Gửi thư   
Bản in
VanVN.Net – Nhà văn Thiên Sơn (tên thật là Nguyễn Xuân Hoàng) khi bắt đầu đến với văn chương đã tự đưa mình vào hành trình mạo hiểm nhưng vô cùng thú vị, đó là xuyên sâu vào những nghịch lý khó lường, những bí mật câm lặng... của đời sống, của những ẩn ức trong mỗi con người. Anh nguyện làm “người mò mẫm trong bóng tối dựng lại những hình hài dẫu chẳng còn nguyên vẹn, cố tìm trong phế hoang những cái đẹp nguyên thuỷ tưởng chừng không thể phá huỷ”. Kết quả của cuộc kiếm tìm ấy cũng có khi chỉ thấy sự băng hoại, những vết thương rớm máu và sự quằn quại truyền kiếp… VanVN.Net xin giới thiệu đến bạn đọc những truyện ngắn do tác giả tự chọn trong tập “Người bên lề” đã được tái bản nhiều lần trong gần một thập kỉ qua.
Nhà văn Thiên Sơn
Đồi Đá trắng
Những tiếng nổ như khoan vào óc Hàn, khiến nó giật mình tỉnh dậy mỗi khi trời sắp sáng. Một cái gì âm u, rờn rợn phủ lên tâm hồn nó, làm nó ngẫm ngợi suốt cả ngày. Có hôm nó thấy kinh hãi đến mức không buồn ăn. Mỗi khi cầm lấy sách vở học bài, nó lại thấy chữ mờ đi trước mắt, chỉ có những tiếng nổ làm nó run bắn lên, khiếp hãi như vừa bị vứt xuống vực thẳm.
Gì ấy nhỉ?
Sao ở dưới cái chân ngọn đồi lờ mờ trong sương mù, sao trong cái cõi hoang vu không mấy ai dám đặt chân đến kia lại phát ra những tiếng nổ dữ dằn, tàn nhẫn ấy. Hàn hỏi người lớn đó là tiếng gì?
- Tiếng súng.
Nó được trả lời thế.
- Sao tiếng súng lại nổ vào lúc trời chưa sáng thế kia?
- Người ta hành quyết phạm nhân.
Nó chỉ biết có vậy. Hầu như không mấy ai kiên nhẫn nghe nó hỏi và giải thích những điều nó muốn biết. Có người còn gạt đi:
- Trẻ con hỏi những chuyện ấy mà làm gì?
*
Không hiểu sao cái đồi nghèo xơ nghèo xác này, chỉ có những căn nhà thấp tè, chìm khuất trong cây cỏ giữa một vùng hoang hóa lại có tên đồi Ông To. Từ bao giờ không biết nữa, các thầy phong thủy ở xứ này đã nói khu đồi bị ám khí, hung dữ, không ở được. Nghe nói ngày xưa có một nhà giàu cai quản cả ngọn đồi, bỗng khuynh gia bại sản rồi bỏ đi biệt xứ. Con gái ở đây rất đẹp, da trắng, môi đỏ, tính tình hiền dịu, chịu thương chịu khó, nhưng con trai thì hung hãn. Lạ nữa là có nhiều người chết trẻ. Nhiều người bị các bệnh lạ, không ai biết căn nguyên.
Ông Thịnh là cán bộ hẳn hoi. Ông làm việc gì đó cũng khá quan trọng ở trại lợn của tỉnh. Ngày về hưu, ông mặc bộ com lê cũ, đeo cà vạt. Ông đi hiên ngang trên con đường vòng vèo khuất khúc lên sườn đồi. Trẻ em hàng xóm còn chạy túm tụm nhau để được nhìn thấy ông. Thế rồi bẵng đi một thời gian không thấy ông đâu. Có người nói ông bị trọng bệnh phải về hưu sớm, để dưỡng sức, suốt ngày ông hạ tấm rèm lá trước cửa, nằm trong nhà, không tiếp xúc với ai. Lại có người nói hình như ông đang lao động trí óc, bận quá nên không có thời gian tiếp mọi người. Một thời gian sau, bỗng cứ nửa đêm là ông tỉnh dậy, thắp hương vái khắp các phương trời, rồi khóc than xin thần linh tha tội, đến mờ sáng ông ra khỏi nhà đi về phía bãi tha ma, miệng lẩm bẩm những điều không ai hiểu được.
Lại có một cậu học trò trẻ tuổi, thông minh. Đã có lần cậu nhân được giấy báo xuống huyện học bồi dưỡng gì đó. Dân sống trên ngọn đồi hầu hết là người mù chữ, thấy vậy ai cũng nể sợ. Nhưng đột nhiên, cậu bị bệnh. Lúc nào cậu cũng muốn hát. Bất cứ cái gì nghe thấy, đọc thấy, hoặc nhớ lại cậu đều biến nó thành câu hát. Những câu hát chắp vá, rối loạn, vô nghĩa được phát ra bằng cái giọng eo éo trong túp lều tranh những đêm khuya khiến người ta sợ hãi như nghe thấy tiếng yêu tinh. Có người nói ma quỷ đã nhập vào thân xác cậu mất rồi.
*
Từ đồi Ông To đi theo lối mòn xuống thung lũng thì gặp đường ray. Mỗi ngày chỉ có vài chuyến tàu chạy qua, hầu hết thời gian cả khu đồi chìm trong vắng lặng. Có hôm người lái tàu thấy một con trăn to như bắp đùi một người đàn ông lực lưỡng, dài khoảng sáu, bảy mét nằm vắt ngang trên đường ray. Anh dùng cần gạt phía trước đầu tàu hất nó sang một bên. Không hiểu bằng cách nào, nó nhanh chóng cuốn lấy cần gạt. Mãi một lúc sau, nó rơi xuống và bị bánh sắt cắt thành ba khúc. Máu con trăn chảy ướt cả vạt cỏ, bết dính trên đường ray. Cái đầu nó còn ngóc lên, hai mắt mở thao láo căm giận nhìn theo đoàn tàu lúc sau mới chịu thôi.
Có người ở đồi Ông To nhìn thấy một cảnh tượng kỳ lạ. Khi con trăn to kia bị tàu cán chết, từ trong vùng hoang vu không biết cơ man nào là trăn to, trăn nhỏ kéo ra thành đàn. Con dài, con ngắn, con xanh, con đen, con hoa, từ tốn nối nhau như trong một đám rước, chúng đưa xác con trăn bị chết vào rừng. Khi đàn trăn khiêng cái thi thể đồng loại đi được một quãng, chúng dừng lại trên một bãi đất bằng, tất cả nối nhau thành một vòng tròn lặng lẽ viếng con trăn chết. Hình như có những tiếng kêu rên sầu thảm ai oán. Hình như cả đàn trăn cùng khóc. Chim chóc và nhiều loài vật khác cũng kéo đến...
Cạnh đường tàu là một bãi tha ma. ở đó chỉ có những nấm mồ lẫn trong cỏ, không có tên. Đi sâu thêm vào cái vùng hoang vu, gai góc mọc đầy kia không khí như đặc quánh lại. Không gian phảng phất một cái gì lạnh lẽo, đen đúa. Một cái gì vô hình, hung hãn làm cho người ta rợn ngợp, kinh sợ.
Đi thêm độ một dặm, sẽ đến bên chân đồi đá trắng.
Trong cái hoang vu ấy, người ta thấy một bãi phẳng và những cây cột thép cao bằng đầu người, đã han dỉ.
*
Hàn mường tượng ra gương mặt nhăn nheo, đôi mắt đục mờ của ông Son.
- Cháu Hàn đó phải không?
Hàn như sắp chết, chân tay bủn rủn.
- Sao cháu lại vào đây?
- Dạ, cháu muốn đến chân đồi đá trắng ạ.
- Chỗ ấy là pháp trường. Cháu đến làm gì?
- Cháu muốn biết...
- Biết cái chỗ ấy? - Ông thốt lên - về thôi, bao nhiêu người thịt nát xương tan ở đấy. Về với Bác đi cháu.
- Không! Cháu nhất định phải vào...
- Trẻ con thì phải biết nghe lời người lớn.
Ông Son trừng mắt.
- Cháu có biết sợ ma không đấy?
Hàn im lặng:
- Ma nó hay bắt trẻ con, vả lại ma ở đồi đá trắng hung dữ lắm. Cháu về thôi...
Ông Son lại kéo tay Hàn. Đành phải bước theo ông, nhưng Hàn vẫn ấm ức. Nó nghĩ, có gì bí ẩn mà ai cũng chỉ muốn gạt phắt những câu hỏi của nó về đồi đá trắng? Nó muốn đến cũng không được...
- Cháu có biết ông Thịnh mới chết không?
- Sao ông ấy lại chết?
- Sáng hôm nay, mấy anh lính dẫn phạm nhân ra pháp trường ở đồi đá trắng đã thấy xác ông Thịnh đang ôm chặt lấy cây cọc cột người tử tội. Nghe nói ông ấy bị điên sau khi đứa con duy nhất buôn ma túy, giết người nên bị tử hình ở đồi đá trắng. Mộ nó bị đồng bọn đào bới mang đi đâu không ai biết. Chính vì vậy mà ông ấy càng thêm buồn, sinh bệnh mà chết.
Bỗng trước mắt Hàn hiện lên hình ảnh ông Thịnh bước hiên ngang trên con đường ngoằn nghèo lên đồi ông To. Nó không thể hiểu được, một con người như ông, có vẻ oai oai trước mắt bọn trẻ, vậy mà lại có thể chết nhanh đến thế.
- Nhưng có thể ông ta chết vì bị gió độc cũng nên. Đồi đá trắng là nơi ma thiêng... Còn có nhiều điều kỳ bí lắm... Cháu nghe lời ông, không được vào đó đâu nhé!
- Vâng!- Hàn bất đắc dĩ phải trả lời ông Son.
- Mới đây, để tránh việc đào bới cướp xác phạm nhân, người ta không ghi tên kẻ bị hành hình trên mộ mà chỉ đánh dấu bằng mã số gì đó. Nhưng tội ác thì người ta vẫn ghi.
- Không ghi tên người thì ghi tội ác mà làm gì hả bác?
- Sao lại không ghi tội ác? Điều quan trọng là mỗi người phải biết đến tội ác kinh tởm mà những kẻ phạm tội đã làm. Toàn là tội giết người, cướp của, tham nhũng, hại dân...
- Nhưng tại sao con người lại gây tội ác hở ông? Ngày nào cũng có những tiếng nổ... Ngày nào cũng có những vụ hành quyết...
Ông Son không nói gì, cứ lặng lẽ cầm tay kéo Hàn băng băng về phía trước. Sắp về đến nhà, Hàn thấy một đám đông khiêng quan tài ông Thịnh đi ngược trở lại. Tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng khóc, tiếng nói chuyện, tiếng chân người hòa lẫn thành một âm thanh ồn ã, não nề. Đoàn người dừng lại đợi một chuyến tàu rùng rùng ầm ỷ chạy qua rồi tiến vào cái vùng hoang mù mịt dưới thung lũng. Hàn vằng khỏi tay ông Son:
- Cháu muốn đi đưa ông Thịnh, ngày ông ấy về, gặp bọn cháu trên đường ông đã đưa tay vẫy vẫy đấy ông ạ.
*
Con người ai cũng phải chết có gì mà phải buồn đau. Đôi khi Hàn nghĩ thế. Rồi nó đặt câu hỏi: "Mà sao người ta cứ phải sợ cái chết thế nhỉ?" Nó chịu. Chính nó cũng sợ đấy thôi. Con người không phải lúc nào cũng có thể trả lời mọi câu hỏi. Con người cũng không cần trả lời những câu hỏi ấy.
Đoàn đưa đám ông Thịnh dừng lại trên một mảnh đất bằng. Mấy người phu đào huyệt đã ở sẵn chực lấp đất. Cuối cùng khi mọi người lục tục ra về, nó núp sau một bụi rậm, đợi mọi người về hết rồi mới theo lối mòn trong bãi tha ma đi về phía đồi đá trắng. Nhưng phía trước lại có người. Nó núp vào một bụi rậm khác. Một gã đen như cột nhà cháy tay cầm cuốc đi về phía ngôi mộ vừa lấp đất. Gã nhìn khắp bãi tha ma không thấy ai, gã đặt cuộc xuống nhìn ngôi mộ đầy suy tính rồi mới xắn tay áo, cầm lấy cuốc.
- Đồ khốn nạn, mày làm gì đấy? Đào mộ người ta lên để hôi của hả?
Một cụ già xông đến tóm lấy cổ tay gã đen cháy kia. Cái cuốc vừa giơ lên đã từ từ rơi xuống. Ông Son! Từ bụi rậm Hàn chực thốt lên. Hai bóng người xoắn xuýt lấy nhau bên ngôi mộ. Được một lúc, gã đen cháy gỡ được tay ông già ra, đưa cả khối thịt săn chắc to như một khúc gỗ của hắn đè lên ông già.
- Đồ ngu! Tao cho mày chết!
Tên khốn nạn gầm lên. Hắn đưa tay bóp vào cổ ông già. Mặt ông Son đỏ gay, tắc thở. Ông càng giãy giụa thì tên khốn nạn càng cười. Tiếng cười sằng sặc như một kẻ đang lên cơn điên. Rồi hắn nói giọng kẻ cả, đắc ý:
- Đúng là đồ ngu, mày nghĩ mày là cái thá gì mà dám ngăn ông hả? Lần này mày sẽ xuống đất nằm luôn dưới ấy là cái chắc rồi.
Ông già vùng vằng, oằn oại dưới cái khối thịt như đang nghiến nát ông. Gã đan cháy lấy đầu gối nện liên tục vào bụng, vào ngực ông. Tay gã nện mấy cái vào mặt, vò mũi ông Son. Máu mũi, nước mắt tứa ra ướt khắp gương mặt lấm lem bịu đất của ông.
Cốp! Bộp ! Bộp!
Bỗng mặt gã đen cháy nhăn lại, méo đi. Mắt hắn nhắm. Tay rời ra. Đổ vật xuống bên cạnh ông Son. Lúc ấy ông Son mới định thần lại được.
- Hàn! Cháu... May mà có cháu... Không thì hắn giết ông mất.
- Sao ông quay lại đây?
- Ông không thấy cháu nên đi tìm.
Gã đen cháy thở phì phò. Hắn đau quá không thể đứng lên được, hình như hắn bị choáng. Ông Son và Hàn trói hắn vào gốc cây trong bãi tha ma.
- Chúng ta quay về báo cho bà con biết rồi sẽ quay lại trị tội hắn sau.
Ông Son dắt Hàn đi
- Mấy tháng nay có hàng chục ngôi mộ bị đào bới tung lên, thậm chí có ngôi hắn không thèm lấp đất lại.
*
Ông Son và Hàn đi được một lúc, bỗng gã đen cháy thấy có tiếng rin rít trên đất, ở các bụi cây bên cạnh. Rồi một vật gì trơn trơn, mát lạnh trườn trên da gã. Bất thần gã thấy một nỗi kinh hoàng xâm chiếm. Mọi nơi xung quanh gã hiện lên hàng chục con rắn to, rắn nhỏ. Con nào cũng mở to đôi mắt căm thù nhìn gã. Miệng chúng phùng ra, cái lưỡi thè lè lia đi, lia lại phía trước. Một cái gì mềm mại mà mạnh mẽ như một sợi dây khổng lồ quấn xung quanh cổ gã. Sợi dây mỗi lúc một thiết vào làm gã tắc thở. Gã nghiến răng lại, cố trừng trừng mở mắt. Trước mắt gã không gian chuyển sang màu gắt đỏ. Những cái đầu rắn ngóc cao càng lúc càng tiến đến gần. Một con to như cán cuốc, có sọc xanh, đỏ trườn hẳn lên ngực, lên mặt gã. Gã tru lên từng tiếng dữ dằn, mắt nhắm nghiền lại.
Bên tai gã bỗng vang lên tiếng cuốc mã lục cục. Trong óc gã hiện lên hình ảnh mờ mờ chồng lẫn lên nhau của những ngôi mộ mà gã đã đào, đã bới để hôi của. Có lần gã lấy được cái đồng hồ Rado từ một cánh tay đàn ông luống tuổi chết vì bệnh phong tình. Có lần là chiếc dây chuyền vàng trên cổ một thiếu phụ giàu có bị chết đột tử vì chứng cao huyết áp. Một lần khác gã thấy bên dưới lưng người chết là một gói vàng... Nhưng khốn nỗi, gã vừa mở ra đã bị một lũ người chuyên làm nghề hôi của ở nghĩa địa cướp mất.
Cái vòng siết trên cổ gã mỗi lúc một mạnh hơn. Gã thấy họng tắc lại. Như có hàng ngàn tiếng gào réo, chửi rủa từ khắp các ngôi mộ xoáy vào tai gã. Rồi tất cả tắt lặng. Bóng tối đổ xuống linh hồn gã.
Khi đoàn người từ đồi Ông To kéo đến, họ đã vô cùng ngạc nhiên... Tròng mắt gã đứng hẳn lại. Miệng há ra. Đầu gục xuống, ngoẹo sang bên. Khắp thân thể gã có những vết tím bầm.
*
Lại vẫn những loạt đạn mỗi khi trời sắp sáng dội lại từ đồi Đá trắng làm Hàn giật mình không ngủ lại được. Mỗi ngày trôi qua, cái âm thanh khô khốc, sắc lạnh ấy như những lưỡi dao khứa dần vào tâm não Hàn. Bất kỳ ở đâu, làm gì nó cũng như nghe thấy những tiếng nổ. Nó giật mình cả khi nằm trên giường, cả lúc ngồi trong phòng học bài hay lúc ăn cơm.
Nó không thể chịu nổi. Nó phải biết điều ghê gớm nào vẫn thường xuyên làm cho nó đau đớn, suy nghĩ. Nó phải tận mắt nhìn thấy nơi hành quyết những phạm nhân...
Quá nửa đêm hôm ấy nó lén ra khỏi nhà.
Có tia đèn pin lặng lẽ soi trên lối mòn nhỏ xuống chân đồi, qua đường ray, về phía bãi tha ma. Nó lấy hết can đảm, nhanh nhẹn và mưu trí như một con mèo hoang, bám theo cái bóng đèn trong đêm giá lạnh. Mọi vật chìm trong chiếc màn đen vô cùng yên tĩnh, và dường như từ sau mỗi bụi rậm lại có những con mắt đang nhìn ra, những bóng đen đang ẩn núp, những bàn tay sẽ thò ra tóm lấy cổ nó... Nhưng có một cái gì mạnh mẽ, khủng khiếp đã làm cho nó vượt qua tất cả lo lắng ấy. Nó cứ đi, đi mãi cho đến khi chiếc đèn pin tắt lặng. Có lúc nó tự đặt câu hỏi, con người huyền bí bỗng nhiên cầm đèn pin đi trong bãi tha ma này để làm gì nếu không phải là hôi của người chết? Hay là quay về báo với bác Son? Những ý nghĩ trái chiều nhau cứ dâng lên óc nó, không tài nào kiểm soát được.
Phía trước, chân đồi đá trắng đã lờ mờ nhận ra trong sương. Những cây cột thép của pháp trường lạnh nghắt trong bóng tối.
Gần đó có một chiếc quan tài.
Xa xa, một lỗ huyệt đang đào. Mấy người phu vừa đào vừa nói tục lại vừa cười. Một giọng to:
- Bác Son đấy à, sao hôm nay sớm thế?
Hàn kinh ngạc. Nó nép vào một bụi rậm bên đường. Như không tin được vào tai mình nữa. Ông Son? Ông Son ư? Bình thường bác không cho nó ra pháp trường, vậy mà đêm hôm thế này bác lại ra đây là nghĩa làm sao? Những ý nghĩ cứ thế sôi lên trong óc Hàn...
- Tôi khó ngủ, ra đây trò chuyện với anh em cho vui.
Một giọng trầm của người tuổi trung niên:
- Nhà em nghèo, vợ em bệnh phải uống thuốc lâu dài, khánh kiệt em mới phải bỏ nhà đi làm cái việc khốn khổ mạt hạng này chứ, như bác, bác có lấy công linh gì đâu, sao bác cứ đày cái thân bác cho nó khổ thế.
