vợ chồng cưới nhau xong là gia đình hỗ trợ thành lập cơ sở nuôi ong và mua bán mật lớn nhất lúc bấy giờ ở miền Đông nhưng cho đến khi Phấn quyết định chia tay thì công ty ngấp nghé trên miệng vực của sự phá sản. Phấn bỏ lại sau lưng tất cả và trở thành người nuôi ong du mục từ đó.
&
Chạng vạng là ranh giới giữa khoảnh khắc và trăm năm... Phấn vẫn tiếp tục miên man trong dòng suy nghĩ.
... Phấn vẫn phải sống, vẫn phải bám vào cái nghiệp du mục. Từ đầu năm đến nay, đàn ong của Phấn đã di chuyển hơn mười nơi. Thoạt đầu, trong những chuyến đi dài ngày lùi lũi trong cô đơn lạnh lẽo, trong nắng gắt mưa mù triền miên, Phấn còn mong đến tháng mười một, nhìn thấy bụng con ong vàng óng lên là mừng, là đã vào mùa quay mật để kết thúc một năm rày đây mai đó bầm dập, nhưng rồi bây giờ chị không còn cảm giác trông đợi ấy nữa. Đi cũng chính là cuộc sống của chị. Bầy ong chính là những người bạn thân thiết của chị. Con ong chúa ở thùng số chín đã quá sồ sề, vô dụng, bị bọn ong thợ khiêng ném ra ngoài. Một lần lỡ cho ăn trước giờ chạng vạng, các bầy ong xông vào thùng giành đường của nhau, những trận chiến ác liệt xảy ra, xác ong chết vốc từng nắm trên tay, chị khóc sạch nước mắt. Một mùa phấn, cách đây bốn năm, hơn nửa bầy ong tự dưng rụng cánh rồi ngã lăn ra chết. Khi lim dim mắt đã thấy cái hố “trắng tay” hiện ra ám ảnh, tưởng tất cả đã không thể cứu vãn, nhưng rồi Phấn phát hiện ra bầy ong bị một loài kí sinh giống như những con chí nhỏ tấn công. Muộn còn hơn không, chị chạy đôn chạy đáo bằng mọi cách để cứu được bầy ong còn lại... Tất cả chuyện về bầy ong, những sự cố, những được mất, vui buồn của bầy ong cũng chính là những câu chuyện được mất vui buồn của chính Phấn.
Phấn hoa, một chút gì đó thoảng nhẹ trong không khí, chỉ có những người nuôi ong như Phấn mới nhận biết, thường thì phải nhờ đến đôi chân của những chú ong. Chị không lí giải được khả năng đó, mà cũng hơi sức nào với những thắc mắc vớ vẩn như vậy. Chỉ có một điều làm chị thấm thía: Cuộc sống của chị là cuộc sống đi theo mùa hoa, mùa lá. Mùa thanh long, chong điện ra hoa, thì theo lấy phấn se tổ gầy đàn. Mùa lá cao su tiết mật lá non, mùa bông tràm đọng mật vàng rực, Phấn dẫn đàn bám theo từng khu vườn, có khi đi qua năm ba tỉnh để lấy mật. Quay mật bán xong lại mua đường dự trữ, lại gầy đàn, từ một thùng ba khung, rồi bốn khung, đến mức đạt sáu khung, lại quay mật, lại ra đi. Phấn đi mãi, chẳng còn nghĩ đến chuyện trở về, không còn có khái niệm trở về trong đầu. Cũng chính những chuyến ra đi bất tận như vậy đã hoá giải được nỗi hận, niềm đau trong lòng chị, tất cả đã được chôn kín xuống đáy tim, cho đến một ngày...
...Gió lồng lên xao xác vườn đào lộn hột, ong co cụm lại trước cửa thùng, một số con liều mạng bay lên nhưng đã bị thổi bạt trở lại, chân trơ ra như những chiếc que nhỏ, không giọt phấn. Hơn ba trăm thùng ong xếp thành hai cụm chín hàng như hai ngôi làng nhỏ heo hút buồn bèo, cư dân ong không buồn trò chuyện với nhau, không buồn chào nhau. Tất cả co cụm lại. Chỉ có gió rít, gió giật. Gió không trong veo như người ta tưởng, gió nhám xàm, thổi qua vườn rồi vẫn cứ nhám xàm, không thấy đâu vẫn cứ nhám xàm, thốc vào mặt thì như roi quất, lòn vào da thịt thì da thịt tấy đỏ cả lên. Bụi đất ở cái xứ sở này cũng nhiều như ma vậy, cũng ẩn mình ghê gớm như ma vậy. Người còn muốn ngã gục, huống là ong.
Phấn nhắc ghế ngồi bó gồi nhìn lên trời sao. Chị nghĩ mông lung về bầu trời sao trống rỗng vậy mà chứa bao nhiêu là sự sống, bao nhiêu là sự kì diệu. Lòng người hẹp hòi quá chắn chắn sẽ bế tắc. Phấn cố chuyển dòng suy nghĩ của mình về hướng yêu thương.
“... Hoan lạc thú, biệt ly sầu
Nỗi khổ chứa đầy tình tương tư.”
Phấn ngâm nga đoạn thơ nàng nghe được khi vào trong xóm lấy nước, truyền hình đang chiếu phim, ngày còn đi học, đọc truyện Kim Dung nhiều, thậm thà thậm thụt, lén lén lút lút cúi đầu xuống hộc bàn, vậy mà không nhớ mấy câu này, nay tự dưng nghe từ miệng sát thủ Lý Mạc Sầu trên phim lại không sao quên được, nó cứ bám dính như keo. Tại sao kẻ hận đời hận tình lại ngâm nga được những câu thơ hay như vậy?
&
... Bước ra từ căn phòng quay mật tối om, Phấn cởi bỏ bớt một lớp áo, chị phát hiện ra mấy con ong đã chui vào tận áo lót. Trong khi bắt những con ong táo tợn ấy, chị chợt nhớ về người đàn ông mù chủ vườn mà chị bám víu như một cứu cánh. Anh ấy đã làm chị thất vọng.. Phấn nghĩ là mình đã cuốn anh ta vào trò chơi “ăn ong liếm mật”, một trò chơi xuất phát từ những hoang tưởng cuồng dại của mình.
... Phấn bực mình vì anh ấy cũng chỉ biết liếm mật trên chiếc mặt nạ dưỡng da của chị rồi ngồi bần thần. Chị định ôm chầm lấy anh mà kéo rịt vào lòng nhưng nhìn thấy khuôn mặt ấy, mọi hứng thú đã nhanh chóng tan biến.
Đêm sau, không dừng ở mặt nạ mật, Phấn thoa mật lên khắp cả cơ thể, rốn chị ứ đầy mật, mật tràn xuống cả hai bên bẹn. Phấn cười thầm một mình rồi nằm ngửa ra trong lều. Khi nghe tiếng chân của anh mù đến, chị nhắm mắt, nén cho hơi thở nhè nhẹ, giả ngủ say. Anh chàng bắt đầu rờ mó nhè nhẹ rồi bắt đầu như mọi khi, khắp nơi trên khuôn mặt, trừ môi chị. Lại rờ mó. Lại tận rốn. Một cách tham lam. Phấn nghe cả hơi thở anh mù bắt đầu mạnh dần, nhanh dần. Cả cơ thể anh ấy bắt đầu vồ vập trên người chị. Người chị đã bắt đầu ứa ra, cảm giác tê mê đã lan khắp cùng khiến toàn thân mềm nhũn. Ngay lúc ấy, anh mù đã dừng lại. Chị cố chờ đợi thêm, nhưng vẫn không có gì ngoài những giọt nước nóng hôi hổi nhễu ra từ người anh ta.
Mật em đây, sao anh không uống?
Hồn em dâng, sao anh chẳng...?
Phấn kết luận: đa phần đàn ông chỉ thích mật chứ không biết yêu.
Bực mình, Phấn đã đuổi anh ta đi cùng với lời đoạn tình dứt khoát trong đêm: “Hãy coi nhau là bạn anh nhé!”
Ngày hôm sau, trước khi chạng vạng, Phấn đã thay mật bằng nước đường rưới lên khắp cơ thể. Và ngay lập tức từ hơn ba trăm thùng ong, tiếng vù vù rộ lên, đàn ong vỡ tổ. Chúng đậu đầy trên mặt chị, Phấn nhắm mắt lại, bất chấp. Chúng đậu đầy trên vú, trên rốn chị khiến toàn thân chị rạo rực. Cảm giác nhột nhạo dâng lên. Trăm ngàn mũi kim li ti châm vào da thịt, chỗ này nhói đau, chỗ kia nhói đau, chỗ kín nhói đau, chỗ hở cũng nhói đau. Phấn chồm dậy, cố mở mắt nhìn, chị hơi hốt hoảng với cảnh tượng cả cơ thể đã bị lũ ong phủ kín. “Con người ong” khẽ cựa quậy. “Con người ong” lưỡng lự, nửa muốn dừng lại cuộc chơi điên rồ này, nửa lại tiếc uổng những cảm giác rất lạ nên cố nằm xuống. Ảo tưởng. Chị tiếp tục ảo tưởng về sự thoả mãn, dù đau nhưng thoả mãn, còn hơn ta mãi mãi không được gần nó. Sự ảm đạm hằng ngày ở trại ong đã bị nàng giết chết bằng trò chơi ảo tưởng này. Chị bị cuốn vào dòng xoáy của những mũi kim. Da chị mòn đi bởi những mũi kim. Máu chị cạn đi bởi những mũi kim. Một thứ cảm giác diễm lệ hơn tất cả tình yêu diễm lệ trên đời này cộng lại. Chị đang có nó. Chị tự tạo ra nó. Chị muốn biết như thế nào là tột đỉnh để lý giải niềm bất hạnh của mình. Chị giận đôi mắt mù, con người mù. Chị dưỡng da cho trắng trẻo để làm gì khi có ý định ăn ở với một gã mù chỉ biết quờ quẫn rờ mó. Chị nhờ những đôi cánh côn trùng để trả thù đời, để lý giải chính mình. Phấn tưởng mình nhanh chóng kết thúc bữa ăn cảm giác này, sẽ bắt đầu cất tiếng hót của chim trời trong tột đỉnh cao xanh, trong ngất ngây đê mê, trong rùng mình mãn nguyện, nhưng chị đã lầm, cơn nhức nhối ê ẩm không chịu nổi chợt lan ra nhanh chóng. Cơ thể chị tan rã. Những hạt phấn tạo nên chị tan rã trong cơn đau buốt. Mắt hoa. Tai ù. Chị bắt đầu chao nghiêng. Chị bắt đầu mê man. Chị thấy rõ ràng bầy ong đã bay lên rồi tụ lại đen kịt trước mặt, bầy ong đã sắp xếp thành hình khuôn mặt, rồi mắt, rồi mũi... Đó là hình khuôn mặt người chồng cũ của chị, khuôn mặt mà chị đợi chờ ngày ngày đêm đêm trong chín năm làm vợ. Tại sao cứ phải thấy khuôn mặt ấy?! Hơn ai hết, chị hiểu tất cả những việc làm điên rồ của chị, kể cả sẵn sàng huỷ hoại cơ thể của mình cũng chỉ vì mục đích muốn trả thù người đàn ông đã phản bội tình yêu. Chị tức giận gào lên, chồm lên.
Phấn tỉnh lại, quằn quại gạt phăng lũ ong ra khỏi cơ thể. Ảo tưởng sụp đổ. Rã rượi. Chị ôm mặt khóc rấm rức, tiếng khóc nặng đến mức rơi xuống như những giọt mưa, cơn mưa đêm trong vườn chẳng còn trinh trắng.
&
Nỗi xót xa trong tình trường dù ở mức nào rồi cũng phải qua đi. Những năm đầu xa chồng đầy khó nhọc sẽ qua đi. Phấn còn phải sống với, trong thực tại của chính mình, vậy thì cớ gì mình lại để sự oán giận dẫn đường. Có lẽ Phấn cũng đã biết mình sai khi lấy sự thù hằn, hờn giận thế gian làm tâm mình, biết đó là độc tố của đời sống sao không tìm sự trống rỗng tĩnh lặng mênh mông như của bầu trời kia? Trung tâm của con người, đường đi của con người sao không phải là bầu trời vị tha mênh mông ngập tràn sự sống. Nghĩ được như vậy chị thấy mình như một hạt phấn lửng lơ trôi bên vô vàn những hạt phấn khác thơm tho ngào ngạt cả một vùng trời. Trong một đêm, vườn thanh long sáng rực bởi những bóng điện nối nhau mút mắt, bởi trăm trăm ngàn ngàn bông hoa trắng muốt trinh nguyên, mặt đất đầy hoa và ánh sáng như sự tụ hội của ý hướng tinh sạch, giải toả hết mọi áp lực, chị đã tự tha thứ cho mình với những gì xảy ra trong các buổi chạng vạng vừa qua. Đừng bao giờ xét đoán kiểm duyệt mùa xuân, dù là chỉ xét đoán, kiểm duyệt những bóng mờ của nó! Chị tâm niệm như vậy, từ chính cuộc đời mình.
Phấn hình dung đến cảnh sáng mai, trong ánh nắng sớm rẽ quạt lung linh của vườn đào, chị vừa vươn vai vừa mở nắp những thùng ong để chúng vù đi. Trên tầng xanh cao cao, chiếc lá non vừa nhú lên đã đọng giọt mật lấp lánh ánh sáng như ngọc của cây, những giọt mật cùi thanh sạch quý giá, không nhiễm độc tố. Sau những u uất, đông lạnh, xám trơ, mùa xuân của đất trời sẽ về thật đúng lúc. Mùa xuân của con người rồi chắc chắn về đúng lúc. Phàm điều gì xảy ra trong trời đất cũng xảy ra như vậy trong từng con người. Chạng vạng vừa rớt mất dạng vào cái túi không có thật, cái-túi-cảm-giác của Phấn, mà cũng là của vũ trụ mênh mông.
Dưới chân núi Tà Cú, 12/2008

Bìa tập truyện ngắn "Âm thanh đổ bóng"
MỊ LỰC
Uống đại dương no cứng nỗi ham mê
Vẫn chết khát bụng người nhai đá tảng
Bốp… Bốp… Có một bệnh nhân tâm thần chốc chốc lại vỗ hai tay vào nhau, miệng lại lầm bầm: “Vì tao, tao phải đánh mày, vì mày tao phải đánh mày, đánh tao…” Thoạt đầu, chẳng ai hiểu bệnh nhân tên O này muốn nói gì, sau một lúc, mọi người mới ồ lên: A, là vỗ muỗi. Chính vì câu đố buồn cười ấy của O mà trong bệnh án có ghi thêm “dị ứng với muỗi” rồi lại thấy thêm dòng gạch nối “muỗi chứ không phải mũi”. Ai đọc trang bệnh án này cũng phì cười vì sự lẩm cẩm của vị bác sĩ tâm thần, nhưng ai đã từng ở bệnh viện lúc ấy thì thấy thương cho ông bác sĩ già suốt ngày bị “tra tấn” bởi những câu chuyện muỗi, giấc mơ muỗi quái dị của bệnh nhân tên O này. Có thời điểm tưởng O hết bệnh, vị bác sĩ đưa cho O một trang sách tiếng Anh, O đọc rành rẽ, giọng chuẩn Luân Đôn làm cho vị bác sĩ gật gù liên tục. Bác sĩ hỏi chuyện thiền, trúng đài, O phát một thôi một hồi những hiểu biết sâu sắc không chê vào đâu được. Cũng vì câu nói tỉnh táo của O: “Thiền giúp uốn nắn đặc tính dân tộc và văn hoá” mà vị bác sĩ chắc ăn O hết bệnh. Khi O bước ra cửa, ông còn nhận xét : “Thành phần của nông dân miền Nam thật phức tạp, trước khi mặc áo nâu, họ mang áo trắng cổ cồn, quá nhiều người như vậy…”
Đầu giờ chiều, vị bác sĩ đem giấy xuất viện đến cho O thì không thấy O đâu cả, bác sĩ nhìn xuống gầm giường thì phát hiện ra O đang thu mình một góc.
-Anh làm gì ở đó?
-Suỵt suỵt… Để cho mấy con muỗi tìm chết cha nó luôn…
Vị bác sĩ lắc đầu cất tờ giấy xuất viện vào túi. Trong cái lắc đầu của vị bác sĩ có sự thất vọng, có cả nỗi buồn thương những gì bệnh nhân O đã trải qua, buồn thương cho cả những giấc mơ kì dị mà ông đã nghe bằng cả tấm lòng khi chính O kể lại vào những ngày đầu óc tỉnh táo.