- Tôi cũng muốn an nhàn sung sướng chứ các chú... Nhưng...
- Từ mai bác đừng ra đây nữa. Bắn xong, bọn em kéo nó xuống huyệt. Đằng nào rồi cũng tan vào đất ấy mà. Với lại chúng nó toàn bọn khốn nạn cả. Khi sống chúng hành hạ bao nhiêu người... Hôm kia bắn thằng cầm đầu đường dây buôn ma túy từ Lào về. Nghe báo chí nói, nó đã bán tất cả 400 cân thuốc phiện cơ đấy. Nó đã giết bao nhiêu người từ cái kiểu làm ăn bất chính của nó.
Một giọng khác trẻ hơn:
- Hôm qua lại bắn tên tham nhũng. Hắn làm giám đốc tổng công ty gì đó... nghe nói đã xơi của nhà nước mấy ngàn tỷ. Thế mà khi bị cột vào cọc hắn khóc rống lên. Hắn quỳ thụp xuống van lạy mọi người tha cho hắn. Chính cái thằng buôn ma túy ấy lại còn có cái vẻ lầm lũi chịu đựng, chứ cái thằng quan tham nhũng kia mới hèn yếu làm sao.
- Anh em có nhớ cái thằng còi còi không? - Một giọng lơ lớ khàn khàn chen vào- cái thằng bị bắn cách đây nửa tháng ấy, hắn đi thẳng đến bên cái cọc hành hình. Trước khi bị bắn nó còn nhoẻn miệng cười. Nó bảo mấy người cầm súng " Anh em bắn cho trúng nhé. Tôi nói thật là tôi bị oan... Có một âm mưu hãm hại tôi... Nhưng không sao. Tôi đi sớm cũng tốt. Thế gian này có gì đáng nuối tiếc đâu. Con người bây giờ đã đối xử với nhau như thú dữ..."
- Có chuyện ấy sao?
Nhiều giọng nói cùng cất lên.
- Đúng vậy đấy. Có nhiều anh em ở đây không có mặt hôm ấy. Chưa bao giờ trong đời tôi lại có thể hình dung nổi một kẻ lạnh lùng, bình tĩnh chấp nhận cái chết đến như vậy. - Giọng trầm của người ban nãy cất lên.
- Nhưng anh ta là ai? Làm gì mà có bản lĩnh kỳ lạ như vậy?
Im lặng, không có ai trả lời câu hỏi ấy.
Lúc sau giọng Ông Son trầm tĩnh:
- Tôi có biết chuyện... Hôm ấy mấy chú trong đội thi hình án cầm súng mà cứ run bắn lên. Cả loạt súng nổ nhưng đạn bay chệch mục tiêu gần hết. Máu ra như tắm mà người bị hành quyết không chết. Đôi mắt anh ta vẫn mở dù đau đớn nhưng không mất hết vẻ bình thản. Mãi một lúc sau anh ấy mới tắt thở. Tôi là người khâm liệm cho anh ấy... Trước khi đặt anh ấy vào quan tài, tôi nhìn kỹ vào gương mặt người chết. Tôi thấy ở đó sự thông tuệ, lương thiện. Tôi cảm nhận rằng anh ấy đã bị giết oan.
Trong màn đêm hiện ra mấy bóng người.
- Đội hành quyết đến.
Ai đó nói.
Mọi người đổ xô ánh mắt về phía có những người mới tới. Những người cầm súng câm lặng.
Phạm nhân lãnh án tử hình hôm ấy là một phụ nữ phạm tội giết con riêng của chồng. Người đàn bà run lẩy bẩy, đứng không vững mặt méo xệch lại và rên lên từng cơn dài xin tha tội chết. Người ta cột cô ta vào cây cột thép.
Trong thinh lặng, những tiếng nổ đinh tai trùm lên không gian. Những đường đạn đỏ lòe vây phủ, xuyên qua thân xác người đàn bà găm vào chân đồi đá trắng.
Hà Nội, xóm Hồng 11-12-2004
Hắn
Mắt hắn ti hí. Cằm lưỡi cày. Da mặt sù sì. Những cái răng cửa to ngoại cỡ chen nghiêng màu vàng khè ẩn hiện sau làn môi thâm xám. Mỗi khi hắn nói, một âm sắc khàn rè rồ lên, hung dữ như tiếng thú. Suốt bảy năm trời hắn bỏ làng đi gia nhập băng cướp. Từ một kẻ chuyên cướp giật ở ga tàu, hắn dần dần trở thành thủ lĩnh. Võ thuật của hắn cao cường.
Trẻ con trong xóm mỗi buổi tối thường tụ tập dưới gốc tre kể cho nhau những điều hóng hớt được từ chuyện của mấy người đi buôn bán trên phố tỉnh về. Bao nhiêu huyền thoại được thêu dệt về hắn, vẽ nên những vầng hào quang oai hùng làm lũ trẻ hiếu kỳ thêm ngây ngất. Nào là hắn có biệt tài phóng dao găm và bắn súng cùng một lúc. Hắn bắn trăm phát trăm trúng. Có lần hắn bị công an đuổi trên đường Quốc lộ, gặp một chiến xe tải chạy bên cạnh, hắn nhảy lên mui xe. Rồi từ chiếc xe ấy, hắn nhảy lên chiếc xe chạy ngược chiều... Cứ thế, từ xe này hắn thoăn thoắt nhảy sang xe khác khiến công an không biết đường nào mà lần. Lại có lần, trong một quán rượu nhỏ, hắn bị cả một băng cướp khác vây đánh. Một mình hắn tả xung hữu đột. Không biết cơ man nào là bát chén, bàn ghế ném vào người hắn, nhưng chỉ bằng vài động tác mau lẹ khác thường hắn đã tránh được tất cả những đòn hiểm độc của đối phương, hạ gục gần mười tên và khi phát hiện bị công an bao vây, hắn phi lên mái nhà, từ đó đu lên các ngọn cây thoát ra ngoài.
Một lần hắn bị bắt. Một phần cũng tại bọn đàn em phản bội hắn. Khi hắn kề dao vào cổ người tài xế đang lái chiếc xe ca trên một quãng vắng, bất thần hắn bị một người nào đó đập mạnh vào sau gáy, hắn choáng váng rồi ngất xỉu. Tỉnh dậy hắn thấy mình bị đưa vào đồn công an. Bao nhiêu lần hỏi cung, hắn đều ngậm miệng, không nói một lời nào. Thế rồi, hắn bị nhốt vào ngục kín...
Vậy mà hắn đã biến ra ngoài lúc nào không ai biết. Hắn tìm về hang ổ của băng cướp, đúng lúc bọn đàn em đang thay chủ đổi ngôi. Hắn phóng dao găm vào ngực kẻ đang chủ tọa cuộc họp, đạp vào mặt mấy tên đàn em đã bỏ rơi hắn khiến hắn lọt vào tay công an. Tất cả chỉ diễn ra trong mấy giây. Cả đám lâu la hung hãn bỗng dưng lặng phắc.
- Tiêu diệt quân phản bội - giọng hắn nhọn như dao.
Lập tức mấy tên đó bị hạ sát. Xác chúng bị chặt làm ba khúc.
Thế nhưng cũng từ hôm đó tâm thần hắn không yên. Nhiều đêm hắn thấy những kẻ bị hắn sát hại mình mẩy đầy máu tươi đứng xung quanh. Có kẻ kêu khóc thảm thiết. Kẻ nhìn hắn vẻ căm thù. Có kẻ bất thần xông vào chém hắn từ phía sau.
Hắn làm thủ lĩnh băng cướp thêm mấy năm nữa thì lại bị bắt tù, nhưng chẳng được bao lâu hắn lại biến mất y như có phép lạ. Người ta đồn rằng hắn có biệt tài nuốt vào bụng cả đinh sắt, dũa cưa mà không bị sao. Khi bắt hắn, công an khám xét lấy hết mọi vũ khí, nhưng khi vào tù hắn moi đinh hoặc dũa cưa trong phân của hắn rửa sạch mà làm dụng cụ xoi tường, cắt cửa sắt tẩu thoát ra ngoài. Chẳng biết lời đồn dại có đúng không, song chuyện vào tù, ra tù đối với hắn đã thành bình thường.
Không ngờ, kẻ giang hồ như hắn lại phải lòng Lệ Uyên, một cô gái bán vải ở chợ huyện. Cô ta đẹp. Thân hình yểu điệu, giọng nói trong như tiếng suối, khuôn mặt tròn rạng rỡ, làn môi đỏ như son, đôi mắt sáng lóng lánh ánh cười. Bữa đó hắn tình cờ gặp và cứu cô thoát khỏi sự xâu xé của một lũ bụi đời ở một quãng vắng trên cánh đồng. Xưa nay người ta coi hắn như hung thần, hay như loài phong hủi. Thế mà Lệ Uyên lại quý mến và kính trọng hắn. Cô coi hắn là một ân nhân, một người nghĩa hiệp. Hắn xúc động vô cùng.
Ba tháng sau, khi duyên vừa nồng thì Lệ Uyên chết vì một tai nạn. Chiếc ô tô tải phóng nhanh đã đâm thẳng vào cô khi đang trên đường từ chợ huyện về nhà. Hắn biết tin khi người ta đã chôn cất Uyên xong. Hắn như tê dại cả thân mình. Rồi lòng căm thù bốc lên ngùn ngụt, hắn sai bọn đàn em dò la ra nơi giam giữ tài xế và định ra thăm mộ Uyên rồi sẽ đột kích vào phóng dao nát ngực anh ta. Nhưng khi hắn vừa thắp hương cho Uyên xong đang đi ra cổng nghĩa địa thì có mấy người tìm cách đến gần. Hắn biết là công an nên nói ngay:
- Để tôi đi, nếu không sẽ có người phải chết.
Hắn rút súng lục ra, lăm le trên tay. Bất thần một người núp sau một lăng mộ đã bắn vào chân phải của hắn. Rồi từ nhiều phía, mấy bóng người lao vụt đến. Trong nháy mắt, hắn bị xích hai tay. Chân phải hắn treo lủng lẳng, máu tuôn thành dòng xuống mặt đất đen.
Lần ấy hắn bị đem vào bệnh viện, các bác sỹ cưa chân hắn lên đến tận đùi. Sau đó hắn bị giam vào tù. Vĩnh viễn từ đó hắn không vượt ngục được nữa. Người ta kết án hắn tù chung thân, nhưng mười lăm năm sau thì hắn được tha.
Ngoài bốn mươi tuổi, cụt một chân, lại ở tù lâu năm, hắn già nua, tiều tụy chống nạng lóc cóc về làng trong một buổi chiều mưa khiến nhiều người động lòng trắc ẩn.
Làng hắn nghèo, người dân chỉ ăn bằng khoai sắn trừ bữa. Trẻ em người lớn đều gầy nhẳng. Hắn dựng một túp lều tranh trên mảnh đất ngày xưa hắn được sinh ra. Làng chia cho hắn vài sào ruộng. Hàng ngày hắn lụi cụi cuốc đất, gieo hạt như một ông già thực thụ. Lúc rỗi rãi, hắn đi bẫy chim, nơm cá. Có lúc hắn hò hét vui đùa cùng mấy đứa trẻ chơi trò kéo co, nhảy ngựa, hay đánh trận giả...
Làng bên có người đàn bà mắt lé, béo ú lỡ thì tên là ánh. Người ta mối lái thị cho hắn. Ngày ấy hắn buồn lắm. Hắn đã chán ngấy cái cảnh một mình một niêu, nên đành gật đầu cho xong chuyện. Nhưng hai hôm trước khi hắn cưới vợ, hắn nằm mơ thấy Lệ Uyên về. Đôi mắt Uyên buồn nhìn hắn. Cô nói, dù âm dương cách trở nhưng vẫn luôn nhớ mong chờ đợi hắn. Thế là, hôm sau hắn lóc cóc chống nạng ra thăm mộ Uyên. Hắn đứng lặng nhìn ngôi mộ đã lâu ngày, tà tà trong cỏ. Một con bướm trắng nhỏ bay lượn xung quanh rồi đậu xuống cánh hoa vàng. Hắn bồi hồi nhớ lại lời tâm sự của Uyên, mẹ mất khi cô vừa mới chào đời. Bố cô lấy vợ hai, xiêu cư bạt quán.
Hôm sau, hắn quyết định hủy đám cưới với ánh. Hắn định dành khoản tiền đám cưới xây mộ cho Uyên. Nhưng hắn lại nằm mơ thấy Uyên hiện về, Uyên khóc. Uyên khuyên hắn lấy vợ...
Điều bất ngờ nữa là ánh đi trẫm mình ở dòng sông cuối xóm. Xác ánh chìm ba ngày thì nổi lên, dạt vào bãi sông cạnh ô ruộng nhà hắn. Mọi người đồn ầm lên ánh dù không lấy được hắn, nhưng khi chết đi vẫn muốn làm dâu nhà hắn.
Từ đó về sau hầu như chẳng có cô gái nào để ý đến hắn. Người ta bảo số hắn sát gái, cứ ai yêu hắn, thể nào cũng bị chết. Đời hắn buồn, nghèo, đằng đẵng thâm u như trong địa ngục.
*
Bỗng rộ lên vụ đào đá đỏ ở Quỳ Châu.
Khắp làng trên xóm dưới, từng đoàn người nườm nượp kéo lên vùng đá đỏ. Trộm cướp như rươi. Ngày nào cũng có vụ đâm chém giết người. Bọn cướp lùng sục khắp nơi, nghe ai đào được đá đỏ là chúng đến, kề dao vào cổ...
Từ một kẻ không ai nhìn đến, hắn bỗng trở thành người hùng. Dẫu cụt một chân nhưng hắn vẫn có thể nhào lộn như thường, vẫn có thể bẻ cổ đối phương dễ như trẻ con bẻ một cành cây. Và nữa, cái tài phi dao găm của hắn uy danh vang lừng trong giới võ lâm. Lập tức có người này, người khác đến cầu cạnh. Hắn nhận lời che trở cho tất thảy những ai nhờ đến hắn. Hắn bỏ cả nhà, lên Quỳ Châu, sống trong khu rừng mới mấy tháng trước còn hoang vu, rậm rạp nay đã nham nhở những hố, lũng gồ ghề và những đoàn người đào đá đỏ dựng lán san sát. Những con suối nhỏ, trước đây trong vắt, róc rách chảy dưới sườn đồi, lùm cây, nay trở nên đặc quánh, sền sệt bùn đất.
Hắn đã từng túm tóc một tên cướp, dùng tay trái giơ cả người lên khỏi mặt đất, giọng gầm lên:
- Mày về hỏi tổ sư mày xem có biết tao là ai không?
Tên cướp nghe vừa nghe thấy giọng hắn đã như bị thụt lưỡi, chân tay khua khoắng miệng ngọng nghịu:
- Thưa... thưa đại ca... con...
Hắn vứt tên cướp xuống cái hố đọng nước vàng bên cạnh. Tên cướp lồm cồm bò dậy, run bần bật quỳ lạy, mặt tái mét, miệng vẫn ngọng nghịu.
- Con xin tha tội chết... Đại ca tha cho con... Từ nhỏ con đã nghe uy danh đại ca... tha cho con đại ca...
Hắn tỏ ra nhân từ:
- Được! Khôn hồn thì sống. Từ nay không được làm bậy kẻo tao bẻ răng mày, móc mắt mày có ngày.
Tên cướp quỳ lạy như cuốc cỏ, đợi hắn quay đi mới dám chạy biến vào rừng ngồi thở và tin rằng mình vẫn còn sống.
Sau chuyện đó, uy danh của hắn ngày càng vang dội. Hắn chỉ cần lườm mắt là tất cả mọi người cúi mặt xuống. Không ai dại gì gây sự với hắn. Chỉ cần hắn khùng lên phi cho một lưỡi dao là toi đời, hoặc nhẹ hơn, hắn cho một quả đấm thì có mà nát mặt cũng không chừng.
Cả khối người nghèo khó cần mẫn, chui rúc trong rừng hoang kia kiếm được viên đá đỏ nào cũng phải giao nộp cho hắn, hắn mang đi bán và chia tiền lại cho mọi người. Hắn tỏ ra biết điều, bình thường hắn chỉ nhận một phần như bất kỳ thành viên nào trong đoàn.
Nửa năm sau, hắn đã có một tài sản kha khá. Hắn về làng xây một căn nhà bề thế ba gian, cửa gỗ có đánh véc ni bóng lộn. Hắn trở thành sang trọng, được người ta kính cẩn còn hơn cả mấy ông giáo làng vốn được coi là nhiều chữ nhưng vô tích sự, sống nhờ mấy đồng lương còm, gia đình mình còn không nuôi nổi. Có một ông giáo đã vào tuổi trung niên, gầy ốm hom hem, sang nhà hắn bảo:
- Tôi tôn anh làm thầy... Anh dạy tôi môn võ để tôi theo chân anh lên vùng đá đỏ, nếu may mắn còn kiếm được đồng bạc nuôi con. Chứ như bây giờ bế tắc quá... Nghề chữ nghĩa như chúng tôi thiên hạ nó ỉa vào.
Hắn cười khùng khục:
- Nghe ông nói tôi sướng cả người. Cái loại các ông đã thành mạt hạng rồi. Thời bây giờ người ta tôn sùng đồng tiền. Có tiền là có tất. Con điếm, thằng khùng có tiền cũng thành ông này bà nọ. Bọn quan chức còn phải khúm núm, xin xỏ nữa là cái lũ các ông. Cứ ngồi đó mà nói chuyện đạo đức, mà lên mặt dạy đời nhé... Đừng có hòng...
Hắn cười sằng sặc nhìn ông giáo tái mặt ra về. Đến nhà ông nôn ra một vũng máu.
Còn lạ hơn, con gái đẹp trong làng và cả những làng bên cạnh đều tìm cách đến gần hắn. Xưa kia người ta coi hắn như hùm beo, rắn rết, nay lại như thánh thần. Lũ đàn bà con gái là nhạy lắm với những dấu hiệu khác lạ ấy. Nghiễm nhiên, hắn trở thành chúa tể mặc sức chọn lựa các mỹ nữ.
Cuối cùng thì hắn cũng chọn được cho mình một hoa khôi của làng. Thị tên là Nương. Trước ngày cưới, hắn mở nhạc xập xình, lập lòe đèn xanh đỏ. ở giữa rạp lớn, hắn cùng đám đàn em nốc rượu. Bên tai hắn chen chúc những lời tán dương, chúc tụng. Lúc nửa đêm, hắn say ngật ngưỡng, mặt đỏ gay, đi đứng xiêu vẹo, phải dìu vào trong nhà.
Ngày cưới hắn rỡ ràng mày mặt. Trông hắn có vẻ tươi và vui. Nhưng trong sâu thẳm, hắn có một dự cảm khó hiểu... Từ lâu lắm, trong lòng hắn vẫn trào lên một niềm sợ hãi hoang sơ. Hắn đã từng bao phen lên voi xuống chó. Niềm vui không ở lâu trong lòng hắn. Niềm vui luôn bị chèn lấn, vùi lấp đằng sau những bừa bộn, lo lắng. Vợ hắn không hề hiểu gì về hắn. Thị tươi rói và cứ trắng hơ hớ.
Cuộc sống gia đình của hắn chẳng êm thấm được bao lâu. Khoản tiền kiếm được trong vụ đá đỏ không cánh mà bay. Bao nhiêu cuộc ăn chơi chè chén, bao trò bán mua hoang phí, bao nhiêu phen cờ bạc đã đưa hắn trở lại cảnh bần cùng. Càng khốn khó, hắn càng bẳn gắt điên khùng. Nhiều hôm, hắn nằm dài nhìn cảnh vợ hắn bụng mang dạ chửa phải chạy hàng xáo. Nương xuống sắc nhanh quá. Mới ngày nào mặt hoa da phấn, nay quằu quặu, sưng sỉa. Có lúc hắn bảo thị không thèm nghe, thế là hắn giậm chận xuống nền nhà, trợn mắt quát:
- Đồ chó đẻ. Bố bẻ cổ mày bây giờ.