&
…O lôi cái bàn ủi “con gà” trong góc bếp ra, dốc dốc tay trút hết lớp tro bụi, tẩn mẩn tỉ mỉ lau cái khớp nắp hình đầu con gà bằng đồng đã rỉ xanh, hì hụi ngồi quạt mấy cục than cho hừng đỏ, công việc mà hơn hai mươi năm nay ông chưa lần nghĩ tới. O hất nắp đầu gà đánh trốc một tiếng vừa nghĩ: “Chà, rồng lại mời tôm đến nhà, chuyện lạ đây.” Vừa đè mạnh tay đưa cái bàn ủi qua qua lại lại các nếp nhăn của chiếc sơ mi “si- đa” mới mua mùa lúa trước, O vừa nghĩ ngợi lung trong đầu. O khoác áo, vuốt thêm mấy lần vạt cho phẳng rồi băng bờ ruộng qua khu toà nhà cao lớn, sáng trưng ánh điện.
-Ô, người anh em, hàng xóm với nhau bao nhiêu năm…
-…Nhà lớn ngạch cửa cao…
-Ôi, của nả phù du, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau. Chẳng qua anh… Thôi, mời mời…
-…
… - Mây xứ mình lạ thiệt đó! Đêm mà mây cứ mồn một như giữa ban ngày. Tui gọi nó là mây Niết bàn, anh thấy được hông? Hắn nói. O ậm ừ. Không phải là không có gì trong đầu nhưng O mang máng ngờ cái lõi của chuyện mời mọc này chưa được nói ra. Khi hắn gọi thứ mây hồng ở đây là mây Niết bàn thì O định cãi lại: Niết bàn là cõi không còn tham sân si sao lại ví kì cục vậy được, nhưng rồi chính O cũng đã tìm được cách lí giải theo hướng ma ma Phật Phật của hắn, thật ra thì do nhiều đêm ngồi một mình O cũng thường ngắm mây hồng bay trong đêm.
…Mây hồng trôi trong đêm là thứ phù hoa hơn tất cả các loại phù hoa, có lần ngồi bó gối ngước lên bầu trời, O đã lẩm nhẩm hát một đoạn như vầy: “Cho mây ươm tóc em nồng /Tình yêu tắm trong mây hồng…”, nhưng rồi thả trôi ánh mắt mình hồi lâu theo những mảng sắc hồng hồng anh ánh đó O chợt xấu hổ vô cùng vì cái tính trời trợt bẩm sinh của mình, đến mức nhầm lẫn thứ màu mỡ giả tạm, thứ phong lưu mượn hồn độc hại với nhẹ hồng buổi sớm, với rung động đầu đời, với đôi môi nồng nàn lãng mạn đẹp đẽ nhất kiếp nhân sinh. Mây hồng ở đây là loại mây xà xuống thấp do ánh đèn của hàng chục ngàn bóng điện tròn bảy lăm oat đồng loạt hực lên cả đêm mà hồng hồng đỏ đỏ vàng vàng, mà biến ảo hư hư thật thật, bởi vậy sắc của nó mới vừa giả tạo vừa bợm bãi đe doạ làm sao, hình của nó mới vừa hào nhoáng, vừa rỗng xốp đến kẻ dại nhất cũng sinh lòng nghi ngờ, hồn của nó lờ đờ trôi thấy đó mà như là chẳng có. Nó là ngọn lửa đã tắt. Nó sinh ra từ hư không (hư không chứ không phải tính không) và đang lừ lừ bay về hư không, như một xác tro không hơn không kém. Vậy mà hắn, gã trọc phú mới, đi đâu ngồi đâu cũng xưng danh nhà thơ ấy, cứ huyên thuyên.
Chỉ miền quê rặt, chó ăn đá gà ăn muối, mái tranh vách đất u u ám ám… mà rồi đột ngột xôn xao nhà nhà người người chong điện sáng trời sáng đất, mật độ hạ bình điện trong nháy mắt đã hình dung biểu đồ dâng một cột đỏ lòm lòm cao nhất nước, xe xe cộ cộ rồ rồ ăn chơi bia bọt, tiệc tùng chung chi, mánh mung, phe cánh, thủ đoạn rục rịch trắng đêm,… mới có loại mây hồng lờ lờ sáng bầu trời khuya. Màu mây, loại mây ấy chưa thời nào, chưa nơi nào trên trần gian này đường đường chính chính trình diễn trên bầu trời đêm lâu vậy. Phàm thứ gì màu mỡ giả tạm, qua nhanh thì người đời gọi phù hoa, vậy mà mây hồng ở đây thì hắn lại xem là mây Niết bàn: rung riêng rủng riểng trắng nói đen còn được thì bài ca con cá mây Niết bàn nghe sặc luận điệu ru dụ có gì là lạ, những gã “nhà thơ” địa phương như hắn xét cho cùng chỉ là những thứ trang sức, đầu sai hoặc dùng mỹ từ “thơ” chỉ một mục đích là “cho sang”, (nghe nói có người trong hai năm đã viết được chín trăm bài thơ, gửi đăng khắp các tờ tin từ cấp huyện cho đến cấp ngành nghề, có người nhờ hai tiếng nhà thơ mà thăng quan tiến chức như diều gặp gió, có kẻ trọc phú mở miệng là “cánh nhà thơ tụi mình”… Kiểu “nhà thơ” nhan nhản các chiếu nhậu), họ không đáng để tranh cãi. O thầm nghĩ vậy rồi đưa tay phẩy một cái vào khoảng không.
Uống hết hai bình trà với đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Hắn huyên thuyên. O ậm ờ. Mấy lần nhìn vói xuống bếp, hắn mới hắng giọng: Xong chưa bây? Dọn cho bác O với tui mâm đặc biệt nha, dọn thẳng ngoài hiên này cho mát! Vợ hắn lật đật bưng mâm chén bước lên, thơn thớt nói cười, chợt mắt bỗng lấm la lấm lét, mặt cúi gầm xuống đất. O đã thấy được thái độ ấy nhưng chưa biết nó là gì. Mùi thịt thà, xà lách, bánh mì bay thốc lên mũi, O cố kềm chế để không phải nuốt nước miếng.
Hắn tự tay nhấc chiếc chảo dày đặt lên bếp ga, đổ dầu ăn vào, chảo vừa bốc lên mấy sợi khói, hắn gắp hai miếng thịt bò bỏ vào xèo xèo, đẩy qua đẩy lại. Hắn nói: Món bò bít tết này phải làm tới đâu ăn tới đó mới ngon. O đã nuốt trôi ba miếng, ly rượu Tây đã làm hai má O nóng bừng, O mới hỏi “Nay có chuyện gì mà thịnh soạn thế này?” “Có gì đâu, hàng xóm láng giềng chiều chiều lai rai với nhau tí chút thì nhầm nhò gì mà thịnh với soạn.”…
Khi đã ngà ngà lâng lâng, hắn đưa O ra cổng, vừa vỗ vỗ vai, hắn vừa thì thào: Tôi chỉ cho anh bí quyết làm thịt bò cho mềm nghen: Một chút chanh, anh nhớ chưa, còn hầm thì phải là ổi non, chua chát nó mới mềm, chua chát nó mới…mềm… Hắn vỗ vai O một cái thật mạnh rồi cười hề hề quay vào nhà.
Mấy lần lên bờ xuống ruộng, cuối cùng O cũng lảo đảo đặt chân lên đất nhà. “Chua chát nó mới mềm”, sao hắn lại nhấn mãi cái câu ấy? Chợt có linh tính điều gì đó chẳng lành, O phăm phăm tiến về phía chuồng bò nhà mình. Lẽ ra O phải nghe tiếng cạ cạ vào chuồng của con Khú mới phải, sao lại im lặng? O rút khúc cây cài cửa. Con Khú nằm bẹp một góc chuồng. Chân O dẫm phải thứ gì sền sệt như bùn. Máu! O dụi mắt liên tục, rõ ràng là máu…
&
Cuộc đời O nghĩ cũng tủi thân, thật ba chìm bảy nổi chín lênh đênh. Lúc còn nhỏ thì tức tối lồng lộn với bọn bạn bè trẻ con cứ theo trêu chọc bằng cái câu hỏi khốn kiếp “Ai đi đó?”, rồi nói lái lại là “O đi…”, chỉ vậy mà suốt thời niên thiếu lúc nào O cũng như người ngứa gan, sẵn sàng cà khịa với bất cứ ai. Lem luốc lớn lên, giấc mơ nào cũng thấy mình đóng vai người hùng, kẻ giàu có, được thiên hạ ngưỡng mộ nghiêng mắt lặng người, nhưng mải chỉ trơ những bước chân khập khiễng té trượt chúi nhũi bữa đói bữa no, giờ lại ánh hồng tàn tro, mị lực đảo chao bám riết hành hạ trong đầu. Từ ngày nghe được ba tiếng Mây - Niết - Bàn, lòng chợt bất an, nửa muốn cãi lại cái gã nhà thơ trọc phú mở miệng là văn nhã xập xoè, nửa hy vọng tìm ở đó sự quyến rũ, lý giải khác: Có thể Niết bàn ở đây được hiểu là cách nói theo kinh nghiệm nội tâm. O trách mình sao lại không biết trong lịch sử thiền cũng đã từng có cách nói “Cầu trôi chứ nước không trôi” phi lý và mâu thuẫn này? Có lẽ tay nhà thơ lừa bịp mua đất của O nói những điều phi lý một cách đầy lý lẽ? Rồi O muốn xét lại mình, O phỉ báng mình, coi ba cái lý sự cùn, ba cái chữ sĩ trong đầu có phải là thứ vô dụng ác độc giam hãm tù đày mình lâu nay.
Vì muốn mua mấy mảnh ruộng và lô vườn liên canh liên cư mà hắn đành đoạn cho người thẻo mông con bò Khú để tách O ra khỏi mảnh ruộng của mình. Bữa tiệc thịt bò bít tết ấy đã làm O chết điếng cả năm trời, chẳng làm ăn gì được, O đã khóc hết nước mắt. Nhớ lại đêm ấy, O ngồi ôm ngang cổ con Khú suốt đềm, mắt dại chằm chằm nhìn muốn đục chém màn đêm cho hả giận. “Khú ơi! Là Khú ơi! Mày có tội tình gì đâu!?” Đến nửa khuya, thì O cũng gào rú được một thôi một hồi. Con Khú đã gắn bó với O trên mảnh ruộng sớm sớm chiều chiều như hình với bóng hỏi làm sao không buồn thương cho được. Cứ nhìn cái lưỡi cày rỉ sét lỗ chỗ vàng, bơ vơ bất động nắm một góc hiên là không cầm nước mắt. Mỗi lần rơi nước mắt là mỗi lần hình ảnh cặp mắt lấm lét của vợ hắn lại hiện lên làm cho người O căng lên, nóng bức không chịu nổi… Cuối cùng lòng thù hận cũng nguôi ngoai, bởi làm gì hắn thì thật tình O cũng chẳng dám làm gì phạm pháp, đành ngậm chát nuốt chua mà bán tất cả ruộng vườn hương hoả ông bà để lại cho hắn. Đôi lúc, nhớ lại mọi chuyện, O còn cám ơn hắn, nhờ hắn mớm cho viễn cảnh “phi thương bất phú” mà anh mới có ý tưởng độc đáo riêng mình. O mang tiền bán đất đi thuê một lô mặt đường, O gò lưng đi gom lượm, khiêng, vác, thồ mấy chục phiến đá vảy đủ hình thù trốc ra vương vãi dưới chân núi, mướn thợ may hàng chục bộ nhục bồ đoàn, áo nâu, mở quán cà phê Thiền, với mong muốn giúp người tĩnh tâm, quên đi sân hận, ham muốn, O quá ngao ngán với những chiếc bóng người, mọi tầng lớp, đang xoèn xoẹt lao đi cuồng dại mê đắm với bụi đường, bụi tiền, bụi tham bám dính, bụi ác dày trơ ngoài kia, quá ngao ngán với bao thủ đoạn ác độc chiếm đất, chiếm nhà của bọn trọc phú mới. O muốn xả và cũng muốn mọi người cùng xả nhưng O đã nhầm, con người ở đây chỉ chiếc bè trôi chở chống lòng tôn sùng của nả, bạc tiền đang mê cuồng trôi với cuộc đời bão dông. Thời của những thói mạt tâm. Quán khai trương cả tháng vẫn vắng như chợ bà Đanh, lỗ trắng mắt lại còn bị người ta chửi cho ê mặt: Vớ vẩn, uống cà phê để bàn chuyện làm ăn, để bạn bè tán gẫu, để giết chết thời gian… sao thiền được. Dù O ra sức thuyết giảng, giải thích cũng không ai nghe. O nói: Ngồi tĩnh tâm với ly cà phê sẽ giúp mọi người đánh thức sức mạnh vốn có bên trong mình. Họ bịt tai, bịt mắt, bịt miệng.
Lời nói của O gió thổi bay đi. Thiền quán của cũng tan như bọt nước. Từ ngày cất những chiếc áo nâu và những chiếc nhục bồ đoàn vào một góc nợ nần, O chuyển qua mở trại bia lộ thiên ven con đường vào Lũng Say này, những đêm vắng khách O thường nhìn mây hồng bay, lâu dần thành thói quen, O đâm nghiện loại mây phù hoa này mới hết nước nói. Khách quen ở trại bia thường ngồi ngập vào những buổi chiều chỉ là cán bộ công nhân viên chức và các tay mánh mung buôn bán chung chi, lần đầu tiên O thấy gã nông dân xuất hiện ở đây mà lại uống “lầy”, không biết bao nhiêu là vỏ bia vương vãi quanh bàn, quanh chân. Thoạt đầu, gã uống và nói chuyện trâu bò heo gà, thanh long gạo đậu:
-Hai răng trưởng thành chính giữa mọc bằng, hai răng sữa áp vừa rụng, nó hai năm tuổi. Tôi nói sai tuổi trâu mới là lạ…
…- Thanh long năm nay được giá, cái xứ chết đói đến nơi, bo bo mì lát muôn năm, tự dưng lại được trời cứu đói…
Sau đó, gã tự kể chuyện của mình, rồi gã khóc, rồi gã hát như bị rượu xô rượu đẩy, tẩu hoả nhập ma, sa đà trẻ nhỏ. Gã này uống bia nhiều đến nỗi O nhìn mà say theo. Cũng có thể trí tưởng tượng của O có vấn đề, nhìn gà hoá cuốc còn đỡ, đằng này lại nhìn một nhoè thành ba, O thật sự thấy trên cái bàn ấy có ba người ngồi, O nghe rõ ràng họ nói chuyện với nhau, họ hát với nhau. Ba con người rõ ràng: I, Ư và Ơ, O đặt tên cho họ như thế cũng vì những lời hát phát ra mang sắc thái dân ca đủ cả ba miền:
- Đẹp như trong mộng ì ì ì ì ì… Í…i… ì…
-Say... Say …Trời đất lăn quay…ứ… ư… O tưởng tượng ra người bên cạnh vừa ngã nghiêng ra bộ ra tịch vừa đưa tay định dìu người có giọng hát i i kéo nhựa ấy thì bị nhét ly rượu vào tay.
-Kể từ biết uống tới giờ, tớ uống đã hơn ba chiếc thuyền lớn… chở đầy rượu…i…i… Say hả? Say này… Này rót… uống nhá… nhá… Trăm phần trăm… Dzô đi! Dzô…í…ì…i… Người tên I dừng lại đột ngột, ly rượu rơi xoảng xuống nền gạch. I cũng rơi người xuống, ngoẹo đầu qua thành ghế rồi lịm nhanh như nhúm than cây sến cây sơn vốn chẳng giữ lửa lại vừa bị hất đúng một thùng nước đầy, chỉ kịp xèo cái đã nguội lạnh, người I bây giờ chưa đến mức như món đông sương nhưng ẹo oặt nhũn nhoẹt một bị thịt chợ chiều. Kẻ vừa chịu đựng cú ép trăm phần trăm, đưa chân trượt trên vỏ chai ngã sượt khỏi bàn lại lồm cồm vịn ghế khom lưng xốc nách bạn nhậu. Người ngồi lầm lì nãy giờ, cứ đưa ly lên là nốc cạn ở ghế bên kia đủng đỉnh nhấc từng chân ra khỏi ghế rồi vừa bước tới nhét vội tà áo của người say vào quần vừa ngước cằm lắc lắc, chợt phồng gân cổ mà lên câu vọng cổ mùi mẫn: Lan ơi… Sao đành cắt đứt dây chuông… Ánh điện đường mới mắc của thị trấn Lũng Say hắt bóng họ đổ dài, mỗi lần họ nghiêng chao sát đất, bóng chợt ngắn lại, tiếng ư ư ơ ơ nhề nhệ trôi theo họ như những đám mây chứa âm thanh, mớ âm thanh chẳng nghĩa lý gì. O bực mình vì người khác uống mà sao mình lại say, rõ ràng O đã mang thật sự đầy đủ các triệu chứng của người say. Tím chi tím tái tím tê (ơ ơ), tím xanh tím mét (ơ), mắt mê tối sầm. Tím gì như thịt da thâm, trận đau hôm trước, tím bầm hôm sau…(ớ…ơ …ơ…). Lúc Ơ bước xiêu vẹo bên đường, O mải nhìn theo, không buồn dọn quán. O hiểu ra: Khi người ta đau, người ta thường hát hò kiểu đó. Con đường của thị trấn Lũng Say về khuya hiu hắt khó tả, chợt O rợn lạnh trong người, vừa thụt lùi vào quán, O vừa rùng mình thấy các đám mây hồng đang chuyển sang tím rịm một góc trời.