Lúc đầu thị còn tưởng hắn dọa nắn gân, bỗng cương lên một cách bất ngờ:
- Cổ tôi dễ bẻ lắm đó.
Bất thần hắn bớp lấy cổ thị bóp chặt. Mặt thị đỏ hết cỡ, chuyển sang màu tím tái rồi xanh lét. Mắt thị trợn ngược. Miệng thị há ra. Cái lưỡi thè dài không thể ngọ nguậy nổi. May mà hắn nghĩ sao đã buông tay ra khi thị chưa tắt thở hẳn. Dân trong xóm đổ sang cấp cứu được thị, nhưng một thời gian sau cái thai chết lưu phải lên viện mới hút ra được.
Từ đó, Nương đi đâu cũng cúi mặt. Những lúc một mình, thị chỉ biết than thân trách phận mình. Thị nghĩ, đời thị khác nào một hạt mưa rơi xuống bãi phân bò. Bốn bức tường nhà thị lúc nào cũng như phủ bóng đen của hắn. Nhiều đêm thị mơ thấy đôi mắt ty hý, cái hàm răng gồm những chiếc to bè chen chúc, vàng khè của hắn. Thị giật mình kinh hãi không giám ngủ lại nữa.
Mỗi lúc hắn đòi hỏi chuyện chăn gối, thị thấy một luồng lạnh toát kinh rợn lan ra khắp người. Cảm giác như một con rắn nhỏ len vào trong cơ thể thị. Đến một ngày thị chỉ còn nghĩ cách để lìa xa hắn.
Nhưng thị lại có thai. Lại ốm đau mệt mỏi. Những cánh cửa vừa hé ra trong tâm tư bỗng bị đóng lại một cách tàn nhẫn.
Cái thai như một định mệnh lớn dần lên đè bẹp niềm hy vọng của thị. Bỗng thị nghĩ đến việc phải đi phá thai. Thị đi khắp các bệnh viện, trạm xá trong huyện, ai cũng lắc đầu, kêu cái thai đã già không thể làm theo ý thị được. Thế là thị quyết định uống thuốc ngủ liều cao. Thị nghĩ, thể nào cái thai cũng bị ngộ độc, vì vậy các bác sỹ phải lấy nó ra.
Sau khi uống thuốc ngủ thị lo lắng, sợ hãi tự móc họng mửa ra. Thị được đưa đến bệnh viện. Được rửa ruột và ngủ hai ngày hai đêm.
Cái thai vẫn không được lấy ra.
Biết chuyện đó, hắm dẫm chân xuống nền, tay đấm vào ngực mình bôm bốp, miệng thét lên những tiếng gầm man dại. Nếu như có thể được, hắn sẽ xông vào nhai sống, nuốt tươi luôn cả thị.
*
Buồn bực không chịu nổi, một đêm hắn lặng lẽ ra đi. Hắn như con hổ nhớ rừng, muốn tìm về băng cướp cũ. Máu hắn sôi lên khi nhớ lại những ngày tháng huy hoàng, hắn cùng lũ đệ tử tung hoành ngang dọc một cõi. Hắn lên xe, xuống bến, rồi lại lóc cóc chống nạng trên những con phố cũ, những ngõ hẻm ngày xưa hắn đã từng chỉ huy những phi vụ ngoạn mục. Kỷ niệm dậy lên trong hắn hơi men của những ngày oanh liệt. Nhưng đi mãi... đi mãi... Hắn vẫn không thấy một gương mặt thân quen nào. Hắn gõ cửa một căn nhà rêu phong khuất sau khu vườn huyền bí, im lìm, nơi ngày xưa là bản doanh của hắn. Nhưng không ai mở cửa... Cùng đường hắn đành phải quay về.
Hắn tự cười vào chính mình. Hắn đã lẩn thẩn rồi chăng? Chuyện đã hơn vài chục năm rồi còn gì. Thời gian đã làm thay đổi tất cả, đã xóa nhòa vĩnh viễn những dấu ấn một thời, đã làm già cỗi những ước mơ, đã ly tán những con người... Hắn bây giờ là một gã tàn phế, ở tuổi xế chiều, hỏi còn gì là tham vọng. " Đúng là ngu! Mi bây giờ là cái cục cứt gì mà còn tham vọng vỉễn vông..." Tự xỉ vã mình, rồi hắn vào một quán rượu ven đường, gọi một chai tu cạn. Nước mắt hắn trào ra. Miệng hắn dường như méo đi. Mặt hằn lên những sợi gân xanh. Rồi hắn khật khưỡng, lê lết kéo tấm thân rũ rượi nhích về phía trước.
*
Cuối cùng thì hắn cũng trở về nhà. Vừa đến cổng, hắn thấy người ta khiêng thị đi bệnh viện. Thị đau đẻ đã hai ngày nay nhưng không sinh được. Một bà hàng xóm đang cuống cuồng dùng liềm cắt các dây phơi trong nhà., ngoài sân.
- Đồ điên!
Hắn quát, người hàng xóm giật bắn người, buông rơi chiếc liềm.
- Làm cái trò gì đó?
Người đàn bà run run.
- Tôi cắt... để chị nhà... sinh cháu được dễ...
- Quên mẹ cái trò mê tín dị đoan ấy đi.
Hắn thốt lên, trừng mắt. Rồi hắn bỗng quay gót, chạy theo người vừa khiêng vợ hắn chạy vụt qua.
Bác sỹ bắt hắn đợi ngoài hành lang bệnh viện. Hắn đợi đến khi trời tối, rồi đêm xuống... vẫn chưa thấy tiếng khóc trẻ con trong phòng đẻ. Tiếng chân bước lạo xạo quay ra, quay vào, những gương mặt nghiêm trang, đầy ngẫm ngợi. Lòng hắn nóng như có lửa đốt. Hóa ra- hắn tự thẹn với mình, hắn cũng là một kẻ biết lo lắng, cầu mong hạnh phúc gia đình... Cái máu anh hùng hảo hán, cái chất lưu manh anh chị bỗng biến đi đâu để trơ ra nơi hắn cải vẻ bẽ bàng, quê kệch, thô thiển.
- Được rồi...
Tiếng bà đỡ thốt lên. Và tiếp theo, tiếng trẻ con oa oa khóc. Hắn thấy lòng như nở ra từng khúc.
Ba ngày sau, hắn đón mẹ con thị về. Hắn muốn tỏ ra dịu dàng, thân ái, nhưng hễ thấy hắn là thị nhăn mặt vẻ khó chịu. Còn đứa trẻ, hầu như lúc nào cũng nhắm tịt mắt lại. Đôi lúc đứa trẻ cũng mở mắt nhìn hắn, cái nhìn vô hồn, xa lạ, bí ẩn. Dẫu vậy, hắn cũng tự thấy được an ủi.
Từ ngày đứa bé ra đời, hắn thấy lòng dâng lên một tình yêu khó tả. Đêm đêm hắn thò tay mân mê khắp người nó. Ban ngày, hắn bế con đi lang thang trong nhà. Chưa bao giờ hắn thấy được rõ ràng một sợi dây huyền bí gắn kết hắn với cái cơ thể tí hon vừa được sinh ra ấy. Chưa bao giờ hắn hiểu được tình phụ tử lại thiêng liêng đến thế.
*
Bất giác hắn giật mình...
Ký ức vụt thức dậy kinh hoàng...
Một đêm, trên quãng vắng, hắn chặn hai bóng đen lại.
- Đứng im, không được kêu, không được chống cự. Ta sẽ tha cho đi, nếu không sẽ bị mất đầu.
Sự thật thì hắn chỉ muốn đoạt lấy túi tiền của hai cha con nhà nọ. Không ngờ, đứa con trai lại xông vào đánh nhau với hắn. Như trong vô thức, hắn vung kiếmlên. Lưỡi kiếm của hắn cứa đứt ngang cổ đối phương. Lão già đang quỳ xuống van lạy hắn tha chết cho con mình, bỗng lao đến ôm lấy chiếc đầu lâu vừa mới rụng xuống lăn lông lốc trên cỏ. Lão ngước cái mặt tràn nước mắt, đang méo xệch lên trời, nín lặng.
Hắn động lòng trắc ẩn, chỉ tay xuống gốc cây vông giữa cánh đồng:
- Ta cho phép chôn nó dưới gốc cây này.
Lão già lặng lẽ làm theo. Trong lúc đó, hắn sờ nắn túi tiền của lão. Một gói to toàn vàng thỏi và đô la.
- Buôn thuốc phiện hả?
Hắn hất hàm hỏi. Lão già im lặng.
- Nói không ta cho chui xuống đất luôn hai cha con mà ngủ cho ấm!
Lão già ấp úng:
- Dạ... còn khủng khiếp hơn thuốc phiện nhiều.
- Gì?
- Sọ người.
- Sọ người?
- Vâng.
- Sao lại thế?
- Đó là bài thuốc bí truyền.
- Chữa bệnh gì?
- Bệnh ngu đần, mất trí...
- Mi lấy đâu ra món hàng ấy?
- Người ta ăn cắp ở nghĩa địa, đem bán cho.
-Vậy thì... Ta cho đầu mi lìa khỏi cổ để mi biết chết không đầu sẽ ra sao.
- Lạy ông...
Hắn lia lưỡi kiếm về phía lão già.
*
Lúc nửa đên, đứa bé khóc từng cơn dài như đang bị ai cấu véo. Không có tiếng cựa mình, không một lời ru của người mẹ. Hắn chợt tỉnh, nói với sang:
- Sao để con khóc vậy?
Chỉ có tiếng khóc của đứa bé là vẫn cất lên. Hắn thét:
- Đồ chó. Không có mồm à?
Vẫn chỉ tiếng khóc của đứa bé vang lên. Hắn cúi xuống, nhặt chiếc dép ném vào bức tường nơi phát ra tiếng khóc.
Vẫn chỉ có tiếng khóc đáp lại nỗi giận dữ của hắn. Hắn xông vào buồng, toan nện vào mặt vợ. Nhưng thị không còn ở đó.
Máu hắn sôi lên: "Hay nó đi theo trai?" Hắn tự nhũ, sẽ cho thị một trận nên thân. Hắn mà bắt được thị, thì chỉ có mà thịt nát xương tan. Nhưng rồi hắn cũng biết nuốt hận vào trong, cúi gương mặt sần sùi, giương đôi mắt ty hí nhìn con. Hắn bế ngửa đứa bé, đập tay vào mông nó vỗ về.
Từ đó, căn nhà hắn quạnh hiu. Thị không về. Không ai biết thị đã đi đâu. Hắn phải địu con trên lưng mỗi khi ra khỏi nhà. Đứa bé rồi cũng dần quen với hoàn cảnh của mình. Trong những giấc mơ, hắn thấy con hắn lớn dần lên, đẹp trai, thông minh. Tỉnh dậy hắn ôm lấy con, nở một nụ cười vừa có phần chua chát vừa mãn nguyện.
Năm tháng trôi đi, đứa bé rồi cũng lớn lên. Biết ngồi. Biết đứng. Biết đi. Các bộ phận cơ thể nó bình thường, duy cái đầu là to ngoại cỡ. Hầu như ngồi đâu nó cũng ngủ gục. Tính nó hiền khô, đần độn.
Hắn lóc cóc chống nạng địu con đi bệnh viện. Các bác sỹ kết luận, đứa bé bị thiểu năng trí tuệ, không thể chữa được. Hắn ứa nước mắt địu con trở về nhà. Đối với hắn, đó là một ngày đen tối, rùng rợn trong cuộc đời. Mọi hy vọng vào tương lai của đứa con trai duy nhất bị dập tắt. Hắn thấy cô độc và bi phẫn rước sự cay nghiệt của số phận.
*
Hắn cười khằng khặc. Phải rồi... Hắn đã nhớ ra... Một bài thuốc bí truyền... Lời lão già hắn đã giết gần hai mươi năm trước bỗng thức dậy trong óc hắn. Hôm sau, hắn gửi con cho hàng xóm rồi chống nạng ra đi...
Khuya! Trời đất đen ngòm tĩnh lặng. Hắn dừng lại bên gốc cây vông trên cánh đồng. Hắn nhìn khắp xung quanh để định thần lại rồi lấy trong tay nải ra một cái đèn p
in và cái cuốc chim ngắn cán. Sau mấy phút đắn đo, lưỡng lự, hắn bắt đầu hì hục đào...
Hình ảnh lão già quỳ lạy... Cái đầu lâu lìa khỏi cổ... Những tia máu phụt lên... như bỗng hiện lại trong tâm trí hắn. Hắn thấy rờn rợn... Một niềm kinh hãi thẳm sâu bỗng bừng lên làm hắn dừng cuốc. Trong vài phút, hắn toan lấp đất lại bỏ đi, nhưng một sức mạnh lạ kỳ gì đã làm hắn không thể rời khỏi gốc cây vông. Và hắn lại cần mẫn đào tiếp.
Đến gần sáng, lưỡi cuốc hắn va vào một vật gì hơi rắn. Hắn nhẹ tay, lúc sau hắn đưa lên khỏi mặt đất một cái sọ người. Hai hốc mắt đen ngòm nhìn hắn. Cái miệng trơ xương, hàm dưới đã rụng. Hắn vội vã bọc vào bao ni lông, lấp lại đất, chống nạng bước về phía dòng sông. Trong bóng lờ mờ của một ngày sắp rạng, hắn dùng tay kỳ cọ, mài rửa cái sọ người cho đến khi nó trắng hếu, sạch bong. Rồi hắn đem dấu trong rừng sú. Xong việc, hắn giả bộ làm người câu cá, đợi cho đến chập tối, khi trên sông đã thưa thớt người qua lại, hắn đi lấy củi. Rồi hắn trát kỹ càng một lớp đất sét khô xung quanh cái sọ người, tựa như người ta làm đồ gốm. Cuối cùng hắn nung cái sọ người trong ngọn lửa đỏ rực.
Hắn ngồi một mình canh ngọn lửa. Xung quanh không gian đen ngòm bỗng phát ra những âm thanh kỳ quái, lúc eo oéo như tiếng mèo hoang, lúc thình thịch như tiếng chân thú, lúc man dại như tiếng hổ gầm... Hắn nhìn vào ngọn lửa. Những tia xanh vàng kỳ ảo chạy thẳng vào mắt hắn. Từ trong cái sọ người như có tiếng kêu khóc, rền rĩ phát ra... Hắn cắn chặt răng, nắm chặt tay, cố làm ra vẻ không nghe thấy gì, không hề sợ hãi. Hắn cố nghĩ về đứa con trai của hắn... Một mai đây, con hắn sẽ khỏe mạnh, thông minh, sẽ có một cuộc sống bình thường như mọi người...
Mấy tiếng đồng hồ sau, hắn tắt lửa, khêu cái sọ người trát bùn đen cháy, cứng như đá ra khỏi đống tro than. Đợi thật nguội, hắn dùng chiếc búa đinh nhỏ nện vào một điểm. Một mảng đất sét tróc ra. Hắn lấy tấm ni lông trải ra, dốc cái sọ người được bọc đất sét xuống. Từ bên trong, một thứ bột tro xam xám chảy ra.
Xong xuôi, hắn vứt cải vỏ đất sét xuống dòng sông. Xóa hết mọi dấu vết trong rừng sú. Gói ghém đồ đạc, bỏ gói tro vào tay nải, điềm nhiên rời khỏi bãi sông.
*
Thứ tro ấy được trộn với mấy vị thuốc bắc, vo thành viên. Hàng đêm, hắn cho đứa bé uống trước khi đi ngủ. Hắn tin rằng, sau khi uống vào con hắn trở nên khỏe mạnh, thông minh. Không thể ngờ, sau mỗi lần uống, đêm đêm con hắn mơ thấy cảnh ma quỷ hiện hình nhe những hàm răng đen xỉn và cái lưỡi xanh lè liếm vào mặt nó. Đứa bé giật mình, run rẩy, gào thét dữ dội.
Một tuần sau, vào lúc nửa đêm, con hắn nấc lên một cơn dài rồi trợn trừng mắt. Hắn bật dậy như một cái lò xo. Hắn ôm chầm lấy con mà lay, mà lắc, mà thét, mà gào...
Nhưng vô hiệu. Đứa bé không bao giờ tỉnh lại được nữa.
Hà Nội 20-2-2005
Cuộc hạnh ngộ
Vợ giáo sư Phương chết rồi. Mới mấy phút trước đây thôi, bà Nguyệt còn cười nói. Bà bảo, hôm nay trong buổi tiệc mừng đám cưới cô cháu họ, bà sẽ mặc chiếc áo gấm mà ông mua tặng bà trong một chuyến công tác ở Bắc Kinh. Thế mà chưa kịp đi, một cơn đau tột độ trong ngực trái. Mặt bà tái mét, mắt tối sầm và bà đổ gục xuống, không nói được lời nào. Đôi môi run run bỗng bất động và đôi mắt đờ đẫn nhìn ông như mãi mãi không bao giờ muốn nhắm lại.
Ông nấc lên! Một cảm giác bại hoại đau đớn. “Bà! Bà ơi! Bà ơi! ...” Tiếng ông như tan vào không gian lạnh lẽo. Chỉ có sự băng giá, bất động như có hàng trăm con mắt xỉa những tia sắc nhọn vào tim, vào óc ông. “Bà! Bà ơi! ...” Ông gục đầu xõa mái tóc bạc trắng, rối bù xuống cái xác bất động của bà.
Đêm!
Căn phòng tĩnh lặng. Tĩnh lặng đến nỗi ông có cảm tưởng như cả thế giới này đã ngừng im mọi chuyển động, chỉ có tiếng tích tích của chiếc đồng hồ treo tường gợi lên bước đi thầm lặng, tàn nhẫn của thời gian, và tiếng trái tim ông kiên nhẫn từng nhịp đập nặng nhọc. Trên bàn thờ, từ tấm ảnh đôi mắt bà hiền dịu nhìn ông. Ngọn nến lung linh nhòe động. Các ngọn nến nhân lên, nhân mãi lên thành hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn... lung linh, bồng bềnh... bồng bềnh, lung linh... và hoa... Hoa từ đâu rụng xuống những cánh màu sặc sỡ... Gian phòng bỗng trở nên lỗng lẫy, diệu kỳ. Từ bức ảnh, một bóng dáng dịu hiền, trẻ trung bước ra.
- Nguyệt!- Ông thốt lên - Chiếc áo trắng này em đã mặc trong ngày cưới. Em đẹp quá... trẻ trung quá...!
- Hôm nay là ngày cưới chúng mình...
Ông nhắm mắt lại. Chưa thể hiểu được điều kỳ diệu nào đang xảy đến. Thời gian đang quay ngược lại, cho ông gặp lại dĩ vãng tưởng chừng đã mất ư?
Khi ông mở mắt ra lại thấy bà, nhưng không phải với hình ảnh trẻ trung và chiếc áo cánh trắng ngày cưới mà là gương mặt hớt hải, đôi mắt kinh hoàng, gương mặt lấm lem bụi đất, thân hình run rẩy cố nép sát vào ông trong đêm Hà Nội bị bom B52. Những âm thanh ầm ào như vỡ trời kinh động từ trong mỗi tế bào.
Nhưng rồi thoắt cái, tất cả lại lặng tắt. Hình ảnh bà lúc này trở nên dịu hiền, buồn lặng trong chiếc áo gấm mà ông đã mua tặng:
- Từ nay tôi không được đỡ đần, chăm sóc ông hàng ngày nữa...
- Những ngày vừa qua, điều gì xảy ra với bà?
- Tôi được người ta dẫn đi qua những con đường rực ánh sáng, chơi vơi trên đỉnh trời. Nhưng tôi như có phép phân thân, vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác. Tôi thấy dường như ở rất xa ông, lại như rất gần. Tôi không biết những ngày sau sẽ thế nào. Tôi lo sợ quá... Nếu không được gần ông nữa, rồi tôi và ông sẽ ra sao?