&
…Đêm thứ nhất, sau khi bán đất cho hắn, O nằm mơ thấy mình bị róc đi hai mông đít, máu chảy ra lênh láng một mép ruộng, không thấy đau nhưng mất hết sinh lực, tay chân không buồn động cựa, ruồi bu không đuổi nổi.
Đêm thứ hai, O lại nằm mơ thấy một hình hài da bọc xương đang gục gặc di chuyển trên một bãi cỏ gai. Đến gần thấy bộ xương quen quen, giáp mặt hoá ra bộ xương đó chính là mình.
Đêm thứ ba, vừa nhắm mắt là O chìm vào vùng trời đầy mây hồng, O vừa lao theo những đám mây sặc sỡ là là bên trên tầm tay với, chợt O sựng lại vì phát hiện những cơn gió đang xuyên qua người mình, gió lạnh buốt, gió xuyên qua tim, những sợi gân máu treo nối lửng lơ đầy ngay trong cơ thể, O đưa tay rờ rẫm khắp thân mình, chỗ nào O cũng chạm phải những khúc xương, xương cứng đơ, lạnh ngắt như xương của lễ Sang cát, của ngày bốc mộ. Trong đám mây hồng, chợt xuất hiện hàng đàn muỗi khổng lồ, tiếng “vo ve” rền rền góc trời, muỗi núp bóng trong sắc mây hồng, những cặp chân cao khều lòng khòng khua động, chúng đông đến mức làm cho những đám mây như phình ra. Quái vật muỗi! Những con muỗi có cặp mắt kép đe doạ. Xúc tu của chúng rất nhạy với mùi mồ hôi của con người. Vừa thấy một đám đông áo nâu đang cày bừa trên đồng ruộng, đàn muỗi mừng quíu, âm thanh “vo ve” của chúng nghe rộn ràng, nghe xôn xao như kiểu đám người dự tiệc. O cứ trố mắt nhìn, ngỡ có loài muỗi mới chuyên hút mồ hôi người, không phải hút máu truyền bệnh sốt rét như loài A- no- phen. Chúng quần tụ trên đầu những người nông dân như những chiếc máy bay, những chiếc xúc tu nhạy cảm mồ hôi huơ huơ đánh mùi. Bầy muỗi liên tiếp phát ra những tiếng “vo ve” rền trời rền đất. Họ đã dừng tay cày, dừng tay cấy, họ quay đầu nghe bên phải, quay đầu nghe bên trái, họ đứng yên, miệng nở nụ cười thật tươi, khuôn mặt họ rạng ngời, rồi cùng kéo nhau đi về một hướng theo sự điều khiển của tiếng “vo ve” trên bầu trời. Ngay lúc những người nông dân đang vui mừng thì những cái vòi khổng lồ của bầy muỗi căng ra, chúng đồng loạt lao xuống đồng ruộng xanh um, lao xuống những khu vườn trù mật. Thoạt đầu O cứ tưởng những người nông dân đã nghe theo những âm thanh hướng dẫn đúng đắn hấp dẫn nào đó, giờ lại thấy những chiếc vòi muỗi đồng loạt hút, bụng chúng căng phồng lên từng giây một. Những người áo nâu đang vui vẻ đi với nhau như sau một ngày cần lao cực nhọc, chợt chao đảo ngã nghiêng. Có người té sấp. Có người té ngửa. Đất dưới chân họ bời bời vườn ruộng cò bay thẳng cánh chợt thụt dần, thụt dần rồi biến mất, họ chơi vơi rơi, chơi vơi lộn đầu xuống, cứ thế tất cả đều rơi thẳng, những vật rơi cùng phương. Bầy muỗi hút đất càng lúc bụng càng phình to, có con đã lặc lè vẫn còn cố hút. Tiếng “vo ve” vui mừng rền động át cả tiếng kêu rú của những người áo nâu. O cũng nhắm mắt rơi cùng phương với họ. Nỗi sợ hãi làm mồ hôi lạnh tuôn túa giọt giọt hai bên thái dương. Chợt O mở mắt trừng trừng xuống đáy thẳm. O hét lên một tiếng kinh hoàng rồi giật mình tỉnh giấc. Hoá ra chỉ là cơn ác mộng. Bây giờ đang là đêm. O lại đưa tay vỗ muỗi. Bốp. Và bốp. Và… bốp… nữa…, không… thôi.
Chân núi Tà Cú 3/2009
GIẢI THUẬT
Má ơi con má điên rồi
Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi
(Nguiễn Ngu Í)
Giải thuật là một thứ nhức đầu, bởi vậy khi tự chuyển linh hồn mình qua một thân xác mới, một thân xác cứng đơ bị treo lơ lửng giữa không trung, tôi mới có dịp suy nghĩ về thứ hình vẽ đường đi rối rắm, phức cảm của nó; gọi là thuật toán cũng được, gọi là thuật văn cũng xong. Ở đây, tên gọi không thay đổi được bản chất của những tiếng nói tắc nghẹn từ tôi, tôi đã hoàn tất mình từ, trong, với một cuộc đời mà trạng thái ban đầu có sẵn, hoàn cảnh ban đầu có sẵn là trầm mình trong cuộc chiến giữ nước đầy máu và nước mắt của dân tộc tôi, trong cuộc chiến nhiễu loạn giữa những người anh em ruột rà máu thịt của tôi. Tôi đã sống những ngày ấy bằng niềm tin nhiều hơn là sự thật, tôi triệt để ngang qua, ngang qua, ngang qua theo đúng hành trình để cuối cùng dẫn đến kết quả đã được dự đoán từ đầu. Tôi chịu ơn niềm tin và cả ý nghĩ mình là kẻ phản bội, tôi chịu ơn “hơi thở vua Hùng” mà bạn tôi đã gợi lên trong đầu tôi khập khễnh bước đi kiếm tìm bằng những con số ước lệ. Tôi chịu ơn cả ca nước đen lờ đờ dưới gầm cầu vì đó là những thử thách để tôi xuyên qua chính mình và hiểu một điều đơn giản: Những cố gắng lý giải, chứng minh của tôi và bạn tôi là vô ích, vì thuật toán - thuật văn ấy đã có mặt trên đời này, hiển nhiên kết quả là đúng.
Hú hú hú…u…u…u… Hú hú hú…u…u…u… Hú hú hú…u…u…u…
Đau. Từng cơn đau giật nhói vùng thùy chẫm. Tiếng gió hú rít vọng vọng. Cơn đau lan nhanh nửa đầu, rồi đau bưng cả lên làm như đầu mình là cái trứng nhúng dấm, xương sọ đang mỏng dần và mềm nhũn. Lập tức cơn đau gợi lên trong đầu tôi nỗi lo sợ bâng khuâng, nỗi sợ bóng dáng phù du. Con đường phía trước tối sầm. Cặp mắt tối sầm.
…Lửa đột ngột bùng lên, ngọn lửa cách đây hơn ba mươi năm cứ thỉnh thoảng bùng cháy trong đầu tôi cùng với những cơn đau. Cháy tre. Chẳng có thứ gì trên đời giống với cháy tre cả. Cả vùng trời đêm chợt đỏ lòm lòm như xuất huyết, chợt vàng men mét như da người sốt rét. Lửa xoe xoé đủ màu đủ sắc. Ngọn lửa bốc cao như muốn nói: “Cho mượn cái thang lên trời!” Cả rừng tre dưới chân đồn Gió Ngàn Phương nương theo ngọn gió bấc dữ dội táp nóng hừng hừng. Tiếng tre cháy nổ át cả tiếng súng. Tôi vừa xách thêm thùng đạn tiếp cho Thạnh thì đã thấy nó cởi trần trùng trục, vừa siết cò súng vừa chửi đổng: “Má nó! Hết trò chơi hay sao mà chơi trò luộc xác, giết chóc nhau thế này.” Gió nóng vẫn tiếp tục tạt thốc từng luồng vào lỗ châu mai, tôi cũng bắt chước Thạnh, cởi áo vác vai. Bầu trời đỏ bên ngoài được đóng khung qua lỗ châu mai bèn bẹt nhìn cứ như một bức tranh trừu tượng. Tôi nói với Thạnh: “Sắc trời ngoài đó điển hình của cuộc chiến”. “Má nó, chết tới nơi còn thơ với thẩn”. Một tiếng nổ rền, đất cát tuôn xuống rào rào, vừa phủi áo phành phạch lên người, có thể vì ân hận đã hơi nặng lời với tôi, Thạnh cũng chuyển sang văn vẻ: “Má nó! Hơi thở của vua Hùng cũng không thể nóng hơn…” Thạnh có cái tật thâm căn cố đế là nói gì cũng lôi vua Hùng vào.