Ông giật mình bừng tỉnh. Vẫn căn phòng vắng ngắt. Vẫn ảnh bà trên bàn thờ im lặng nhìn ông và ngọn nến leo lét cháy. Lạ chưa, không phải ông mơ. Ông đang thức. Nhưng điều gì đang diễn ra thế kia? Sự mệt mỏi, đau đớn sau những ngày bà từ giã cõi đời đã làm ông mê lú rồi ư?
Ông rùng mình, nhắm mắt lại, cố trấn tĩnh. Nhưng rõ ràng có một điều phi thường kỳ lạ vừa diễn ra với ông. Nỗi băn khoăn dậy lên trong óc ông như những dấu hỏi lớn chưa thể trả lời. Suốt gần 30 năm là một giáo sư vật lý nghiên cứu những hạt cơ bản của vật chất và quy luật tương tác giữa chúng đã để lại cho ông danh tiếng được nhiều đồng nghiệp kính trọng. Nhưng dần dần, trong ông xuất hiện những câu hỏi lớn về bản chất của sự tồn tại và mối liên hệ giữa cái vật chất và cái tinh thần. Thì hôm nay đây, dường như một nửa huyền bí của thế giới bỗng hé lộ. ồ không! Ông đập tay vào trán, tự nhủ: “Bản tính nghề nghiệp có thể đã làm mình sai lầm. Mình hay đi sâu quá vào những khía cạnh đặc thù, những tình huống riêng biệt. Sự tò mò và suy đoán đã làm cho mình sai ...”
Để lấy lại tỉnh táo, ông thắp đèn, đi rửa mặt và ngồi vào bàn đọc sách. Nhưng dù nhìn đăm đăm vào trang giấy mà hồn ông như đang trôi lơ lửng trên những đám mây, lạc vào cõi xa ảo mờ, lãng đãng những sợi mây vàng như tơ bay xung quanh gương mặt một cụ già đôn hậu, râu tóc trắng như bông, mắt nhìn xa vạn dặm. Cụ đưa bàn tay ấm nóng của mình vỗ nhẹ lên vai ông:
- Con! Ta nhớ con quá...
Một nỗi kinh ngạc và hoài nghi bỗng trùm lên ông. Ông bỏ cuốn sách đang đọc, quay ra ngoài, hít thở không khí, lòng lo lắng tự nhủ: “Mình lẩn thẩn thật rồi. Sự hoang tưởng, những ảo giác cứ len vào trong trí não mình”. Ông thấy mình run lên một niềm lo lắng bí ẩn.
Ông quay vào nhà, thắp lên bàn thờ bà Nguyệt một nén hương:
- Bà phù hộ cho tôi được bình an.
Đôi mắt bà từ bức ảnh nhìn ông nhấp nháy. Ông tắt đèn. Cần phải thiền để tập trung tư tưởng. Ông ngồi theo thế kiết già, hướng về phương tây. Đầu lưỡi chạm vào vòm miệng, hai tay chắp trước ngực, nhắm mắt và tập trung dẫn luồng linh khí từ đỉnh đầu về tim và tỏa đi khắp cơ thể.
Chưa bao giờ như thế!
Kể từ thuở được sinh ra trong cuộc đời này ông chưa bao giờ hình dung nổi lại có một điều kỳ diệu như thế xảy ra với mình. Dường như có một luồng điện đi vào cơ thể ông từ một điểm trên đỉnh đầu. Từ đó tỏa ra râm ran khắp trong từng tế bào. Ông có cảm giác như trong từng khớp xương, thớ thịt mình có một nguồn năng lượng tràn vào và mỗi tế bào trong cơ thể như được tái tạo, trở nên sung mãn.
Bên tai ông bỗng phực lên một tiếng động khẽ và trên ấn đường như có một chỗ nứt ra. Một luồng ánh sáng kỳ lạ xen lẫn các màu xanh, đỏ, tím, vàng được rót vào trong óc. Giáo sư Phương thấy mình như có một con mắt thứ ba. Cả không gian bỗng sáng rực và dần dần phía trước muôn sắc màu kỳ lạ kết tụ thành hình tròn có những hoa văn tựa một chiếc trống đồng lóng lánh sắc màu như những ánh phát ra từ mỗi đóa kim cương hay hồng ngọc.
Một lúc sau, nguồn năng lương biến mất, những sắc màu kỳ diệu cũng tan đi, chỉ còn lại một màn đêm sâu hoắm, lạnh lẽo. Giáo sư Phương lặng lẽ đi nằm. Đêm đó ông ngủ ngon lành như mọi người bình thường. Ngày hôm sau, sức khỏe của ông dường như tốt hơn, người ông lúc nào cũng lâng lâng, nhẹ bỗng. Nỗi ưu phiền về sự ra đi vĩnh viễn của vợ cũng lắng lại một phần.
Ông cảm nhận được rất rõ có một chuyển động kỳ lạ trong trí não và xương thịt mình. Ông thấy mình như được nối với vũ trụ bởi một sợi dây vô hình nào đó. Từ cõi cao xanh kia có một cái gì đang dần dần len lỏi vào tâm trạng và chi phối cả những ý nghĩ của giáo sư Phương. Suốt cuộc đời chưa bao giờ ông nghĩ đến điều kỳ lạ ấy. Và có lẽ, nếu như ông nói ra những điều bí mật của mình thì cũng ít người tin. Vì vậy mà ông vừa phấn chấn, vừa lo lắng vừa cô độc.
Hàng ngày ông cố sống như một người bình thường, làm những công việc bình dị của đời thường. Nhưng đêm đêm, ông lại nhận được năng lượng vũ trụ và dần dần nghe thấu những lời chỉ bảo của các thần linh ở trên trời.
Khoảng một tháng đầu, ông nhìn thấy hình ảnh bà Nguyệt và dường như nói chuyện được với bà. Nhưng đến một hôm, bà ứa nước mắt nhìn ông, nói giọng đứt quãng:
- Từ nay tôi phải xa ông rồi.
Rồi bà bước theo một bóng sáng mờ ảo, đi mãi qua những con đường nhỏ cong cong vắt ngang một góc trời. Từ đó, ông không bao giờ nghe thấy giọng bà nói nữa. Hình ảnh bà lần cuối cùng khắc lại trong tâm khảm ông và thỉnh thoảng lại hiện lên trong sự câm lặng não nề. Ông có cảm giác, đó mới là dấu ấn của một cuộc chia tay thực sự trong cõi hư ảo. Ông bồi hồi nhớ lại, có lần, giọng bà thổn thức:
- Tôi được ở lại đây với ông thêm 23 ngày. Sau đó sẽ đi vào thế giới khác. Tôi không biết rồi mọi điều sẽ ra sao. Linh hồn tôi không được cùng ông nữa, nó sẽ cô đơn biết chừng nào. Từ nay đến vô lượng kiếp về sau, không biết có còn duyên để gặp lại ông nữa không. Suốt một đời làm vợ ông, chắc có lúc tôi không làm tròn phận sự...
Linh hồn bà Nguyệt òa khóc và ông cũng không cầm được nước mắt. Chao ôi! Hóa ra những mối tình bền chặt trên thế gian này cuối cùng cũng chỉ là những mối tình dang dở mà thôi ư? Trong vô lượng kiếp về sau, con người làm sao có diễm phúc gặp lại... Câu hỏi dường như phát ra từ cõi hư ảo ấy cuộn lên trong ông, mang một cảm giác nhức buốt.
*
65 tuổi, giáo sư Phương bàn giao công việc ở trường Đại học Tổng hợp lại cho những người bạn đồng nghiệp trẻ. Từ đó, ông sống lặng lẽ trong căn phòng tập thể tầng bốn của một khu chung cư cao tầng.
Bà Nguyệt và ông không có con. Sau khi bà mất, tuổi già của ông là một chuỗi ngày tháng u buồn. Hàng ngày tự ông phải đi chợ, nấu cơm. Đồng lương hưu ít ỏi. Mỗi lần muốn mua thêm một cuốn sách, ông phải cắt giảm các khoản chi tiêu khác, thậm chí phải nhịn thêm vài bữa cơm. Ông già đi nhanh chóng. Gương mặt hằn in những nếp nhăn, mái tóc vốn đã sớm bạc bây giờ dài thêm ra gần chấm bờ vai, trắng như cước.
Thỉnh thoảng đồng nghiệp thường vẫn gửi cho ông giấy mời tham gia các hội thảo quốc tế về khoa học hoặc đảm nhiệm các công trình nghiên cứu, nhưng ông thường từ chối.
- Mình muốn tập trung cho một hướng nghiên cứu riêng.
Ngày ngày ông lặng lẽ đọc các công trình cổ kim nói về thế giới bí mật của tâm hồn và sự huyền diệu của sự sống do các nhà khoa học và các nhà tu hành danh tiếng nghiên cứu tinh thần ở ấn Độ, Nê Pan, Tây Tạng, Anh, Pháp, Mỹ viết... Trong ông hình thành những dự định bí ẩn. Sự mường tượng về một công trình khoa học kỳ lạ ám ảnh ông không lúc nào nguôi.
*
Bấy giờ đúng lúc không giờ.
Giáo sư Phương ngồi theo thế kiết già. Cả thế gian như đã chìm lấp vào giấc ngủ. Sự tịch lặng vây tỏa. Bóng đêm trùm xuống muôn loài. Một nguồn năng lượng bí ẩn, như dòng sữa trắng từ trên cao chảy vào huyệt bách hội trên đỉnh đầu. Và một sự chuyển động âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt từ trong mỗi tế bào khiến toàn thân ông râm ran. Lần thứ hai trong đời ông thấy trên ấn đường rực sáng. Từ đó óc ông thu nhận được những hình ảnh kỳ bí. Con mắt thứ ba! Cái điều tưởng chừng như chỉ có trong tưởng tượng của loài người hiếu kỳ hay các giai thoại về những đấng siêu nhân thời xưa bây giờ trở thành hiện thực với chính ông ư?
Cụ già tóc trắng như tơ, có gương mặt phúc hậu lại hiện lên trong không gian mờ ảo sương khói, bồng bềnh trên chín tầng mây:
- Từ nay, con có thể nhìn xa muôn dặm, thấu được chín cõi, phân biệt được người ngay, kẻ gian, nói chuyện được với các linh hồn...
Cụ già biến mất. Bỗng giáo sư Phương thấy mình được cưỡi mây bay lên những vùng rực rỡ ánh sáng. Những vì sao nhấp nháy như con mắt thần linh đang nhìn ông. Từ trên cao, ông nhìn xuống thế gian và những kiếp người lầm lụi. Ông hỏi han, trò chuyện với những linh hồn đang chờ đợi để đi vào cảnh giới khác. Cũng có khi ông nghe thấu cả những lời thầm thì trò chuyện của những đám mây, tiếng kêu khóc của các linh hồn bị giam hãm, hành hạ ở đáy sâu địa ngục...
Nhưng tất cả cũng chỉ mập mờ, loang loáng. Rồi trong phút chốc, tất cả lại biến tan đi. Trước mắt ông lúc này lại là màn đêm đen quánh và giấc ngủ nặng nề của thế gian.
Choàng khỏi phút thiền định, ông bật công tắc điện và đi đi lại lại trong phòng. Ông suy nghĩ mông lung, không buồn, không vui, một cái gì mơ hồ, kỳ bí vây tỏa.
*
Có tiếng gõ, giáo sư Phương ra mở cửa. Suýt nữa thì ông đã thốt lên thành lời: “Sao thế này?”. Giáo sư Phương dường như không tin vào mắt mình, ông tháo cặp kính trắng và dụi mắt. Ông đeo lại kính.
Lần này ông thật sự kinh ngạc: Người học trò cũ của ông sao lại có cái mũi dài khoắm xuống, chìa ra cả cái răng nanh vàng, cái cơ thể được đóng trong bộ com lê đắt tiền kia bị bao bọc bởi một quầng đen. Từ cái cơ thể ấy ngùn ngụt bốc lên mùi hôi như của một loài thú lạ. Giáo sư Phương cố che giấu cảm giác lạ lùng đó. Suốt trong thời gian trực diện với người học trò cũ, ông thấy rờn rợn một linh cảm chẳng lành. Rồi trong một giây thôi, ông nghe thấu một lời mách bảo của thánh thần: “Hãy cẩn thận".
Khi hai người ngồi xuống ghế, giáo sư Phương nói bằng giọng ôn tồn nhưng kiên quyết:
- Con là kẻ phạm tội với cả thánh thần và các sinh linh. Hãy nói ta nghe con đã dùng khoa học vào những mục đích xấu xa nào?
- Thầy nói gì thế, con không hiểu.
- Ta khuyên con hãy nói thật ra và sám hối. Con đã quen che dấu tội ác, quen lừa dối nhiều người, kể cả ta... Hôm nay ta muốn nói với con rằng, óc con có màu đen, diện mạo con hao hao một ác quỷ. Những nhơ bẩn của đời đã thấm vào con. Cái ác trong con đang được thời sinh sôi nảy nở.
Người học trò run bắn, toát mồ hôi.
- Con đến mời thầy dự một hội nghị quốc tế... Con không ngờ thầy lại đối xử với con như vậy... Con xin phép thầy ...
Người học trò toan đứng lên. Nhưng giáo sư Phương nói với hắn:
- Trong túi áo con có thuốc độc. Con định làm gì với thứ thuốc độc ấy?
- Thầy không được vu cáo!
- Hãy khoan! Ta không ép con phải làm những điều mà con không muốn. Ta chỉ thương con, tội lỗi đã trùm lấp trí não con. Lương tri con đã chết. Như thế thì biết bao nhiêu kiếp con mới được trở lại làm người đây? Con sẽ bị giam cầm trong địa ngục. Sẽ bị hóa kiếp thành giòi bọ... Rồi con có hối cũng không kịp nữa.
Mặt hắn đanh lại như thép. Hắn quay ra cửa, để lại phía sau cả một chuỗi những tia đen nhọn như kim, chích vào da thịt và tâm não của giáo sư Phương.
Ngày hôm sau, giáo sư Phương vẫn đến dự hội nghị khoa học quốc tế. Giữa những lời tôn nghiêm, trang trọng của những vị chức sắc đầy uy danh, giáo sư Phương bỗng nghe thấy tiếng gào réo của thú dữ, tiếng cắn xé nhau, như những tiếng chó hoang. Giáo sư Phương sang bên trái, thấy một kẻ có gương mặt vàng như nghệ, ánh mắt phát ra những tia xanh. Cái lưỡi có tia độc đen ngòm. Bên phải, một vị như con gấu đen tuyền lim dim mắt. Và kẻ đang phát biểu nom như một con mãnh hổ, có bộ lông hung màu lửa, lúc nào cũng như sắp chồm lên.
Giáo sư Phương quay người, vội vã bước ra cổng. Ông đập tay vào trán. Những gì ông vừa nhìn thấy thực kinh khủng. Chẳng lẽ... chẳng lẽ ông bị một loại ảo giác gì chi phối... Hay con mắt thứ ba đã giúp ông nhìn ra những điều mà người bình thường không thể nào nhìn được... Ông đi lang thang cho khuây dần cái cảm giác ức chế, sợ hãi, đến tận tối mới trở về nhà.
*
Dạo đó trẻ con hàng xóm bỗng hát một bài hát lạ khiến giáo sư Phương quan tâm.
Những làn mây từ hư vô hiện ra,
bay từ đông sang tây,
từ tây sang đông
không phân ranh giới
Những giọt nước từ trời rơi xuống
qua suối khe, rừng biển
rồi lại về trời
ánh sáng từ những vì sao xa vẫn coi trái đất là căn nhà của nó
Âm thanh nối những linh hồn thương nhớ nhau phiêu lạc ngàn trùng
Con có nghe thấy không
Lời ta dặn
Lời ta gọi
Con có biết điều gì nối giữa thực và mơ
Nối những tầng thế giới
Nỗi những vật nổi trôi với cùng thẳm cội nguồn
Con có nghe thấy không
Lời ta dặn
Lời ta gọi
Một đêm, lúc thiền định, giáo sư Phương đã gặp lại cụ già có bộ râu trắng muốt mà trước đây ông từng gặp. Cụ nói với ông bằng giọng thân mật:
- Con! Con hãy nhìn xem vầng mặt trời có phân biệt đông tây? Không! Không có ranh giới nào cả. Những đám mây ngơ ngác kia còn biết bay từ nơi này sang nơi khác, kết lại thành những đám mây lớn hơn... Chẳng lẽ con người lại để cho sự phân cách, sự thù hận, những định kiến chiến thắng... Làm cho con người hiểu được sự cần yếu phải thống nhất, liên kết đông tây là thiên chức của con.
Bừng tỉnh, ông ghi lại những lời vừa nghe thấy vào sổ tay và tâm niệm sẽ làm theo lời chỉ giáo của bề trên.
Từ trong thiền định, dường như ông được tiếp thêm nhiều sức mạnh và khả năng khám phá. Suốt ngày đêm ông lao vào nghiên cứu những vấn đề văn hóa, triết học, tâm linh... Đêm đêm, những lúc thiền định ông lại có cảm giác như một luồng điện từ trên cao chạy vào cơ thể mình. Một luồng ý nghĩ thần bí được thức dậy trong óc. Biết bao điều kỳ lạ, huyền linh vượt ra ngoài trí nghĩ của con người đã đến với ông. Tất cả những điều ấy, ông đã ghi chép lại, sắp xếp lại và bổ sung thêm bằng những kiến thức khoa học thực chứng. Không thể nào tin nổi điều phi thường đã đến với ông. Chỉ trong hai tháng ông đã viết xong một công trình khổng lồ “Tích hợp đa văn hóa đông tây”. Khi dòng cuối cùng của cuốn sách dừng lại, ông buông bút, thắp hương lên ban thờ bề trên.
- Thưa bề trên! Con đã hoàn thành công việc mà ngài giao phó...
*
- Con đang gặp điều hung dữ.
Giáo sư Phương đang đi bách bộ trên đường, bỗng bên tai ông vang lên một giọng nói trầm ấm, quen thuộc khiến ông giật bắn, như có ai đó đẩy ông vào một góc đường. Cũng lúc ấy, một chiếc xe tải bất thần lao vào chỗ ông vừa mới rời đi.
Giáo sư Phương hiểu rằng bề trên đã che chở cho ông. Nhưng điều làm ông kinh ngạc là dưới bánh xe tải như cuộn lên những tia khí đỏ tựa máu.
*
Sáng hôm sau, có tiếng gõ cửa. Trước mắt ông là một người đàn bà ngoài tuổi 40, nom vóc dáng khỏe mạnh, gọn gàng:
- Thưa thầy, các đức thánh sai con mời thầy đến dự buổi trò chuyện của các ngài ở đền Linh ứng ạ!
Giáo sư Phương thoáng chút e ngại. “Rõ ràng mình nghe bề trên dặn dò sợ có điều hung dữ. Hôm nay lại thấy một người lạ đến nói những lời bí ẩn. Hay là ma quỷ đóng vai người lương thiện...Trông kìa, vầng hào quang tỏa hồng xung quanh người ấy, rõ ràng phải là một kẻ chân tu... Nhưng mà không dễ tin thế được. Khối gì yêu tinh, quỷ sứ có phép thần thông, lừa mị cả các thánh thần...”
Lấy giọng bình thản, giáo sư Phương hỏi người đàn bà:
- Con tên gì?
- Dạ, con là Thanh Vân ạ!
Giáo sư Phương ngờ ngợ. “Vân! Sao cái tên này quen thế nhỉ?” Ông nhìn người đàn bà với một ánh mắt thân thiện hơn. Bỗng trong óc ông vụt hiện về một hình ảnh mờ mịt, xa lắc... “Dường như ở đâu đó, lúc nào đó mình đã gặp người này...”
- Con đợi ta một chút.
Một lát sau, Giáo sư phương theo người dẫn đường đến một ngôi đền cổ trầm tư trong một khu phố nhỏ. Người giữ đền là Ngọc Bảo, một ông già có mái tóc trắng như tơ, vầng chán rộng đeo một cặp kính lão dày, dáng vẻ trầm mặc. Ông ra tận cổng nghiêng mình kính cẩn chào đón giáo sư Phương:
- Kính mời thầy vào trong đền.