Hình như Thạnh còn định bồi thêm hình ảnh văn vẻ nào nữa thì một tiếng nổ chát chúa ngay lỗ châu mai, luồng lửa vàng rực chói loà hất văng tôi ra xa, đập mạnh vào vách hầm. Khi tỉnh dậy tôi bàng hoàng chẳng thấy Thạnh đâu nữa, chỉ còn khối thịt đen thui co rút như một khối than sau trận cháy rừng. Tôi không ngờ đó là câu nói cuối cùng của Thạnh. Tôi hồn vía chẳng còn, cứ lầm bầm như một cái máy lặp đi lặp lại: “Lửa! Hơi thở vua Hùng… Hơi thở vua Hùng… Hơi thở… vua… Hùng… Không biết lặp đến lần thứ mấy thì tôi cũng nhận biết đôi chân của mình cũng bị nám đen, tôi hú lên và quáng quàng định bò đi nhưng không thể, không thể nào được nữa.
… “Một thằng hề trong trò chơi hư ngụy, huyễn hoặc đang rúng người bàng hoàng trống rỗng đau. Một khán giả từng mê đắm vỡ tuồng, từng cười cười khóc khóc theo mỗi lần khép mở của cánh màn nhung để rồi một sáng nọ sững sờ trước đống đồ lề trang điểm, ngụy trang, những đạo cụ vứt bừa bộn trên bãi rác không tên. Nhìn. Nhìn mãi rồi bung cười sặc sụa. Tiếng cười chưa dứt, cơn đau đã lấn nhanh, miệng méo xệch, lưỡi đắng ngắt, tâm hồn tê tái…”
Tôi không cười trò diễn mà cười cho những xúc động, phiền não ngây thơ, cười những rưng rưng, những hiu hắt hình hài hề hịch của chính mình.
II.
Tôi chồm tay qua, gồng hết sức hất người sang xe đò. Anh lơ xe xếp nhanh chiếc xe lăn của tôi rồi quăng roẹt xuống gầm xe làm tôi hơi đau lòng nhưng cũng không phản ứng gì được, việc đeo sầu ngậm tủi với tôi cũng quen rồi. Năm rưỡi đến Sài Gòn. Đóng lệ phí, cầm tờ biên nhận, chẳng biết điều gì đang chờ đợi mình: Đục sọ, lật da mặt đốt xoang, tháo từng mảnh xương sọ ra để chơi trò xếp hình, cắt u ác tính… Có thể hết bệnh, cũng có thể bán thân bất toại, nói nôm na là liệt, là cái thây biết thở, là đời sống thực vật. Mọi người chịu đựng tôi. Tôi chịu đựng tôi. Mình chịu đựng đầu. Cơn chịu đựng thần kinh. Nghĩ tới bấy nhiêu điều ấy tôi bỗng rùng mình.
Bảng số điện tử nhảy qua con số 036 đỏ lòm lòm. Con số đẹp, tổng là một số đại lão dương, mười tám đời vua Hùng cũng có tổng hai chữ số bằng chín, tự dưng tôi liên tưởng và nhớ trung sĩ nhất Thạnh. Lửa lại cháy bùng trong đầu tôi, tôi định hú lên thì bị cắt rựp bởi lệnh từ não truyền lạnh lùng “Đẩy ngang cánh cửa phòng khám”. Tính tôn trọng đám đông còn lại ít ỏi của tôi, lúc này đây như ca nước lạnh tạt lên đầu, tôi biết mình đang có đầy đủ ý thức của người bình thường. Đo huyết áp. Kiểm tra xoang. Tay bác sĩ bịt khẩu trang lòi cặp mắt thâm đen, tay chọt lốc cốc lên bàn phím, thiếu lưỡi hái ở tay kia nữa là thành vị thần chết điển hình của thời đại thông tin, thời đại tốc độ, thời đại chóng mặt đau đầu. Hai ngón tay “thần chết” cứ xe xe hai bên tai “chốc sè sè, chốc sè sè”… Nghe bình thường. Hỏi thêm: Ăn bình thường? Ngủ bình thường? Bài tiết bình thường?... Trả lời: Chỉ có não là không bình thường, tức lá không sâu, không rụng cuống, duy gốc rễ có vấn đề.
Chuyển đo não tâm đồ. Ngồi! “Tôi đang ngồi mà”. Cái lệnh “ngồi” thừa nhưng sắc lạnh, vô cảm của cô “bờ- lu- trẻ” ngăn chặn tôi không được quyền bông lơn, dù thầm biết rằng cái lệnh hớ ấy sẽ làm cô ta cười rũ tóc tai nếu được ra sau cánh cửa kia. Tôi nhấc người lên rồi ngồi phịch xuống một cách hề hịch làm những bệnh nhân ngồi chờ đưa tay bụm miệng.
Chùm dây điện mười tám sợi đủ màu sắc, tôi lần đếm được mười tám sợi đúng (hơi giật mình vì tổng hai chữ số lại là chín), lòng thòng nối với tấm trùm màu đen tuyền. Rột rột roẹt roẹt… Họ tiêm thứ nước gì đó ướt lạnh da đầu. Nhìn vào cửa kính tủm tỉm cười, tôi nửa giống người ngoài hành tinh, nửa giống phi công Nhật trong chiến dịch thần tốc Trân Châu Cảng, một chiến dịch đã đánh thức con thú chiến tranh khổng lồ. Tôi đang mơ màng xem thử mình có nên hoạch định một chiến dịch gì đó cho riêng mình không thì “bờ-lu- sồn sồn” há miệng thật to, lệnh vỡ: Nằm! Nhắm mắt! Vừa nằm vừa nhắm mắt, loại lệnh đúp này thật hiệu quả khi muốn cắt đứt ngay lập tức dòng suy nghĩ của người khác. Tôi đột ngột dứt bỏ những ám muội trong đầu mình mà không cần một chút quán tưởng hay thiền định gì cả. Tôi nhắm tít mắt và hình dung đến những hình răng cưa ngoằn ngoèo trườn trên trang giấy dài cả sãi tay, ngôn ngữ thần chết thường không minh bạch.
“Không có sóng chậm khu trú”. “Không thấy phổ bất thường”. Chẩn đoán: Đau migrain, loại đau nửa đầu thường gặp ở phụ nữ, thế mà tôi lại bị. Chỉ đau nửa đầu thôi sao? Uống thuốc sẽ hết sao? Hú hồn.
Về nhà. Hết thuốc. Lại đau. Khám lần hai. Vẫn không có sóng chậm khu trú, không thấy phổ bất thường. Thêm chứng cứng cổ. Viêm màng não thường cứng cổ, nhưng cứng cổ chưa chắc là viêm màng não. Vẫn chưa có kết luận mới.
Lại đau. Quá tam ba bận. hàng loạt triệu chứng lộ diện. Chẩn đoán khác: Bộ não thoái hoá. Tôi liên tưởng đến mấy lát chao vuông vuông làm bằng đậu nành đang lỏng bỏng trong nước tương ăn ở chùa. Rụng rời tay chân. Đột ngột tối như có ai vừa đổ thùng nước đen quanh người tôi. Hoá ra bản chất không thay đổi của tôi là tham sống sợ chết. Tôi đưa hai tay bóp mạnh hai bên thái dương vì một cơn đau vừa giật nhói. Kí ức lạ trào lên, cũng có thể do cơn đau ngăn trở mà tôi chưa nhận ra “ruột rà máu thịt” với chúng, chưa nhận ra đó là loại kí ức vừa mới đây của mình.
III.
… Nắng đổ lửa. Một tay vịn trụ cầu, tay kia tôi vói ra khua khua rác rồi vục già nửa ca nước đen trên dòng kênh đen sền sệt chất thải. Ngửa cổ lên trời, ực cạn. Móc lại ca chỗ cũ, tôi đưa tay chùi mép, tay cũng lấm đen, lại quệt vội vào tà áo trơn chua của mình. Ngước nhìn xung quanh, người đen đặc, những cặp mắt hiếu kì trố ra. Vài ba ngưởi ngồi thụp xuống ọc ói ngay bên vệ đường. Có người rùng mình rú lên quay mặt. Số còn lại đứng như trời trồng, chòng chọc nhìn. Họ chờ xem cái chết của tôi sẽ đến như thế nào, sự tởm lợm tràn đầy trong mắt họ, trong hành vi bộc phát của họ.
Kên hả? Chúng mày muốn gì? Tôi gồng tay lăn lui, quay đầu xe về phía họ, tôi ẩy mạnh tay xe lăn ào lên trên đường. Tôi ngang phè vậy xem thử ai dám làm gì tôi. Chén kiểu nguyên lành đổi chén sành sứt mẻ. Làm sao họ dám. Tôi biết tỏng tòng tong cái sự đời. Họ chạy, họ cách tôi vài bước chân. Tôi là thằng điên chính hiệu, còn họ luôn cách tôi vài bước chân. Luôn luôn là như thế.
Tôi cứ lao tới, cứ cà khịa. Họ chạy hết. Họ lánh xa. Còn lại một mình giữa nắng chang chang, tôi ôm mặt khóc hu hu như đứa trẻ hay gây sự chú ý nơi người lớn, hay tủi thân tủi phận, hay thút thít sụt sùi nhiều khi chẳng vì điều gì cả. Bao nhiêu năm qua, tôi đã miễn dịch với chất độc, với dơ dáy, bẩn thỉu nhưng không thể nào miễn dịch được với nỗi buồn tủi trẻ con ấy.
IV.
Cơn mưa đêm ập đến. Mưa nghiêng tôi xuống. Tôi nghiêng tôi xuống. Tôi rịt dáng tôi còng cụp xuống tay vịn chiếc xe lăn. Chốc chốc tôi lại ngửa mặt lên trời trò chuyện với những giọt mưa, với ánh đèn vàng. Bóng đèn đường lớn, loại đèn đường dành cho phố núi nhiều sương mù, ánh sáng của chúng hắt ra vàng chạch, lạnh lẽo ma quái. Tôi ngước ngắm cả vùng xam xám bên trên, mặc những giọt mưa đêm như trăm ngàn mũi kim lớn lao vào, đâm vào tận tròng mắt, tôi cố lưu thật lâu cảm giác buốt tận óc mà quên nỗi đau buốt trong tim. Chỉ có nỗi đau mới che lấp được nỗi đau. Nhắm. Mở. Lim dim. Trừng trừng. Nheo. Ánh sáng và bóng tối tạo thành hình nóc nhà (giống nóc nhà của má tôi). Ngôi nhà vàng sáng kim gai, lúc giọt giọt giận dỗi thốc ngang, lúc giọt giọt xuôi tay đâm thẳng, lúc bạt phải, lúc bạt trái… Thiên nhiên không để ý đến tâm trạng của từng cá thể, bởi Bà Mẹ ấy biết rõ dù có ngã bề nào, có đau kiểu gì, dù sống dù chết, dù vật vờ, phiêu dạt kiểu gì cũng trong vòng tay rộng lớn của Bà mà thôi. Mưa nghiêng tôi xuống. Tôi nghiêng tôi xuống vì tâm hồn mình trĩu nặng vết thương. Rốt cuộc chỉ có tôi biết tôi, chẳng ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới, chẳng ảnh hưởng gì đến cân bằng âm dương hay sự phát triển, thật ra là tiến triển, là chuyển động.
V.
Trong kí ức gần có kí ức xa. Kí ức đớn đau thường lồng trong nhau như những vòng tròn đồng tâm. Tôi thường bị những vòng tròn đồng tâm hành hạ. Ngày mới bắt đầu. Nắng lại đổ lửa. Một tay vịn trụ cầu, tay kia tôi vói khua khua cho rác dạt xa rồi vục múc già nửa ca nước đen trên dòng kênh đen sệt nước thải. Một miếng ruột gà ruột vịt gì đó lòng thòng dính theo mép ca. Tôi hắt tay, đưa ca nước tận mắt săm soi. Mặt nước trong ca chính là chiếc gương. Đầu tiên tôi thấy mắt mình hằn đỏ, rồi thấy râu ria xồm xoàm, tóc tai bù xù như một xác chết treo lâu ngày trong gió… Tiếng u u dâng lên to dần.
…U u tạch tạch tạch… Chiếc trực thăng xà xuống bãi sỏi đỏ thốc bụi mịt mù. Tôi cùng toán quân tăng viện nhào xuống rồi lẩn nhanh vào những bụi sầm bụi sim lùm lùm như những chiếc dù nhỏ trên đỉnh đồi của đồn trú Gió Ngàn Phương. Sở dĩ đồn có tên như vậy vì đồn ăn ngầm trong đồi bằng hệ thống hầm hang chằng chịt, gió từ vô vàn lỗ châu mai rin rít, hu hú suốt ngày đêm. Lính bên trong lúc nào cũng như đang nghe một điệu nhạc ma quái. Khi trườn được vào trong hầm, tôi mới định thần trở lại. Thạnh, thằng bạn (cùng là trung sĩ nhất lực lượng trừ bị, cùng mang trên áo “cánh gà kép”, cùng ba tháng quân trường với tôi) vừa vỗ vai vừa lớn giọng chọc quê: “Trượt dây tử thần ở Lam Sơn tao thấy mày bảnh lắm, sao lúc nãy mày run như cầy sấy vậy?”. Tôi thụi vào lưng nó một cái “Mày thì hơn gì”.
Sau khi trình sự vụ lệnh, đặt ba lô xuống vách hầm, việc đầu tiên của Thạnh là rút lưỡi lê khoét vào vách hầm một khung hình chữ nhật. Tôi hỏi: Làm gì? Nó chỉ im lặng. Xong, nó lục trong ba lô ra tấm hình cũ kỹ, nhàu nát đặt lên rồi thả người đánh phịch, ánh mắt đăm đắm một hồi rồi thẩn thờ, xa xăm. Tôi tưởng là tấm hình người thân, má nó hay một em gái hậu phương nào đó nên tôn trọng quay đi. Chuyện lính xa nhà lâu ngày gắn hình người yêu lên vách lô cốt rồi nhìn hình mà thủ dâm là chuyện tôi nghe đầy lỗ tai. Ngã người lên tấm pon- chô chưa được mươi phút thì tay trung úy phụ trách đến truyền lệnh phải tham chiến. Ngay lúc cầm cây súng M16 trên tay tôi mới nhận ra tấm hình nhàu nát kia là tấm bản đồ nước Việt. Nhưng rồi dưới ánh mắt kiểm soát như dao bén của tay trung úy buộc tôi phải lao đi không kịp bàn luận với Thạnh một câu.
Trong tiếng súng cắc cù, ánh sáng hoả châu thỉnh thoảng hắt vào vách hầm, Thạnh xoay người nói với tôi: “Ước mơ của tao là trở thành sử gia”. Nó luôn nói về Văn Lang và các vua Hùng, có lúc tôi thật sự nghĩ “thằng này bị bệnh ám thị về nguồn gốc”, nhưng chịu khó lắng nghe nó, tôi lại nghĩ hiếm có người nào dám lật lại những vấn đề mà ai cũng tưởng là hiển nhiên.
-Lịch sử là lịch sử, tức là phải minh bạch, rõ ràng, phải là sự thật trăm phần trăm. Càng gần với sự thật thì hai chữ “lịch sử” mới xứng đáng viết hoa. Trên thế giới hiếm có đất nước nào lại viết sử bằng truyền thuyết hoặc bán truyền thuyết. Tại sao chúng ta không dùng khoa học để soi rọi lại? Lịch sử không phải là ánh trăng mờ ảo để người ta thích thú ngâm nga những câu thơ duy mỹ… Mắt Thạnh sáng quắc khi nói những dòng ấy, tôi như bị cuốn phăng theo những suy nghĩ của bạn. Tôi khơi gợi thêm:
-Đẹp thì có đẹp thật nhưng liệu các thế hệ con cháu mai sau có chịu vậy không? Việc viết sử bằng truyền thuyết và bán truyền thuyết bắt đầu khi nào, Thạnh biết tường tận không?