Trong đền, ai trông cũng nghiêm trang. Có cụ mặt nhỏ, chân dài, miệng rộng có lọn tóc trắng duy nhất trên đỉnh đầu, tiếng nói trong, sắc nhọn, hiệu là Thiên ngôn. Lại có cụ lưng khòng, mặt đỏ, râu dài tận ngực, hiệu là Trần Dương. Một người phụ nữ gầy gò, nom hiền lành, nhỏ nhẹ mặc áo quần hành lễ mớ ba, mớ bảy tên là ánh Tuyết và một phụ nữ khác mặc bộ đồ vàng, mọi người gọi là Bà Đồng Loan, ngồi im lặng trên chiếu chầu trước ban thờ phụ bên trái.
- Thưa thầy - Ngọc bảo chắp tay trước ngực nói với giáo sư Phương - đền thiêng hôm nay được đức Thánh Gióng chiếu cố về.
Giáo sư Phương thấy trong lòng dâng lên một niềm vui khó tả. Không ai trong số người được mời tới biết trước tin này. Mọi người, toàn những bậc trứ danh trong giới tâm linh mà lòng phần chấn như con trẻ.
Rồi ngọc Bảo quay sang mọi người, cất giọng nghiêm trang:
- Thưa quý vị! Giờ thiêng đã đến. Mời quý vị nghiêm trang hành lễ đón đức thánh.
Chín tiếng chuông thỉnh lên. Tất cả mọi người dâng hương lên điện thờ rồi quỳ xuống chiếu chầu, chắp tay trước ngực, dồn tất cả tinh lực hướng lên cao xanh nghênh đón đức thánh.
Bên ngoài, một đám mây vàng ngừng lại giữa nền trời. Trên ban thờ chín bát hương bỗng hóa. Một sắc hồng lan tỏa, hương thơm nức, khói trắng cuộn thành vòng rồi tỏa ra không gian mờ ảo.
Bà Đồng Loan quỳ ở góc trái điện thờ bỗng lúc lắc cái đầu, toàn thân run rẩy phát ra một giọng nói mạnh, sắc, uy nghiêm:
- Đức Thánh đã về. Các con hãy khắc ghi lời vàng ngọc của ngài.
Tất cả mọi người vái 3 vái bên ban thờ và nín thở chờ giây phút thiêng. Bỗng Trần Dương từ từ đứng dậy nhìn mọi người với con mắt nghiêm nghị nói:
- Hôm nay duyên thiêng kỳ ngộ, trời cho ta về đây có mấy lời căn dặn các con. Tổ tiên phúc dày, ân đức tràn đầy trong chín cõi, sơn hà muôn dặm đều có huyệt đạo trấn giữ, khí thiêng hội tụ mới có nhân tài hào kiệt độ thế, cứu đời, mang đến bằng an cho xã tắc, dẫu từ xưa máu đã tưới khắp sơn cùng thủy tận, thây đã phơi khắp từ chốn đô thành đến nơi rừng thẳm hoang vu.
Nay vận hội Thái dương đã sắp đến gần kề. Lửa đã tắt, binh đao đã dẹp. Nhưng lòng hung ác của thế gian vẫn chưa trừ diệt được hoàn toàn. Cuộc tranh đấu không có phút nào được ngơi nghỉ. Những kẻ ngoại bang còn bí mật đặt bùa yểm khắp núi sông ta. Xây dựng thế trận tâm linh hòng trấn áp các thần linh canh giữ núi sông ta từ nam chí bắc. Chúng tạo ra những loài lai tạp, nhiễu loạn các dòng giống, đưa vào cơ thể dân ta những mầm rối loạn, quái đản. Chúng dùng độc tố cho vào thức ăn, tạo ra nhiễm độc truyền đời. Cho nên khắp nơi nơi, đều có những kẻ thoái hóa thành những sinh linh quái dị mắt mờ, bụng to, lúc nào cũng đam mê lạc thú, mưu mô hại người, giành giật danh lợi. Chỗ nào cũng thấy bọn hổ báo, chó lợn đội lốt người. Đầu óc chúng gầm gừ, giận dữ những cơn giận thú vật.
Hỡi ôi! Trông cảnh lớp người sau lầm lạc, kẻ độc ác lên ngôi, người tài ba bị phế bỏ, dân lành bị hãm hại mà lòng ta đau đớn vô cùng. Mấy ngàn năm nay, từ độ dẹp tan quân giặc về trời lòng ta lúc nào cũng không rời xa trần thế. Nay ta dặn các con, hãy vững tin vào lẽ phải, các con sẽ được ban quyền phép để đương đầu với những thách thức hiểm nguy...”
Bỗng Trần Dương im lặng, từ từ quỳ xuống chắp tay trước ngực. Cả ngôi đền chìm vào một sự yên tĩnh lạ lùng. Trên điện thờ rực sáng hào quang. ánh hào quang lên cao dần, biến thành một lọn mây vàng bay về phía đền Hùng.
*
Sao chiều nay giáo sư Phương lại có nhiều tâm trạng đến vậy.
Đã lâu lắm rồi cuộc sống của ông xa lạ với những gì thực sự của một con người bình thường. Hàng ngày ông tập thiền, đối thoại với thánh thần, với người âm, viết sách và giảng giải cho những lớp học trò.
Không ít người xung quanh từ lâu đã chẳng thể nào hiểu được ông.
Có người tỏ ra “kính nhi viễn chi”. Mỗi khi gặp ông, họ thường hỏi về những chuyện kỳ lạ của cõi âm, về những dự báo các sự kiện lớn diễn ra trên thế giới... Ông nhiệt thành giải thích cho họ những gì mà ông thu nhận được bằng tâm linh. Nhưng, hầu hết trong số họ vẫn nửa tin, nửa ngờ. Bởi họ vẫn phải tin vào những gì họ nhìn thấy, những thông tin họ nghe được và dựa vào cái phương pháp luận thông thường. Trí nghĩ của họ có hạn, họ lại có quá nhiều việc phải làm, phải lo toan.
Một số khác thì ngạc nhiên, họ hỏi nhau rằng: vì cớ gì mà một nhà khoa học duy lý như ông lại trở thành một kẻ duy tâm gàn dở, chuyên kể ra những câu chuyện lạ lùng và viết ra những cuốn sách mà họ cho là hoàn toàn mù tịt, không thể hiểu và chứng minh được.
Thậm chí có người còn cho ông là phản động, ăn lương của kẻ thù để gieo rắc mê tín dị đoan, phá hoại nền văn hóa dân tộc...
*
Đã mấy ngày liền, dân trong khu phố không thấy giáo sư Phương đâu, họ đều xì xào, bàn tán. Có người còn lên phường báo cáo công an về sự mất tích kỳ lạ của ông. Mấy ngày sau, có một thông báo đưa về khu tập thể, rằng giáo sư Phương tâm thần không ổn định nên đã được đưa vào bệnh viện điều trị.
Đức, bác sỹ điều trị báo cáo với giáo sư viện trưởng Luyện:
- Thưa anh, theo yêu cầu của trên, chúng ta vừa nhận vào viện một người khá nổi tiếng, đó là giáo sư Phương, một nhà khoa học, gần đây đã chuyển sang nghiên cứu tâm linh. Theo kết luận của các cơ quan chức năng, thì người này có dấu hiệu không bình thường về thần kinh. Nhưng các xét nghiệm của chúng ta đều đưa đến kết luận rằng tình trạng sức khỏe của giáo sư Phương hoàn toàn bình thường. Dù vậy, đã rất nhiều lần chúng tôi kinh ngạc vì cách suy nghĩ và nói năng của ông ta thực sự là vô cùng kỳ lạ...
Viện trưởng Luyện nhìn vào gương mặt người đồng nghiệp trẻ tuổi vừa tu nghiệp ở nước ngoài về, với vẻ đầy băn khoăn, nghĩ ngợi. Lúc sau ông nói:
- Cơ chế thần kinh, tâm lý, ý thức và khả năng nhận cảm của con người có vô vàn bí ẩn. Tôi đề nghị anh theo dõi sát và phân tích mọi cử chỉ, hành động, phát ngôn của bệnh nhân này. Đây là một trường hợp đặc biệt, và chúng ta có thể có thêm những cơ sở mới để nghiên cứu...
- Thưa anh, tôi đã làm đúng những lời anh nói: Giáo sư Phương được thu xếp một buồng riêng, được các bác sỹ, y tá trực tiếp hỏi han... Ai cũng phải kinh ngạc vì sự lịch lãm, hiểu biết sâu rộng và lối sống gọn gàng, ngăn nắp của giáo sư Phương. Ông ấy vẫn đọc sách báo, ghi chép tư liệu và tập thiền ban đêm. Ông ấy cũng tiếp xúc với các bệnh nhân khác và nói rằng: Các bệnh nhân bị tâm thần nói chung, do bị rối loạn vận hành của các luân xa, dẫn đến rối loạn cơ chế thần kinh, rối loạn trường sinh học, không làm chủ được suy nghĩ, mất khả năng phòng vệ cho nên chược khí, tà khí nhập vào, phá hoại và làm rách vầng hào quang lương tri, linh hồn người bệnh bị phân tách, tan rã, thú tính nổi lên chi phối và hủy hoại người bệnh. Ông ấy nói, ông ấy sẽ cùng chúng ta nghiên cứu và góp phần đưa ra một phương pháp chữa bệnh mới.
Viện trưởng mở to đôi mắt kinh ngạc nhìn bác sỹ Đức:
- Có thực ông ta nói như vậy không?
- Vâng!
- Anh đã đọc tài liệu nào phân tích về bệnh lý tâm thần theo hướng đó chưa?
- Dạ chưa!
- Thực kỳ lạ. Các anh chăm sóc ông ta chu đáo, tôi sẽ gặp ông ta ngay chiều nay.
Bác sỹ điều trị ra khỏi, viện trưởng vẫn chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trong phòng... 25 năm trước, giáo sư Luyện ông tốt nghiệp đại học y khoa ở Liên Xô, hăm hở đi vào đời. Ông muốn cứu vớt những bệnh nhân của ông khỏi căn bệnh hiểm nghèo. Thế mà, suốt cả thời gian dài dằng dặc một phần tư thế kỷ đó, dù đã tham khảo nhiều sách vở, đi đến nhiều nơi, tiếp xúc và suy nghị những phương cách mới, nhưng ông vẫn thấy bất lực. Con đường nghiên cứu tâm thần con người càng lúc càng bí ẩn... Bao nhiêu đêm ông thức trắng. Bên tai ông hiện lên những lời nói lúc eo éo, lúc đục trầm, đứt đoạn, hỗn độn, vô nghĩa của các bệnh nhân. Những gương mặt hom hoem, bẩn thỉu, những ánh mắt đờ đẫn, những mái tóc rối bù và những hành động điên cuồng không thể nào kiểm soát... Và những cái chết... Những người già, người trẻ, gái, trai... Những cái chết vô lý và vô nghĩa... Là một người thầy thuốc, nhìn đồng loại điên loạn, tự hủy hoại ông không thể nào cầm lòng được...
Từ lâu Giáo sư Luyện đã suy nghĩ về phương pháp điều trị mới... Ông nhận ra rằng, thế giới đang bước vào một thời kỳ mà các căn bệnh về tâm thần, về thần kinh tăng lên không ngừng. Nếu chỉ dựa vào cách lý giải cũ về hiện tượng tăng đột biến của các chứng bệnh trên, rằng áp lực của một xã hội vận hành quá nhanh đã làm sụp đổ, rối loạn tinh thần con người, đưa đến những căn bệnh ấy thì chưa đầy đủ, chưa thỏa đáng. Rõ ràng, có một cái gì bí ẩn nữa... Cơ chế vận hành của trí não, của tâm linh con người là một điều huyền bí vô tận. Vậy thì, tại sao người ta lại dễ dàng đi đến những kết luận lười biếng và gạt bỏ những hiện tượng mà họ không có khả năng thấu hiểu... Đây là một cơ hội... Một cơ hội hiếm hoi trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của ông. Ông phải chớp lấy...
Giáo sư Luyện bước ra khỏi phòng làm việc, theo dãy hành lang hẹp đi về phòng bệnh nhân. Vẳng bên tai ông những tiếng cười man dại, những tiếng khóc méo mó. Có tiếng chân chạy, có tiếng vật gì đó vỡ nát... Các bác sỹ và y tá điều trị có mặt kịp thời cách ly bệnh nhân đang tụ lại thành một đám. Một người gầy đét, tiều tụy khóc tru tréo, gương mặt méo mó, một vệt máu nhuộm đỏ nửa mặt bên trái.
- Có việc gì?
- Thưa viện trưởng, các bệnh nhân đánh nhau. -Một y tá đáp lời.
- Cách ly các bệnh nhân hành hung người khác. Không để tình trạng này tái diễn.
Nói rồi viện trưởng đi thẳng xuống phòng giáo sư Phương:
- Được tin giáo sư có mặt ở đây... Tôi có mong muốn được tiếp chuyện với giáo sư. Bác sỹ Đức đã trình bày với tôi những kiến giải độc đáo của giáo sư về bệnh tâm thần và ý nguyện của giáo sư về việc giúp bệnh viện cứu chữa bệnh nhân.
- Phương pháp của tôi bắt đầu từ sự phân tích riêng biệt về căn nguyên của căn bệnh theo phương pháp tâm linh học. Nguyên lý của nó là dùng sức mạnh của lương tri và trường sinh học để hàn vá vầng hào quang lương tri bao bọc xung quanh con người. Sử dụng các bí quyết của tâm linh học để xua đuổi tà khí, chược khí, tiêu diệt ma quỷ vây bám xung quanh, duy trì các thế tập thể dục đặc biệt và tập thiền, tiến hành các bước khai mở luân xa để làm cho con người hồi sinh. Có chế độ ăn uống và nơi ở thoáng mát cùng các sách báo, văn nghệ để làm tâm trí bệnh nhân được thư thái...
Giáo sư Phương ngừng lời, nhìn như thăm dò vào gương mặt đăm chiêu của giáo sư Luyện. Giáo sư Luyện từ từ tiến lại gần, cúi người đỡ lấy bàn tay giáo sư Phương:
- Tôi đã biết đến danh tiếng của giáo sư qua các công trình khoa học nổi tiếng ở trường đại học trước đây và qua những học trò nổi tiếng của ông. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên trong đời tôi được nghe một người ngoài ngành y nói về phương pháp chữa bệnh tâm thần kỳ diệu đến như vậy... thực là kỳ diệu...
ở phòng bên cạnh, những tiếng khóc tru tréo, những tiếng cười man dại, những tiếng chửi nhau thậm tệ vẫn dội vào.
- Giáo sư là người có lương tâm. Tôi xem, vầng hào quang trên đầu ông rực sáng. - Giáo sư Phương nói với viện trưởng Luyện. Hai người chia tay sau cái bắt tay thân thiện.
Từ buổi đó, một phương pháp chữa bệnh đặc biệt kết hợp các liệu pháp thông thường và tâm linh học đã được thí nghiệm. Những nhà tâm linh danh tiếng theo lời mời của giáo sư Phương đều lần lượt tham gia vào công việc trọng đại ấy. Ngày ngày người ta thấy Thiên Ngôn, Trần Dương... lần lượt xuất hiện...
*
Giáo sư Phương tọa thiền.
Khi đêm đen trở nên vô cùng tĩnh lặng, khi mọi giác quan và trí não từ từ khép lại, dẫn ông vào một thế giới mờ ảo, thẳm sâu, huyền bí, tiềm thức ông dường như mở ra một cánh cổng bí mật và phát ra một tín hiệu kết nối cõi thẳm cùng vi diệu của vũ trụ.
Bên tai ông dường như vang lên lời "Hịch tướng sỹ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Cảnh hào hùng, huyên náo, chí xung thiên của vạn vạn người hòa thành một dòng thác đấu tranh chống quân Nguyên. Theo mệnh lệnh của vua Trần Nhân Tông và tiết chế tướng quân Trần Hưng Đạo, mọi người theo kế “vườn không, nhà trống” rời Thăng Long đến các làng quê, vào tận núi rừng. Giáo sư Phương nhận ra... ấy là một nhà nho già yếu, râu dài, tóc trắng xóa, sau khi tiễn người con trai ra trận, quay về ông đốt nhà và bước thấp bước cao trên triền đê đi vào miền đất cổ phía tây thành. Từ phương bắc, dường như từng đợt bụi mù trời theo gió ùa về, mang theo mùi hôi thối của máu và tử thi. Cả bầu trời xám như chì, một âm thanh đục mờ rền rĩ từ các đám mây sa xuống... tựa tiếng khóc của các linh hồn.
Thanh Vân, người đệ tử của Thiên Ngôn, vừa phát khởi các luân xa, chính khoảnh khắc đó cũng được tâm linh đưa về quá khứ.
Cô bé chưa đầy 10 tuổi gầy gò, áo rách toác, xách trên tay một tay nải, bị lạc mất bố mẹ, vừa chạy vừa khóc... Cả bầu trời như sắp sụp xuống, đất dưới chân rung chuyển, mọi vật ảo mờ, nhòe động, ngả nghiêng. Đứa bé chạy qua một triền đê. Ngoài đê, một dòng sông đỏ ngầu, hung dữ đang cuộn lên. Dường như đó là một dòng sông máu... Thỉnh thoảng lại thấy những xác người, ngựa trôi dạt về hạ lưu.
Đứa bé gào khóc gọi cha, gọi mẹ. Muôn vàn niềm sợ hãi ập đến như muốn nghiền nát trái tim và trí não non tơ ấy. Đứa bé cứ chạy, cứ chạy... Bỗng phía trước hiện lên hình ảnh một cụ già râu tóc trắng... Đứa bé chỉ nhìn được thế, rồi trời đất tối sầm. Nó gục xuống. Bất động dưới chân cụ già...
Giáo sư Phương cảm nhận rõ một luồng điện như lóe lên từ phía sau. Hình ảnh đứa trẻ lạc với chiếc áo nâu và cái tay nải đổ gục xuống làm ran động tâm trí ông. Cụ già râu tóc trắng ủ đứa bé nằm ngay ngắn trên vệ cỏ ven đê. Ông lấy mấy cánh hoa màu trắng đặt lên mũi đứa bé, lúc sau, mùi thơm đã đánh thức nó dậy:
- Cháu tên là gì?
- Dạ cháu là Vân ạ!
- Bố mẹ cháu đâu?
- Bố cháu đi đánh giặc Nguyên. Mẹ cháu đi tản cư cùng các em cháu và bà con làng xóm. Cháu bị lạc... Ông ơi! Ông giúp cháu tìm bố mẹ cháu... -Đứa bé thút thít khóc. Đôi mắt đỏ hoe, đôi môi tái xám.
- Cháu đừng lo, ta sẽ giúp cháu tìm ra bố mẹ.
Nói rồi, cụ già dẫn đứa bé đi vào một khu làng cổ rợp bóng cổ thụ. Xa xa là một dãy núi nhấp nhô, những hang động huyền bí... Cụ nói:
- Đây là đất thiêng. Có vị thần thiêng của sông núi nước Nam độ trì, che chở...
Thanh Vân thấy mình được cụ già chăm sóc và lớn dần lên. Quân giặc bị đánh đuổi, đất nước thanh bình, khắp làng mạc vang lời ca tiếng hát và người lính trở về với gia đình, những ai ly tán tìm về quê cha đất tổ. Niềm vui sum họp, tiếng hát mừng chiến thắng ngân vang khắp núi rừng, thôn cùng, ngõ tận. Nhưng bố mẹ Vân thì vĩnh viễn không về.
Một hôm cụ già nói:
- Ta có đứa con trai hy sinh ở trận mạc. Lòng ta héo hon. Từ ngày gặp con, ta đã coi con như con đẻ của mình. Trước ta định rằng nếu con trai ta về, ta hỏi con làm vợ cho nó. Nhưng mệnh nó đã vậy, con cũng đã lớn, ta phải đứng ra thay mặt cha mẹ con mà lo chuyện hôn nhân cho con...
Vân khóc nấc lên:
- Cha ơi! Cha cho con gọi như vậy... Từ lâu, con đã coi cha như cha đẻ của mình. Nay sức cha già yếu... Con muốn được sớm hôm hầu cha... Nếu con lấy chồng, lấy ai chăm sóc cho cha đây...
Cụ già nghiêm giọng:
- Việc hôn nhân của con ta đã liệu. Con đừng có nhiều lời...
Mấy hôm sau, Vân về nhà chồng...
Giáo sư Phương: Cụ già ốm nặng nhưng cụ gượng dậy thắp hương khấn vái thiên địa và các bậc tiền nhân. Rồi cụ già mê lịm đi. Trong cơn mơ, cụ thấy một hành tinh lạ bay qua trái đất. Hành tinh nhỏ như một phi thuyền trên đó toàn những nhà thông thái. Một trong số đó là nhà toán học chuyên tính toán các bước dịch chuyển của vũ trụ và sự luân chuyển của linh hồn tạo vật từ kiếp này qua kiếp khác. Ông ta có đôi mắt sáng ngời, nhìn vào cụ già nói:
- Ta là thân trước của ngươi!
Lời nói kỳ dị ấy như có ánh sáng làm lóe mắt và thắp sáng cả một vùng không gian mênh mông. Rồi hành tinh nhỏ đi qua, người có đôi mắt sáng cũng biến mất vĩnh viễn, không bao giờ quay lại.
Thanh Vân: Hình ảnh cụ già dần dần nhòe đi, rồi biến thành một làn khói trắng bay lên không trung. Cả không gian sực nức một mùi hương kỳ diệu.
Giáo sư Phương: Một cậu bé sinh ra ở vùng kinh đô cũ hoang phế. Những bức tường thành rêu phủ. Những cung điện nguy nga bỏ trống. Hàng ngày, cậu đi nhặt lại những viên đá cũ, ghép lại hình những con rồng vỡ, đọc và ghi chép những câu đối.
Cậu bé lớn nhanh như thổi. Chẳng bao lâu, cậu trở thành một trạng nguyên tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng đất nước loạn lạc, quan lại đục nước béo cò. Cậu noi gương thầy là Trạng trình, Nguyễn Bỉnh Khiêm, trả mũ áo về quê. Trạng Nguyên ở trong một căn nhà nhỏ dạy học trò, nghiên cứu bước dịch chuyển của thế thời và sáng tác văn thơ... Một hôm, ông nhìn vào gương mặt đứa con gái cưng, năm đó mới sáu tuổi, bỗng ông thấy quen quen... Và lạ sao, ông bỗng nhớ lại, hàng ngày con gái ông thường đi hái những bông hoa trắng muốt về cắm trong nhà. Ông hỏi:
- Sao con lại hay cắm hoa trắng vậy?
- Thưa cha, con yêu loài hoa ấy.. Cứ thấy nó là con cảm thấy khỏe hơn... Đêm qua con nằm mơ, có người nói với con, chính những bông hoa trắng này đã cứu con thoát chết... con mang ơn nó...
Trạng Nguyên nghe con nói, lòng bồi hồi, trí nhớ ông như hiện về một hình ảnh mơ hồ xa xăm... ở đâu đó... Ông đã gặp một đứa trẻ... Những cánh hoa trắng nở đầy trên một triền đê... Và hương... hương tinh khiết lan vào trong hơi thở ông...
Thanh Vân: Cô gái nhỏ cầm lấy bàn tay cha:
- Khi con lớn, cha dạy con học chữ nhé! Con muốn viết về những bông hoa trắng kia...
- Con viết thế nào?
- Con viết chuyện cổ tích... Ngày xửa, ngày xưa... Cô bé bị lạc trong một đêm chạy giặc. Cô bé mệt quá, lại sợ hãi mà ngất đi. Một vị thần râu tóc trắng như cước đã dùng những cánh hoa trắng đặt lên mũi cô bé. Hương thơm của hoa đã dần dần làm cô tỉnh dậy...
Trạng Nguyên kinh ngạc:
- Ai dạy cho con chuyện này?
- Con tự nghĩ ra... Tự nhiên con nghĩ ra... và con bỗng thấy đứa trẻ đó là con... còn cha là cụ già đã cứu con trong tiền kiếp...
Quan trạng ôm con gái vào lòng:
- Con! Con hãy tin là thực... Chuyện đó đã trên 300 năm rồi...
Giáo sư Phương: Quan trạng trầm tư nhìn lên những vì sao xa lắc. Cái thế giới mênh mông, huyền thẳm kia không chỉ có hư vô và chết chóc. ở đó còn có những linh hồn...
Một luồng điện chạy dọc xương sống ông...
*
Khi luồng linh khí biến mất, giáo sư Phương xả thiền từ từ bước ra trời đêm. Lòng ông bâng khuâng. Thanh Vân! Cả cái tên và gương mặt người con gái ông đã gặp lại trong ký ức huyền linh về tiền kiếp giống hệt với người phụ nữ mời ông tới Đền Linh ứng dạo trước.
- Ta phải gặp lại con ta... - ông tự thốt lên khi chỉ có một mình.
Giáo sư Phương đến phòng viện trưởng Luyện vào buỏi sáng hôm sau:
- Tôi còn nhiều việc phải làm. Anh biết đấy, tôi không hề bị bệnh như người ta vẫn vu cáo... Vậy thì anh hãy để tôi ra khỏi đây.
- Nhưng thưa anh- giáo sư Luyện giọng đầy e ngại- các bệnh nhân đang được thí nghiệm chữa bện theo phương pháp mà anh nghiên cứu, kết quả đang được khẳng định, nếu anh đi e rằng sẽ có những sai sót dẫn đến điều trị lệch hướng.
- Không sao, tôi sẽ thường xuyên quay lại. Chữa bệnh cho những người đau khổ ấy cũng là nhiệm vụ của tôi trong cuộc đời này.
Sau khi hội ý, tập thể các bác sỹ bệnh viện kết luận"Giáo sư Phương hoàn toàn không bị bệnh tâm thần". Thế là ông được tự do trở về nhà. Giới tâm linh tỏ ra vui mừng trước sự kiện này. Họ lần lượt kéo đến yết kiến vị giáo sư già.
Trần Dương, Ngọc Bảo, Thiên Ngôn đứng một hàng, phía sau là Thanh Vân và bà đồng Loan đứng cúi đầu cung kính.
- Xin cám ơn các vị. Chúng ta là những người trần nhưng mang một thiên mệnh, không ít người trong chúng ta từng có duyên gặp nhau ở kiếp trước. Nhờ công sức của các vị, nền tâm linh của dân tộc, của tổ tiên ta ngày càng sâu rễ, bền gốc.
Giáo sư Phương đi xuống cạnh Thanh Vân:
- Thưa các vị, hôm nay trong ngày hội ngộ này tôi cũng xin báo cho quý vị một tin vui, đứa con gái của tôi từ trong kiếp trước bây giờ cũng có mặt ở đây. Thực đúng là hạnh ngộ!
Mọi người đổ dồn vè phía Thanh Vân.
- Đây quả là một sự sắp đặt của trời đất. Cha con ta đã gặp nhau 3 lần sau ba lần hóa kiếp trong bảy trăm năm.
- Cha!
Thanh Vân chỉ thốt lên được có thế rồi nấc lên.
*
Từ ngày ra khỏi bện biện tâm thần, sức khỏe của giáo sư Phương cũng ngày một yếu đi. Chính vì vậy mà Thanh Vân thường phải đèo ông đi giảng giải tại các đền chùa, các trung tâm nghiên cứu khoa học, và các trường đại học. Cô còn ghi chép lại những lời ông nói, giúp ông hoàn chỉnh các bản thảo.
Một hôm, Thanh Vân nói với giáo sư Phương:
- Con thực không ngờ, thần linh lại cho con được gặp lại cha trong những ngày tháng cuối đời của cha. Được giúp cha, con thấy mình hạnh phúc và sống có ý nghĩa.
Giáo sư Phương nhìn người con từ trong kiếp trước của mình, ông thấy trong lòng ấm áp lạ thường.
- Con biết đấy, con người đâu có đơn lẻ. Con người sinh ra trong thế gian đâu chỉ có ràng buộc bởi huyết thống mà còn bởi tâm linh. Trong vô lượng kiếp, con người đã xe kết nên biết bao tơ duyên, bao tình nghĩa. Khi chuyển kiếp, vẫn thường có những cuộc hạnh ngộ như ta và con đây. Cha vốn là một nhà khoa học ở hành tinh khác, đầu thai xuống trái đất từ thế kỷ mười ba. Thế kỷ mười sáu cha trở lại trái đất lần thứ hai. Và thế kỷ hai mươi, cha trở lại lần thứ ba. Trong ba lần đó, cha con ta đều gặp lại. Đó là một chuyện hy hữu trong trời đất. Cha xuống trái đất lần này mang một trọng trách với con người. Thần linh cho con xuống để giúp cha là một sự chiếu cố lớn nhưng cũng là một cách để con người trong cõi thế gian vốn tâm tư còn bị che lấp bởi bao điều nghi hoặc có thêm những hình ảnh cụ thể mà tin tưởng, thấu hiểu thêm những đạo lý cao xa của trời đất.
Bỗng giáo sư Phương trầm giọng, ông nhìn Thanh Vân trìu mến:
- Chỉ tiếc rằng, cha con ta không còn bên nhau được lâu...
- Chuyện gì vậy cha?
- Mệnh của cha ở thế gian sắp hết. Dài lắm cũng chỉ một năm nữa. Bề trên sắp gọi cha về. Vậy nên ngay từ đêm nay cha bắt đầu phải viết một công trình cuối cùng " Sứ mệnh đức Di Lặc". Cha được bề trên hé lộ những bí ẩn của thời đại Dương Minh, các thần linh cũng sẽ giúp cha
Thanh Vân không thể nghe hết lời giáo sư Phương. Một nỗi xúc động mãnh liệt dâng tràn, khiến cô ứa nước mắt.
- Có đến thì có đi. Có gặp gỡ thì có chia ly. Mọi điều trong thế gian đều thay đổi. Con tu hành cần phải hiểu đạo lý ấy.
*
Ngày ngày giáo sư Phương miệt mài trên bàn viết. Như có một luồng điện bí ẩn từ cao xanh vũ trụ truyền thẳng vào trí não ông, tiếp cho ông một sức mạnh phi thường mở toang những cánh cửa thần bí của vũ trụ, của thế giới thần linh và con người. Hình ảnh Đức Di Lặc và sứ mện của Ngài, cũng như những hé lộ về bước thăng trầm của lịch sử để đi đến kỷ nguyên Dương Minh.
Công trình kỳ lạ ấy dày đến hai ngàn trang đã được hoàn thành.
Một đêm khuya, linh hồn giáo sư Phương theo một tia sáng lạ bay lên cao. Những vùng không gian đen, vàng, xanh, đỏ kế tiếp nhau lùi lại phía sau.
Cuối cùng ông nhập vào một cõi sáng trắng...
Xóm Hồng- Hà Nội
Ngày 1-4-2004 đến 22-2-2005
Hoa trên mộ
“Trái tim con nghiêng giấc ngủ về phía mặt trời”
(Lãng Thanh)
Dạo ấy tôi sống tại một ngôi làng cổ ở Hà Thành. Mỗi buổi chiều muộn bạn bè thường kéo nhau đến. Chúng tôi đàm đạo chuyện văn chương, chuyện thế sự. Có nhiều người sau đó đã đi du học ở nước ngoài, bao tư tưởng từ cái làng bé nhỏ, căn nhà rêu phong, cái sân có giàn hoa giấy rực đỏ đã tỏa đi khắp phương trời. ở đó có những tình bạn đã trở thành tri kỷ, những tình yêu chớm hé, cả sự hiểu lầm, những duyên tình lầm lỡ đến nỗi phải nuối tiếc suốt cả cuộc đời.
Cho đến bây giờ tôi vẫn oặn lòng thương nhớ kỷ niệm xưa. Chúng tôi như những con chim đang bay, say sưa nghĩ về những bến bờ xa lắc, những viễn cảnh huy hoàng. Chỉ có mấy chàng thi sỹ là hay buồn. Những cơn buồn khó hiểu, tưởng chừng vô cớ, như gió lạnh bất thần ập đến trong tâm hồn, như mây đen bỗng giăng mắc cả bầu trời.
Mỗi lần tụ họp anh em, Lãng không hề sôi nổi. Cậu lắng nghe nhiều hơn. Sau khi tốt nghiệp đại học, Lãng về quê công tác ở ngân hàng đầu tư của tỉnh. Cậu nói với tôi:
-Văn chương là niềm đam mê, là khát vọng lớn nhất đời em, nhưng bây giờ mình còn trẻ cũng phải lo kiếm một ít tiền. Đường đời xa lắc, mà xưa nay văn chương có nuôi nổi con người đâu.
Tôi hiểu rằng, Lãng đã chọn một con đường lập nghiệp riêng cho mình. Thời bây giờ đồng tiền trở thành thống soái. Khối gì kẻ vì tiền mà lóa mắt. Khối gì kẻ ở trong những biệt thự xa hoa, sung sướng như các ông hoàng, tiền bạc gửi khắp các ngân hàng thế giới. Nhưng cũng có người đói dài, chui rúc trong những căn hà ổ chuột hôi hám mùi nước cống. Có người ốm không có tiền thuốc thang, chết không có tiền làm tang ma. Có trẻ em bị mang bán cho nước ngoài, có phụ nữ tuyệt đường sống phải làm nghề bán thân nuôi miệng. Lãng phải lo lắng cho cái lẽ sinh tồn của mình cũng là điều dễ hiểu.
Bẵng đi thời gian khá dài, một buổi tối đầy trăng, Lãng xuất hiện trước khung cửa gỗ ải mục của tôi. Hôm đó tôi cũng có nhiều tâm trạng. Một mối tình đã rời bỏ tôi mà đi.
Lãng trầm lặng nhấp một ngụm trà sen.
- Anh có thơ mới không?
Tôi đưa cho Lãng tờ báo
- Có bài đăng đây. Hơi buồn...
Lãng đọc bài thơ và nhắc lại
Quá khứ đuổi theo tôi trên chặng đường định mệnh
Tình yêu tựa vầng trăng nát vỡ dưới chân
Rồi Lãng hỏi:
- Chuyện của anh ra sao?
- Người ấy... mất hút rồi bên trời Tây...
Giọng Lãng đượm buồn:
- Em vẫn nhớ ngày tiễn chị ấy đi... ai cũng nghĩ chị ấy sẽ về. Bao nhiêu là hy vọng... Thôi, đường đời khó lường...
Lãng lặng im. Sự im lặng kéo dài, đôi mắt Lãng tối sầm.
- Cậu sao vậy?
Lãng thở dài:
- Em cũng đang có chuyện buồn... Những lúc như thế này chỉ biết vục đầu vào thơ. Thơ như nguồn nước cho mình uống. Thơ như người mẹ dịu dàng bao bọc mình.
Rồi Lãng nhìn ra xa, một không gian êm đềm như trong cõi mộng. Đôi mắt đầy tư lự, bỗng cậu thốt lên như thể vừa phát hiện ra một điều gì lạ lắm:
- Nếu không có các thi nhân thì con người sẽ sống ra sao nhỉ?
Khi sự im lặng nuốt mất lời Lãng thì tôi mới chậm chạp thốt lên:
- Chịu... chúng ta khó mà hiểu được con người sẽ sống thế nào nếu thiếu vắng các thi nhân. Thế giới này không thi ca có thể sẽ thêm nhiều súng ống, gươm giáo giết người...
Sau khoảng lặng, tôi lại hỏi:
- Lãng... nghĩa là sóng. Sao cậu lại chọn sóng làm tên cho mình?
- Em cũng không biết nữa. Có lẽ mình đến với thế gian đã mang theo một cái tên từ thế giới khác.
- Cậu có nghĩ về tiền kiếp?
- Thỉnh thoảng em cũng nghĩ đến điều đó.
Đôi mắt Lãng như giọt mực đen.
- Có thể kiếp trước anh em mình có duyên nợ gì cũng nên.
- Em cũng nghĩ vậy. à, mà... hôm qua em nằm mơ lạ quá.
- Làm sao?
- Có một vì sao vỡ ra. Một vì sao rất nhỏ, rực sáng. Không hiểu sao nó nứt đôi... rồi rụng xuống một góc trời. Hàng ngàn mảnh vỡ của nó tung bắn ra như những mảnh vàng nát vụn. Bên dưới là biển. Biển chồm lên những con sóng nhuốm đỏ một màu máu. Dường như có một tiếng nổ. Nhưng tiếng nổ ấy không phát ra dữ dội mà biến thành một âm thanh du dương như lời ru phát ra từ các bộ xương... Phút chốc em thấy mình đứng bên một bộ xương. Rồi lại thấy mình đứng trước biển. Những con sóng bỗng nhiên cứng lại, gồ lên như những nếp nhăn trên trán một vị thần... Em thấy mình được những thiên thần xuống đón. Em bay qua những tầng cao bạt ngàn. Vũ trụ rộng mênh mông và yên tĩnh cũng mênh mông.
- Thôi đừng kể nữa, mình thấy như một điềm gở.
- Anh chẳng cần lo lắng thế. Em giật mình tỉnh dậy, bỗng thấy lòng nôn nao. Lúc ấy em nghĩ đến thơ. Và em cũng nghĩ đến Hàn Mặc Tử. Không hiểu sao nước Nam mình lại có thể sinh ra một thiên tài kỳ lạ như vậy... Không có Hàn Mặc Tử, nền thơ của chúng ta sẽ ngèo nàn đi biết bao! Em ước giá mình có thể sinh ra cùng thời với Hàn Mặc Tử để được trò chuyện, để được tỏ lòng ngưỡng mộ với ông. Em cũng ước, giá sau này chết đi, mình có thể gặp để tỏ tấm lòng biết ơn ông... Không có ông, làm sao chúng ta có thể nhìn thấy bóng nguyệt trần truồng tắm, làm sao chúng ta thấy được trăng nằm sóng soãi trên cành liễu, làm sao chúng ta nhìn nghe thấy tiếng vàng rơi chìm nghỉm xuống hư vô, làm sao chúng ta có thể nhìn xuyên các tầng thế giới... Em nghĩ về Hàn... Nỗi đau thương của ông, niềm căm hận của ông, sự da diết yêu đời của ông... được chưng cất trong những câu thơ thần diệu...
- Nhưng mà ... đừng nói những chuyện buồn nữa...
- Dạo này em có cảm giác nhớ nhớ thế nào ấy...
- Nhớ gì kia?
- Nhớ cuộc sống.
- Cậu lẩn thẩn rồi.
- Có một cái gì không bình thường. Em cũng hay sợ. Em thấy con người ác quá. Ngày nào trên báo chí cũng đăng tin giết người, tai nạn giao thông, chuyện buôn bán phụ nữ, chuyện ăn cắp cá bộ phận của tử thi. Khắp thể giới, những dư âm cuộc sống dội về căn phòng nhỏ của mình làm em khó ngủ. Em không biết con người sẽ đi về đâu, cuộc sống tương lai sẽ thế nào.
Thú thực, cũng như Lãng, con người càng ngày càng làm cho tôi thêm khó hiểu về nó. Con người dường như đang xa rời với những mục tiêu cao cả mà từ ngàn xưa nó theo đuổi. Những tội ác dã man khắp nơi trên thế giới ngày ngày cứ diễn ra như một điệp khúc bất tận...
- Em hay tưởng tượng ra một lưỡi gươm cắt ngang cổ mình. Máu từ đó trào ra. Em như sa xuống một vực thẳm. Rồi từ đó, em bay lên bồng bềnh chiêm ngưỡng những đám mây ngũ sắc, những thiên thần dang cánh vẫy em. Những giọng hát du dương cất cao hơn tiếng khóc của một ngày sắp tàn. Nhưng em tiếc mình không được nhìn thấy mẹ lúc ấy...