-Sao hổng biết. Đầu tiên là do Ngô Sĩ Liên đưa những truyền tích vào bộ Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, ông có cẩn thận thêm câu “Tin sách chẳng bằng không có sách” nhưng hậu sinh cứ thế coi như sự thật. Như cái ông Trần Trọng Kim cứ thế, cứ thế rồi học trò học thuộc lòng, cứ thế, cứ thế… Thạnh nghi ngờ con số mười tám đời vua Hùng chỉ là con số ước lệ, một tập hợp, một chu kì… Thạnh phản đối với cách viết sử kiểu thêu dệt, các đời vua Hùng là có thật, phải viết gần với sự thật càng tốt, dẫu bốn ngàn năm văn hiến có rút lại cũng chẳng sao, nỗi tự hào dân tộc vẫn nguyên vẹn trong lòng từng con dân nước Việt. Thạnh kể có lần nó nằm mơ gặp một vị cao to xưng là Hùng Việt Vương, vị này nói giọng đồng oang oang: “Hãy trả ta về đúng thời của ta!” Chân tay nó run lập cập. Nó quỳ xuống. Nó đã hứa trong giấc mơ. “Nhưng giật mình lại nghe bom đạn ì xèo, chán quá!” Nó chửi bới cuộc chiến này đã cản trở ước mơ viết lại sử theo những nghiên cứu công phu và chân xác của nó. Tụi mình chiến đấu vì điều gì? Chẳng vì cái gì cả. Tụi mình luộc xác mình, hiến xác mình, chôn chặt hoài bão của mình vì ai, vì ai? Chẳng vì ai cả. Vậy lẽ ra tụi mình phải dán lên trán hai chữ “điên khùng” từ lâu rồi mới phải. Các vua Hùng chắc không hề nghĩ rằng có một thế hệ hậu sinh vừa điên khùng vừa hậu đậu như vậy. Thạnh luôn chắc lưỡi: Không có cuộc chiến quỷ quái này, chắc chắn nó sẽ chạm được hơi thở vua Hùng. Nó rất tự tin khi nói rằng sẽ viết lại ngọc phả khác với bản cũ. Những bản ngọc phả cũ: Kể cả bản viết từ thời Tiền Lê, cả bản thời Trần, cả bản san nhuận thời Hậu Lê đều có nhiều chỗ mơ hồ, chưa khoa học… Tôi vốn ít hiểu biết về sử nên ít dám có ý kiến nhưng tôi là người duy nhất trong đơn vị biết lắng nghe nó nói, nó thuyết giảng, thỉnh thoảng tôi chỉ đặt thêm câu hỏi, nhờ vậy mà chúng tôi gắn bó với nhau như hình với bóng.
Ngay cái hôm ly tang, cái ngày quả bọc phá nổ banh lỗ châu mai, trước khi ôm cây trung liên trực chiến, nó còn quỳ lạy cái “bàn- thờ- Việt” ấy, nó khấn các vua Hùng phù hộ độ trì cho nó sống qua khỏi cơn binh đao lửa đạn này. Nhưng rồi các vua Hùng đã không nghe lời khấn thiết tha của nó… Hơi thở vua Hùng vẫn còn trong bàng bạc những huyền tích do người đời mường tượng, thêm thắt.
VI.
“Tôi nó sinh ra nhầm chinh chiến, mới quen nhau mà thương mến. Nó quê ngoài kia, từ lâu lắm không lần về…” Tôi vừa lăn xe trôi trong nắng cháy chang chang vừa hát thống thiết một đoạn tân nhạc, lòng chợt nhớ da diết hình ảnh thằng bạn trung sĩ nhất của tôi. Trở về từ cuộc chiến, trong sọ tôi vẫn còn não nhưng là một bộ não thoái hoá. “Thạnh ơi! Bao nhiêu năm, tao mơ có dịp sẽ nối dài ước ao của mày là chạm được hơi thở vua Hùng, tao sẽ cố suy nghĩ theo hướng của mày, tao đã vò đầu hàng đêm để hiểu, để yêu thương những con số ước lệ, nhưng giờ thì không thể, chuyến đi tìm của hai đứa mình đã kết thúc”.
Tôi đưa tay lên miệng, tự cắn mình một cái thật đau. Ồ, tôi vẫn còn biết đau! Tôi cắn lên bắp tay một lần nữa để biết mọi người nhìn thấy mình điên. Hú hú hú… Lửa tre, lửa đạn đang bùng bùng trong đầu tôi. Tôi nhấm nháp da thịt mình lần nữa để biết mình vĩnh viễn không thể suy tư gì được, không còn nhận thức gì được, không còn cơ hội để “chạm được hơi thở vua Hùng”, dù chỉ trong lí thuyết, trong câu văn. Hú hú hú… Hú hú hú… Hú hú hú…
Riêng lý do lần cắn phập thứ ba tôi rất mơ hồ nhưng thân xác đã ngã ra. Khi rời khỏi khu nhà xác ở bệnh viện, tôi bay lên rồi đi vào một hang động đầy những khối đá vôi xốp như mây trời. Gió nổi lên rất mạnh. Tôi lồm cồm bò, tôi nhớ ca nước đen trong quãng sống lắc lay của mình, tôi nhớ khả năng miễn dịch với sự dơ dáy nhưng không miễn dịch được với nỗi đau, tôi nhớ sự chú ý cùng cực và lo sợ khôn tả trong đêm chiến tranh, tôi nhớ quá… Môi tôi nứt toác ra vì khát, tôi khát, một loại khát vọng từ xu hướng sâu kín nhất của cá thể tôi, tôi khát nhưng vẫn cố vừa bò vừa lao lên ngược chiều gió. Cơn gió đột ngột buốt lạnh như vừa đội mồ, đội mả mà lên. Ngay lúc tưởng chừng tan biến, hồn tôi chợt lạnh cóng, hai môi tôi lập cập đánh vào nhau, tôi đông cứng dần dần rồi treo lơ lửng như bị một chiếc mạng nhện vô hình khổng lồ bó chặt. Nhìn quanh tôi thấy có nhiều linh hồn cũng bị trói gô lửng lơ như mình vậy. Dường như đây chính là cái bọc trăm trứng của Mẹ Âu Cơ đã hạ sinh trăm con cường tráng rùng rùng lên non xuống biển, nhưng giờ cũng chính là cái bọc thu gom những linh hồn èo ọt, bệnh tật, điên khùng như tôi, như một số đông người cùng thời với tôi, một thế hệ bị dụ khị, bị đưa vào vở bi hài kịch chia rẽ, giết chóc, một trò chơi mà trong đó kẻ hư ngụy như tôi lại cứ đinh ninh mình chính danh quân tử. Trong tích tắc cuối cùng, tôi thấy chiếc vương miện to lớn hiện ra rực rỡ, chói ngời. Tôi biết luồng hơi lạnh kia phả ra từ hơi thở của vua Hùng thật sự, chắc là vua Hùng đầu tiên. Tôi cứ tưởng Tổ tiên không hề để ý đến từng sinh linh cháu chắc chút chít nhỏ nhoi nhưng thật ra tất cả đều được quan sát theo dõi, chăm sóc từ nơi cao xa này. Tôi cố cảm nhận ở mức có thể được với và trong hơi thở của vua Hùng, từng luồng, từng luồng, lúc chầm chậm lúc rít rú nhưng tất cả đều lạnh lùng, làm tôi liên tưởng nhanh đến sự lạnh lùng nghiệt ngã của quy luật trần gian. Nhưng dù gì tôi cũng đã kết nối! Tôi khấp khởi mừng vì đã được kết nối, đã được “về nhà”. Tôi tiếc không có Thạnh ở đây để nó nhận ra hơi thở ấy là của vua Hùng thứ mấy, có thể là của vua Hùng thứ nhất hay thứ mười lăm, mười sáu, hay mười chín hai mươi gì đó cũng nên. Không nhứt thiết phải mười tám; mà có khi chính nó cũng sai lầm, nó từng bảo tôi, hơi thở vua Hùng… nóng… lắm…kia mà, hơi thở vua Hùng… nóng… lắm…kia mà.
Dù nóng, dù lạnh, dù gì đi nữa thì quy trình giải thuật cũng hoàn tất. Tôi đã đi xuôi về ngược trọn một kiếp người. Cứ đi, sẽ đến, đừng bao giờ tìm cách chứng minh đúng sai. Đúng sai cũng chỉ là ước lệ mà thôi. Giải thuật là một thứ nhức đầu thực sự. Hú hú hú…
Dưới chân núi Tà Cú, 11/ 2008 – 5/2010
Sự kiện
VanVN.Net – Sáng 19/5/2012, tại Nhà hát lớn Hà Nội đã diễn ra Lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật và Danh hiệu Nghệ sỹ nhân dân năm 2012. Đến dự buổi Lễ có đồng chí ...
Nhân vật
VanVN.Net - Mỗi nhà văn đều có một thế giới nhân vật riêng, với thói quen khai thác nhân vật theo một cách riêng. Theo đó, nhân vật có thể là thật hoặc hư cấu, nhưng thường đều dựa trên những ...
Hoạt động Hội Nhà Văn
VanVN.Net – Chiều 18/5/2012, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Lễ ra mắt và trao tặng bộ sách Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ – văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh được tổ chức vào hồi 14h30’. Đến dự ...
Tư liệu
VanVN.Net - Bài viết “NAM TRIỀU CÔNG NGHIỆP DIỄN CHÍ – CUỐN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM” của Nguyễn Văn Dân đã làm rõ một số đặc điểm của “Nam triều công nghiệp diễn chí” trong bối cảnh tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời trung ...

Tiêu đề
Viết bình luận của bạn