- Hôm nay cậu bị làm sao vậy? Đã bảo không nói những chuyện buồn nữa mà...
Lãng trầm tư.
- Nhưng hôm nay em cứ muốn nói với anh thật nhiều- Lãng vuốt lại những sợi tóc xòa xuống trán- Người con gái mà em yêu ấy mà, cô ấy đã từ chối tình yêu của em.
- Vẫn chuyện buồn. Cô ấy đã đối xử với cậu thế nào?
- Im lặng. Chỉ thế thôi và không muốn gặp mặt. Nhưng lòng em thì như lửa đốt. Làm sao em có thể quên được đây. Trong mỗi giấc mơ em đều thấy bạn ấy nhìn em. Làn môi hình quả tim nở ra... làn môi đỏ như máu...
- Lại máu...
- Bạn ấy mặc những chiếc áo dài trắng. Mái tóc đổ xuống như một dải tang đen. Đôi mắt trong và ướt như mới khóc...
Để câu chuyện không sa vào buồn não, tôi hỏi Lãng:
- Này, cậu đã hôn con gái bao giờ chưa?
- Rồi... nhưng chỉ là trong những giấc mơ thôi...
- Mơ... lúc nào cũng mơ... Đúng là thi sỹ.
Lãng dường như hé một nét cười. Gương mặt thoáng hiện vẻ thẹn thùng.
- Tên của cô ấy là gì
- Tuyết. Một cái tên vừa trắng đến tinh khiết, lại lạnh đến rợn người.
- Nói thật, mình có cảm giác tình yêu ấy không có thực. Có lẽ cậu tưởng tượng ra thôi...
- Tưởng tượng cũng là một hình thức của tồn tại.
- Mình muốn cậu hiểu về tình yêu thực hơn, giản dị hơn. Nếu cậu đuổi theo những ảo ảnh, thì làm sao thoát được nỗi đau và sự thất vọng?
- Thế nào là ảo ảnh? - Lãng quay sang cự nự tôi. - Thế anh nghĩ những cuộc cải cách, những tòa tháp chọc trời kia, những tòa lâu đài nọ... là hiện thực ư? Em không tin nó bền vững như người ta vẫn nghĩ. Những trận động đất, những cơn sóng thần, những cuộc chiến tranh hạt nhân, những vụ khủng bố bất ngờ... tất cả bị tiêu hủy, tất cả sẽ biến mất trong một nháy mắt. Cả cái mạng sống của chúng ta nữa... cũng sẽ tan vào hư vô không biết lúc nào. Em nghĩ rằng không nên coi thường những giấc mơ, những niềm mong ước thanh cao và đau đớn, những niềm tin tưởng chừng mong manh của con người... Điều đó đôi khi còn tồn tại lâu hơn cả bản thân chúng ta.
- Mình chịu cậu. Nhưng ngoài Tuyết, cậu có một người con gái nào khác không?
- Có một người, không phải tình yêu mà là một người tri kỷ. Bạn ấy như một người ruột thịt. Như một vị ân nhân. Viết được một câu thơ hay, em cũng đến để đọc cho bạn ấy nghe. Bao giờ bạn ấy cũng lặng lẽ và sau đó là một lời phẩm bình dung dị hoặc một lời khuyên. Mà bạn ấy khuyên mới dịu dàng làm sao! Mỗi lúc buồn phiền, đau dớn em cũng lại tìm đến bên bạn ấy. Bạn ấy lặng lẽ nghe em giãi bày. Bạn ấy vỗ về an ủi mỗi khi em rũ rượi khóc vì một nỗi đau, một niềm mất mát... Tên bạn ấy là Ngọc Trâm.
Lãng bị xô dạt vào kỷ niệm.
- Dù bạn ấy ở xa, nhưng mỗi khi nhắc đến tên, em cứ thấy hình ảnh bạn ấy hiện lên trước mắt.
- Vậy mà... sao cậu không nghĩ đó là một tình yêu đích thực. Tình yêu có phải là một cái gì ảo mờ, sương khói đâu?
Phút chốc Lãng buồn lặng. Cậu buông một tiếng thở dài, người xọp đi tựa một quả bóng xì hơi.
- Em cũng không biết nữa. Đã mấy năm rồi... Từ khi em mười sáu, mười bảy tuổi... Thấm thoắt đã tám năm trời... Không có Ngọc Trâm, em không biết mình sẽ thế nào. Nhưng tình yêu thì... Không... Em không dám nghĩ đến điều đó.
Phút chốc những giọt nước mắt lặng lẽ tuôn xuống gương mặt gầy của Lãng. Dường như có một nỗi đau không cùng đang xoáy vặn trái tim người thi sỹ. Lãng gạt nước mắt, đứng lên:
- Tạm biệt anh.
Tôi tiễn Lãng thêm một đoạn đường. Vầng trăng tưới xuống không gian một màu trắng sữa.
*
Lãng sinh ra trong một gia đình công chức bậc trung.
Khi nhỏ Lãng hay ốm vặt. Cậu học giỏi, thông minh khác thường. Thỉnh thoảng cậu lại nói với bạn, giọng vui vẻ như một câu nói đùa, rằng cậu đến từ một vì sao trên dải thiên hà, một ngày cậu sẽ về trên đó.
Khi cậu lớn dần lên, những ý nghĩ kỳ cục bị chìm vào quên lãng. Chỉ có những câu thơ là hay nhắc cậu trở về với những ban sơ miền thơ ấu...
*
Ngọc Trâm đang giở những trang nhật ký học trò đọc lại những nét bút của Lãng thì có tiếng chuông gọi cửa. Lãng xuất hiện. Trâm mừng rỡ:
- Lâu không thấy cậu sang chơi...
- Mình hơi bận.
- Cậu có gì mới ?
Giọng Lãng nhỏ nhẹ:
- Dạo này không viết được gì mới. Không hiểu sao, hay buồn. Có cảm giác như mình sắp xa mọi người.
- Cậu đi đâu?- Trâm ngạc nhiên.
- Mình chưa biết.
Lãng lục lọi trong cặp sách.
- Mình gửi lại bạn những chiếc đĩa vi tính này. Trong đó có ghi những gì mình đã viết. Phải khó khăn lắm và rất nhiều đau khổ mình mới viết được ra nó. Mình tặng bạn. Bạn giữ cho mình...
Trâm cầm những chiếc đĩa vi tính trên tay
- Cám ơn cậu, mình sẽ đọc ngay. Sẽ giữ gìn những sáng tác của cậu.
- Trâm này, mình muốn xin lỗi bạn...
- Gì cơ? - Trâm tròn mắt ngạc nhiên
Vẫn giọng chậm rãi, nhỏ nhẹ, Lãng bộc bạch những điều từ lâu dồn tụ trong đáy lòng:
- Mình đã không làm được gì cho bạn. Mình đành phụ tấm lòng của bạn. Bao nhiêu năm, nếu không có bạn, mình đã không sống được bình thường. Mình vốn dĩ yếu duối, trái tìm mình cần một người tri kỷ. Trâm là tri kỷ của mình đấy. Trâm làm cho trái tim vốn dễ thương tổn của mình trở nên bình yên sau những bão tố. Trong cái thế giới đầy xót xa, lạnh lẽo này, thì Trâm là là một ngọn lửa ấm. Trong cái đêm đen lạnh bạt ngàn của cuộc đời thì bạn là một ánh sao. Trâm là ánh sáng ở cuối một đường hầm tăm tối mà mình có được...
- Cậu đừng nói vậy. Mình đã làm được gì cho cậu đâu.
- Dạo ấy khi bạn gặp chuyện buồn... Bạn phải nằm trong bệnh viện... chúng mình còn ít tuổi quá... mình đã nghĩ đến việc sẽ đến bên bạn, nói thầm vào tai bạn, rằng mình yêu bạn. Mình sẽ làm tất cả cho bạn trong cuộc đời này... Nhưng rồi mình không có đủ can đảm... Đi đâu, lúc nào mình cũng nghĩ đến điều đó, rồi thấy có gì ngường ngượng, như thể có ai đang nghe thấu tâm sự trong lòng mình...
Phút chốc gương mặt Ngọc Trâm đầm đìa nước mắt. Một kỷ niệm đớn đau hiện về trong tâm khảm. Chiếc xe tải đã nghiến nát chân trái của Trâm khi cô mới bước vào năm cuối cùng của thời cấp hai. Những ngày trong bệnh viện, Trâm đã khóc cạn cả nước mắt. Mỗi lần thầy cô, bạn bè đến thăm, động viên thì Trâm lại khóc. Đối với Trâm thế là hết... thế là hết những mộng mơ tươi sáng của một kiếp người... thế là hết những ước mơ tươi nguyên thời thiếu nữ... Nhiều hôm Lãng đến mang theo những bó hoa dại màu tím ngắt trên đồi. Hương hoa tím quyện trong không gian đục trắng của căn phòng. Trâm không nói gì. Chỉ mân mê những cánh hoa mong manh rồi thở dài
Ngày ấy Trâm không dám tin rằng những điều đau đớn nhất của đời người rồi cũng có thể đi qua. Từ khi ở bệnh viện về, Trâm tự giam mình trong phòng. Ai đến thăm Trâm cũng bảo mẹ nói với họ rằng Trâm đi vắng. Nhiều lúc Trâm muốn đi thật xa. Muốn quên hết tất cả, muốn mọi người không còn nhìn thấy mình nữa. Thậm chí, có lúc Trâm muốn tự chấm dứt cái cuộc đời phiền não của mình. Nhưng cũng chính trong những ngày đó, những vần thơ của Lãng đã cho Trâm nguồn sức mạnh. Trâm cảm thấy nguồn động viên, chia sẻ sâu xa qua những câu thơ đẹp đẽ, tinh khiết dẫu u buồn nhưng chưng cất một tình yêu vô ngần đối với cuộc sống.
- Mình lần lữa mãi... lần lữa mãi... - Gọng xúc động của Lãng đưa Trâm về hiện thực - Cho đến năm mình bước vào đại học... Mình và Trâm xa nhau. Rồi mình gặp Tuyết... một tình yêu đơn phương định mệnh đầy huyền bí đã giáng xuống đời mình... Cái vẻ đẹp kỳ lạ và xa vắng ấy, cái vẻ đẹp mong manh đầy ma lực ấy cứ hút lấy hồn mình. Mình biết là Tuyết vô tội. Tuyết không lừa dối mình, không cố ý quyến rũ mình... chỉ tại mình đã tự gây nên bao vết hằn đau đớn trong tâm hồn...
Lòng Trâm run lên một nỗi hờn giận lặng thầm. Trâm đưa mắt nhìn qua cửa sổ. Một đôi bướm trắng quấn quýt bên nhau cạnh những đóa hoa vàng. Và trong lúc ấy, dù đau đớn, Trâm lại nghĩ về tình yêu với Lãng. Mọi điều đều có thể bắt đầu...
Cuộc sống...
Tất cả còn ở phía trước...
Đã có những năm tháng Trâm nghĩ rằng mình sẽ không lấy chồng. Trâm không muốn mình gắn bó với một người mà mang lại gánh nặng cho người đó. Kể cả với Lãng... Trâm phần nào hiểu được tâm trạng của Lãng... Dần dần Trâm can đảm hơn và cố gắng học tập. Trâm thi đỗ đại học rồi kiếm được một công việc ổn định. Bây giờ thì cô muốn để cho trái tim tự nó rung lên như nó muốn thế. Cuộc đời dài, dài lắm, con người đi trên con đường ngặt nghèo của số phận, cần biết bao một người đồng hành. Những ý nghĩ ấy râm ran trong tim Trâm. Đôi mắt đen láy của Lãng ghé sát gương mặt trâm:
- Bây giờ thì không có người con gái nào trong đời mình nữa... ngoài Trâm... Trâm ơi, bạn thấu cho lòng mình không?- Giọng Lãng như ức nghẹn. Những giọt nước mắt trong vắt nhòa ướt gương mặt Lãng. Trâm đỡ lấy gương mặt Lãng. Cô lau những giọt nước mắt của Lãng. Và chính trong lúc này đây, lòng Trâm rung lên những con sóng khát khao, run rẩy.
Làn môi run run nóng bỏng của Lãng như sắp chạm vào môi Trâm thì ngừng lại. Lời Lãng da diết đẫm nước mắt:
- Trâm ơi! Mình đành phụ tấm lòng của bạn...
Trâm thấy tim mình nhói đau. Một cái gì vô hình rạn vỡ.
Lãng từ từ đứng dậy. Lãng nhìn Trâm một lần cuối cùng rồi bước ra con đường chênh chếch nắng. Tiếng chim gọi bạn, da diết, đớn đau như đứt ruột dội về từ vòm cây bên cạnh. Trâm đứng lặng như một người đã hóa đá.
*
Tôi mơ thấy Lãng đánh đàn. Những âm thanh du dương làm rung cả tầng không khí. Rồi Lãng ngâm thơ của Hàn Mặc Tử
Tôi nằm dưới bến đợi nàng mơ
Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ
Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng
Rung tầng không khí bạt vi lô.
Giọng Lãng sao mà âm trầm, sao mà ngân vang, sao mà da diết. Rồi bỗng Lãng lấy bút lông, vẽ những đám mây bay ngang bầu trời. Một bầu trời bảng lảng mây trắng như phơ phất khói hương.
- Anh có thấy cả bầu trời ngát thơm không?
Tôi im lặng. Lãng lại nói:
- Em vẽ hương chiêu hồn các đấng thi nhân, các bậc anh hùng hào kiệt...
Rồi Lãng đưa những đường bút trên giấy. Nét bút biến hóa phi thường... Nào là thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Thôi Hiệu, Tô Đông Pha... Nào là thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm... Cả một bầu trời sực nức hương thơm và bóng các thi nhân như từ các vì sao đổ xuống. Cả vũ trụ ngây ngất trong những ca từ lúc ngân vang êm ái vi diệu, lúc thánh thót vươn cao, lúc trầm hùng lắng đọng.
*
Tôi sững sờ nhận được tin Lãng chết.
Kẻ giết người là một tên nghiện ma túy. Hắn là anh em cùng họ với Lãng. Không thù oán. Trong một cơn điên vì thiếu thuốc, hắn gọi cửa nhà bác hắn. Gương mặt bác hắn hiện ra tươi cười:
-Cháu vào ăn cơm với bác.
Mắt hắn gườm gườm, vằn lên những tia hung hãn, man dại. Không nói một lời hắn rút lưỡi kiếm dấu phía sau lưng dơ lên. Hắn đâm thẳng vào ngực ông.
Máu phụt ra những dòng đỏ tươi nóng hổi. Máu tắm ướt áo hắn. Máu trang lênh láng xuống nền gạch. Bố Lãng gục xuống, giẫy giẫy...
Lãng bỏ bát cơm, xông vào cứu bố. Lại một nhát kiếm nữa cắt ngang cổ họng Lãng. Một luồng lạnh toát rùng rợn chạy qua óc Lãng. Hoàn toàn vô thức, Lãng chạy những bước xiêu vẹo ra sau nhà rồi đổ ập xuống. Những khóm hoa trắng nhuốm màu máu Lãng.
Hắn chạy. Người hắn nhớp nháp, đỏ lòm, tanh nặc như vừa ngoi từ trong vũng máu lên. Hắn chạy thục mạng qua một dãy phố, luồn vào ngõ nhỏ, lẫn vào khu đồi vắng... Không gian xoay tròn trước mắt hắn. Thỉnh thoảng hắn lại thấy như bầu trời sụp xuống và hắn sa chân vào một vũng máu...
*
Hai chiếc quan tài song song. Hai chiếc xe tang nối nhau lăn bánh tiễn một người trẻ, một người già về thế giới bên kia. Mẹ Lãng oặn mình lê lết trên nghĩa địa chiều, giọng bà đục ngầu đứt đoạn:
- Trời ơi! Cay nghiệt... Cháu ơi, sao cháu giết bác và anh... Cha mẹ ơi, thế là từ nay lấy ai nối dõi tông đường...
Một bó hoa hồng trắng của người thanh nữ mặc áo dài trắng có suối tóc đen được chôn theo quan tài Lãng.
Khi những lát đất đầu tiên lấp lên quan tài, người thanh nữ gạt nước mắt quay đi. Dáng cô xiêu vẹo nhòa dần ở cuối con đường như một hạt bụi trắng. Mái tóc dài tựa dải tang đen trải ra phía sau lưng.
Bên tai tôi như vang lên giọng quen thuộc bị cứa đứt giữa chừng của Lãng:
- Tuyết... Tuyết...
*
Mộ Lãng trên một sườn đồi, hướng nhìn vào thành phố Ngã ba sông. Bên cạnh, những cây cọ như dáng người thân xòe ô che mưa nắng cho Lãng. Trên đầu, những cây thông cao vút thỉnh thoảng lại reo ngân điệu nhạc êm đềm, sâu lắng.
Một người con gái mặc đồ đen thường vẫn đến viếng và trồng lên mộ Lãng những khóm hoa màu tím, hương thơm ngát cả một vùng đồi.
Có lần cô đặt xuống bên những khóm hoa tím một tập thơ. Cô thắp hương, khấn trong nghẹn ngào:
- Lãng ơi! Đã bao lần Lãng mơ ước tập thơ của bạn được in ra. Bây giờ thì nó đây, Nhà xuất bản Thanh niên đã chắp cánh cho thơ của Lãng bay vào đời. Lãng hãy nhận lấy. Hãy xem đi, những trang giấy trắng muốt, những con chữ thơm tho, những dòng thơ như tơ lòng của Lãng còn vấn vít lấy cuộc đời...
Ngọn lửa từ những thân hương bùng lên sắc đỏ bén vào từng trang giấy trắng. Người con gái mặc đồ đen bỗng chốc thấy trong làn khói hương kia hình như hiện lên gương mặt Lãng, một nét cười lặng lẽ và thoảng nhẹ trong gió một giọng quen thuộc:
- Ngọc Trâm!...
*
Sau khi xuất bản tập thơ của Lãng đã gây một tiếng vang. Hình ảnh Lãng đã được in trên trên nhiều tờ báo, tên tuổi Lãng đã đi vào con tim của biết bao người. ở những cuộc hội thảo về thơ, những công trình nghiên cứu người ta cũng nhắc đến tên Lãng. Mai sau người ta có thể vẫn còn nhắc đến tên Lãng như niềm tự hào của một xứ sở.
Nhưng không mấy ai biết Ngọc Trâm đã mặc đồ đen suốt hai mươi bảy tháng cho đến ngày mãn tang Lãng mới thôi. Cô cũng thêu hình những bông huệ trắng muốt lên một tấm lụa đen rồi đốt bên mộ Lãng. Những kỷ vật của Lãng vẫn được cô gìn giữ cẩn thận. Dường như không ngày nào cô không nhắc đến tên Lãng. Không đêm nào cô không mơ thấy Lãng.
Khối tình ấy đã vượt qua giới hạn của một kiếp người.
Hà Nội 16-20/6/ 2004
VanVN.Net – Nhà văn Thiên Sơn (tên thật là Nguyễn Xuân Hoàng) khi bắt đầu đến với văn chương đã tự đưa mình vào hành trình mạo hiểm nhưng vô cùng thú vị, đó là xuyên sâu vào những nghịch lý khó lường, những bí mật câm lặng... của đời sống, của những ẩn ức trong mỗi con người. Anh nguyện làm “người mò mẫm trong bóng tối dựng lại những hình hài dẫu chẳng còn nguyên vẹn, cố tìm trong phế hoang những cái đẹp nguyên thuỷ tưởng chừng không thể phá huỷ”. Kết quả của cuộc kiếm tìm ấy cũng có khi chỉ thấy sự băng hoại, những vết thương rớm máu và sự quằn quại truyền kiếp… VanVN.Net xin giới thiệu đến bạn đọc những truyện ngắn do tác giả tự chọn trong tập “Người bên lề” đã được tái bản nhiều lần trong gần một thập kỉ qua.
Nhà văn Thiên Sơn
Đồi Đá trắng
Những tiếng nổ như khoan vào óc Hàn, khiến nó giật mình tỉnh dậy mỗi khi trời sắp sáng. Một cái gì âm u, rờn rợn phủ lên tâm hồn nó, làm nó ngẫm ngợi suốt cả ngày. Có hôm nó thấy kinh hãi đến mức không buồn ăn. Mỗi khi cầm lấy sách vở học bài, nó lại thấy chữ mờ đi trước mắt, chỉ có những tiếng nổ làm nó run bắn lên, khiếp hãi như vừa bị vứt xuống vực thẳm.
Gì ấy nhỉ?
Sao ở dưới cái chân ngọn đồi lờ mờ trong sương mù, sao trong cái cõi hoang vu không mấy ai dám đặt chân đến kia lại phát ra những tiếng nổ dữ dằn, tàn nhẫn ấy. Hàn hỏi người lớn đó là tiếng gì?
- Tiếng súng.
Nó được trả lời thế.
- Sao tiếng súng lại nổ vào lúc trời chưa sáng thế kia?
- Người ta hành quyết phạm nhân.
Nó chỉ biết có vậy. Hầu như không mấy ai kiên nhẫn nghe nó hỏi và giải thích những điều nó muốn biết. Có người còn gạt đi:
- Trẻ con hỏi những chuyện ấy mà làm gì?
*
Không hiểu sao cái đồi nghèo xơ nghèo xác này, chỉ có những căn nhà thấp tè, chìm khuất trong cây cỏ giữa một vùng hoang hóa lại có tên đồi Ông To. Từ bao giờ không biết nữa, các thầy phong thủy ở xứ này đã nói khu đồi bị ám khí, hung dữ, không ở được. Nghe nói ngày xưa có một nhà giàu cai quản cả ngọn đồi, bỗng khuynh gia bại sản rồi bỏ đi biệt xứ. Con gái ở đây rất đẹp, da trắng, môi đỏ, tính tình hiền dịu, chịu thương chịu khó, nhưng con trai thì hung hãn. Lạ nữa là có nhiều người chết trẻ. Nhiều người bị các bệnh lạ, không ai biết căn nguyên.
Ông Thịnh là cán bộ hẳn hoi. Ông làm việc gì đó cũng khá quan trọng ở trại lợn của tỉnh. Ngày về hưu, ông mặc bộ com lê cũ, đeo cà vạt. Ông đi hiên ngang trên con đường vòng vèo khuất khúc lên sườn đồi. Trẻ em hàng xóm còn chạy túm tụm nhau để được nhìn thấy ông. Thế rồi bẵng đi một thời gian không thấy ông đâu. Có người nói ông bị trọng bệnh phải về hưu sớm, để dưỡng sức, suốt ngày ông hạ tấm rèm lá trước cửa, nằm trong nhà, không tiếp xúc với ai. Lại có người nói hình như ông đang lao động trí óc, bận quá nên không có thời gian tiếp mọi người. Một thời gian sau, bỗng cứ nửa đêm là ông tỉnh dậy, thắp hương vái khắp các phương trời, rồi khóc than xin thần linh tha tội, đến mờ sáng ông ra khỏi nhà đi về phía bãi tha ma, miệng lẩm bẩm những điều không ai hiểu được.
Lại có một cậu học trò trẻ tuổi, thông minh. Đã có lần cậu nhân được giấy báo xuống huyện học bồi dưỡng gì đó. Dân sống trên ngọn đồi hầu hết là người mù chữ, thấy vậy ai cũng nể sợ. Nhưng đột nhiên, cậu bị bệnh. Lúc nào cậu cũng muốn hát. Bất cứ cái gì nghe thấy, đọc thấy, hoặc nhớ lại cậu đều biến nó thành câu hát. Những câu hát chắp vá, rối loạn, vô nghĩa được phát ra bằng cái giọng eo éo trong túp lều tranh những đêm khuya khiến người ta sợ hãi như nghe thấy tiếng yêu tinh. Có người nói ma quỷ đã nhập vào thân xác cậu mất rồi.
*
Từ đồi Ông To đi theo lối mòn xuống thung lũng thì gặp đường ray. Mỗi ngày chỉ có vài chuyến tàu chạy qua, hầu hết thời gian cả khu đồi chìm trong vắng lặng. Có hôm người lái tàu thấy một con trăn to như bắp đùi một người đàn ông lực lưỡng, dài khoảng sáu, bảy mét nằm vắt ngang trên đường ray. Anh dùng cần gạt phía trước đầu tàu hất nó sang một bên. Không hiểu bằng cách nào, nó nhanh chóng cuốn lấy cần gạt. Mãi một lúc sau, nó rơi xuống và bị bánh sắt cắt thành ba khúc. Máu con trăn chảy ướt cả vạt cỏ, bết dính trên đường ray. Cái đầu nó còn ngóc lên, hai mắt mở thao láo căm giận nhìn theo đoàn tàu lúc sau mới chịu thôi.
Có người ở đồi Ông To nhìn thấy một cảnh tượng kỳ lạ. Khi con trăn to kia bị tàu cán chết, từ trong vùng hoang vu không biết cơ man nào là trăn to, trăn nhỏ kéo ra thành đàn. Con dài, con ngắn, con xanh, con đen, con hoa, từ tốn nối nhau như trong một đám rước, chúng đưa xác con trăn bị chết vào rừng. Khi đàn trăn khiêng cái thi thể đồng loại đi được một quãng, chúng dừng lại trên một bãi đất bằng, tất cả nối nhau thành một vòng tròn lặng lẽ viếng con trăn chết. Hình như có những tiếng kêu rên sầu thảm ai oán. Hình như cả đàn trăn cùng khóc. Chim chóc và nhiều loài vật khác cũng kéo đến...
Cạnh đường tàu là một bãi tha ma. ở đó chỉ có những nấm mồ lẫn trong cỏ, không có tên. Đi sâu thêm vào cái vùng hoang vu, gai góc mọc đầy kia không khí như đặc quánh lại. Không gian phảng phất một cái gì lạnh lẽo, đen đúa. Một cái gì vô hình, hung hãn làm cho người ta rợn ngợp, kinh sợ.
Đi thêm độ một dặm, sẽ đến bên chân đồi đá trắng.
Trong cái hoang vu ấy, người ta thấy một bãi phẳng và những cây cột thép cao bằng đầu người, đã han dỉ.
*
Hàn mường tượng ra gương mặt nhăn nheo, đôi mắt đục mờ của ông Son.
- Cháu Hàn đó phải không?
Hàn như sắp chết, chân tay bủn rủn.
- Sao cháu lại vào đây?
- Dạ, cháu muốn đến chân đồi đá trắng ạ.
- Chỗ ấy là pháp trường. Cháu đến làm gì?
- Cháu muốn biết...
- Biết cái chỗ ấy? - Ông thốt lên - về thôi, bao nhiêu người thịt nát xương tan ở đấy. Về với Bác đi cháu.
- Không! Cháu nhất định phải vào...
- Trẻ con thì phải biết nghe lời người lớn.
Ông Son trừng mắt.
- Cháu có biết sợ ma không đấy?
Hàn im lặng:
- Ma nó hay bắt trẻ con, vả lại ma ở đồi đá trắng hung dữ lắm. Cháu về thôi...
Ông Son lại kéo tay Hàn. Đành phải bước theo ông, nhưng Hàn vẫn ấm ức. Nó nghĩ, có gì bí ẩn mà ai cũng chỉ muốn gạt phắt những câu hỏi của nó về đồi đá trắng? Nó muốn đến cũng không được...
- Cháu có biết ông Thịnh mới chết không?
- Sao ông ấy lại chết?
- Sáng hôm nay, mấy anh lính dẫn phạm nhân ra pháp trường ở đồi đá trắng đã thấy xác ông Thịnh đang ôm chặt lấy cây cọc cột người tử tội. Nghe nói ông ấy bị điên sau khi đứa con duy nhất buôn ma túy, giết người nên bị tử hình ở đồi đá trắng. Mộ nó bị đồng bọn đào bới mang đi đâu không ai biết. Chính vì vậy mà ông ấy càng thêm buồn, sinh bệnh mà chết.
Bỗng trước mắt Hàn hiện lên hình ảnh ông Thịnh bước hiên ngang trên con đường ngoằn nghèo lên đồi ông To. Nó không thể hiểu được, một con người như ông, có vẻ oai oai trước mắt bọn trẻ, vậy mà lại có thể chết nhanh đến thế.
- Nhưng có thể ông ta chết vì bị gió độc cũng nên. Đồi đá trắng là nơi ma thiêng... Còn có nhiều điều kỳ bí lắm... Cháu nghe lời ông, không được vào đó đâu nhé!
- Vâng!- Hàn bất đắc dĩ phải trả lời ông Son.
- Mới đây, để tránh việc đào bới cướp xác phạm nhân, người ta không ghi tên kẻ bị hành hình trên mộ mà chỉ đánh dấu bằng mã số gì đó. Nhưng tội ác thì người ta vẫn ghi.
- Không ghi tên người thì ghi tội ác mà làm gì hả bác?
- Sao lại không ghi tội ác? Điều quan trọng là mỗi người phải biết đến tội ác kinh tởm mà những kẻ phạm tội đã làm. Toàn là tội giết người, cướp của, tham nhũng, hại dân...
- Nhưng tại sao con người lại gây tội ác hở ông? Ngày nào cũng có những tiếng nổ... Ngày nào cũng có những vụ hành quyết...
Ông Son không nói gì, cứ lặng lẽ cầm tay kéo Hàn băng băng về phía trước. Sắp về đến nhà, Hàn thấy một đám đông khiêng quan tài ông Thịnh đi ngược trở lại. Tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng khóc, tiếng nói chuyện, tiếng chân người hòa lẫn thành một âm thanh ồn ã, não nề. Đoàn người dừng lại đợi một chuyến tàu rùng rùng ầm ỷ chạy qua rồi tiến vào cái vùng hoang mù mịt dưới thung lũng. Hàn vằng khỏi tay ông Son:
- Cháu muốn đi đưa ông Thịnh, ngày ông ấy về, gặp bọn cháu trên đường ông đã đưa tay vẫy vẫy đấy ông ạ.
*
Con người ai cũng phải chết có gì mà phải buồn đau. Đôi khi Hàn nghĩ thế. Rồi nó đặt câu hỏi: "Mà sao người ta cứ phải sợ cái chết thế nhỉ?" Nó chịu. Chính nó cũng sợ đấy thôi. Con người không phải lúc nào cũng có thể trả lời mọi câu hỏi. Con người cũng không cần trả lời những câu hỏi ấy.
Đoàn đưa đám ông Thịnh dừng lại trên một mảnh đất bằng. Mấy người phu đào huyệt đã ở sẵn chực lấp đất. Cuối cùng khi mọi người lục tục ra về, nó núp sau một bụi rậm, đợi mọi người về hết rồi mới theo lối mòn trong bãi tha ma đi về phía đồi đá trắng. Nhưng phía trước lại có người. Nó núp vào một bụi rậm khác. Một gã đen như cột nhà cháy tay cầm cuốc đi về phía ngôi mộ vừa lấp đất. Gã nhìn khắp bãi tha ma không thấy ai, gã đặt cuộc xuống nhìn ngôi mộ đầy suy tính rồi mới xắn tay áo, cầm lấy cuốc.
- Đồ khốn nạn, mày làm gì đấy? Đào mộ người ta lên để hôi của hả?
Một cụ già xông đến tóm lấy cổ tay gã đen cháy kia. Cái cuốc vừa giơ lên đã từ từ rơi xuống. Ông Son! Từ bụi rậm Hàn chực thốt lên. Hai bóng người xoắn xuýt lấy nhau bên ngôi mộ. Được một lúc, gã đen cháy gỡ được tay ông già ra, đưa cả khối thịt săn chắc to như một khúc gỗ của hắn đè lên ông già.
- Đồ ngu! Tao cho mày chết!
Tên khốn nạn gầm lên. Hắn đưa tay bóp vào cổ ông già. Mặt ông Son đỏ gay, tắc thở. Ông càng giãy giụa thì tên khốn nạn càng cười. Tiếng cười sằng sặc như một kẻ đang lên cơn điên. Rồi hắn nói giọng kẻ cả, đắc ý:
- Đúng là đồ ngu, mày nghĩ mày là cái thá gì mà dám ngăn ông hả? Lần này mày sẽ xuống đất nằm luôn dưới ấy là cái chắc rồi.
Ông già vùng vằng, oằn oại dưới cái khối thịt như đang nghiến nát ông. Gã đan cháy lấy đầu gối nện liên tục vào bụng, vào ngực ông. Tay gã nện mấy cái vào mặt, vò mũi ông Son. Máu mũi, nước mắt tứa ra ướt khắp gương mặt lấm lem bịu đất của ông.
Cốp! Bộp ! Bộp!
Bỗng mặt gã đen cháy nhăn lại, méo đi. Mắt hắn nhắm. Tay rời ra. Đổ vật xuống bên cạnh ông Son. Lúc ấy ông Son mới định thần lại được.
- Hàn! Cháu... May mà có cháu... Không thì hắn giết ông mất.
- Sao ông quay lại đây?
- Ông không thấy cháu nên đi tìm.
Gã đen cháy thở phì phò. Hắn đau quá không thể đứng lên được, hình như hắn bị choáng. Ông Son và Hàn trói hắn vào gốc cây trong bãi tha ma.
- Chúng ta quay về báo cho bà con biết rồi sẽ quay lại trị tội hắn sau.
Ông Son dắt Hàn đi
- Mấy tháng nay có hàng chục ngôi mộ bị đào bới tung lên, thậm chí có ngôi hắn không thèm lấp đất lại.
*
Ông Son và Hàn đi được một lúc, bỗng gã đen cháy thấy có tiếng rin rít trên đất, ở các bụi cây bên cạnh. Rồi một vật gì trơn trơn, mát lạnh trườn trên da gã. Bất thần gã thấy một nỗi kinh hoàng xâm chiếm. Mọi nơi xung quanh gã hiện lên hàng chục con rắn to, rắn nhỏ. Con nào cũng mở to đôi mắt căm thù nhìn gã. Miệng chúng phùng ra, cái lưỡi thè lè lia đi, lia lại phía trước. Một cái gì mềm mại mà mạnh mẽ như một sợi dây khổng lồ quấn xung quanh cổ gã. Sợi dây mỗi lúc một thiết vào làm gã tắc thở. Gã nghiến răng lại, cố trừng trừng mở mắt. Trước mắt gã không gian chuyển sang màu gắt đỏ. Những cái đầu rắn ngóc cao càng lúc càng tiến đến gần. Một con to như cán cuốc, có sọc xanh, đỏ trườn hẳn lên ngực, lên mặt gã. Gã tru lên từng tiếng dữ dằn, mắt nhắm nghiền lại.
Bên tai gã bỗng vang lên tiếng cuốc mã lục cục. Trong óc gã hiện lên hình ảnh mờ mờ chồng lẫn lên nhau của những ngôi mộ mà gã đã đào, đã bới để hôi của. Có lần gã lấy được cái đồng hồ Rado từ một cánh tay đàn ông luống tuổi chết vì bệnh phong tình. Có lần là chiếc dây chuyền vàng trên cổ một thiếu phụ giàu có bị chết đột tử vì chứng cao huyết áp. Một lần khác gã thấy bên dưới lưng người chết là một gói vàng... Nhưng khốn nỗi, gã vừa mở ra đã bị một lũ người chuyên làm nghề hôi của ở nghĩa địa cướp mất.
Cái vòng siết trên cổ gã mỗi lúc một mạnh hơn. Gã thấy họng tắc lại. Như có hàng ngàn tiếng gào réo, chửi rủa từ khắp các ngôi mộ xoáy vào tai gã. Rồi tất cả tắt lặng. Bóng tối đổ xuống linh hồn gã.
Khi đoàn người từ đồi Ông To kéo đến, họ đã vô cùng ngạc nhiên... Tròng mắt gã đứng hẳn lại. Miệng há ra. Đầu gục xuống, ngoẹo sang bên. Khắp thân thể gã có những vết tím bầm.
*
Lại vẫn những loạt đạn mỗi khi trời sắp sáng dội lại từ đồi Đá trắng làm Hàn giật mình không ngủ lại được. Mỗi ngày trôi qua, cái âm thanh khô khốc, sắc lạnh ấy như những lưỡi dao khứa dần vào tâm não Hàn. Bất kỳ ở đâu, làm gì nó cũng như nghe thấy những tiếng nổ. Nó giật mình cả khi nằm trên giường, cả lúc ngồi trong phòng học bài hay lúc ăn cơm.
Nó không thể chịu nổi. Nó phải biết điều ghê gớm nào vẫn thường xuyên làm cho nó đau đớn, suy nghĩ. Nó phải tận mắt nhìn thấy nơi hành quyết những phạm nhân...
Quá nửa đêm hôm ấy nó lén ra khỏi nhà.
Có tia đèn pin lặng lẽ soi trên lối mòn nhỏ xuống chân đồi, qua đường ray, về phía bãi tha ma. Nó lấy hết can đảm, nhanh nhẹn và mưu trí như một con mèo hoang, bám theo cái bóng đèn trong đêm giá lạnh. Mọi vật chìm trong chiếc màn đen vô cùng yên tĩnh, và dường như từ sau mỗi bụi rậm lại có những con mắt đang nhìn ra, những bóng đen đang ẩn núp, những bàn tay sẽ thò ra tóm lấy cổ nó... Nhưng có một cái gì mạnh mẽ, khủng khiếp đã làm cho nó vượt qua tất cả lo lắng ấy. Nó cứ đi, đi mãi cho đến khi chiếc đèn pin tắt lặng. Có lúc nó tự đặt câu hỏi, con người huyền bí bỗng nhiên cầm đèn pin đi trong bãi tha ma này để làm gì nếu không phải là hôi của người chết? Hay là quay về báo với bác Son? Những ý nghĩ trái chiều nhau cứ dâng lên óc nó, không tài nào kiểm soát được.
Phía trước, chân đồi đá trắng đã lờ mờ nhận ra trong sương. Những cây cột thép của pháp trường lạnh nghắt trong bóng tối.
Gần đó có một chiếc quan tài.
Xa xa, một lỗ huyệt đang đào. Mấy người phu vừa đào vừa nói tục lại vừa cười. Một giọng to:
- Bác Son đấy à, sao hôm nay sớm thế?
Hàn kinh ngạc. Nó nép vào một bụi rậm bên đường. Như không tin được vào tai mình nữa. Ông Son? Ông Son ư? Bình thường bác không cho nó ra pháp trường, vậy mà đêm hôm thế này bác lại ra đây là nghĩa làm sao? Những ý nghĩ cứ thế sôi lên trong óc Hàn...
- Tôi khó ngủ, ra đây trò chuyện với anh em cho vui.
Một giọng trầm của người tuổi trung niên:
- Nhà em nghèo, vợ em bệnh phải uống thuốc lâu dài, khánh kiệt em mới phải bỏ nhà đi làm cái việc khốn khổ mạt hạng này chứ, như bác, bác có lấy công linh gì đâu, sao bác cứ đày cái thân bác cho nó khổ thế.
- Tôi cũng muốn an nhàn sung sướng chứ các chú... Nhưng...
- Từ mai bác đừng ra đây nữa. Bắn xong, bọn em kéo nó xuống huyệt. Đằng nào rồi cũng tan vào đất ấy mà. Với lại chúng nó toàn bọn khốn nạn cả. Khi sống chúng hành hạ bao nhiêu người... Hôm kia bắn thằng cầm đầu đường dây buôn ma túy từ Lào về. Nghe báo chí nói, nó đã bán tất cả 400 cân thuốc phiện cơ đấy. Nó đã giết bao nhiêu người từ cái kiểu làm ăn bất chính của nó.
Một giọng khác trẻ hơn:
- Hôm qua lại bắn tên tham nhũng. Hắn làm giám đốc tổng công ty gì đó... nghe nói đã xơi của nhà nước mấy ngàn tỷ. Thế mà khi bị cột vào cọc hắn khóc rống lên. Hắn quỳ thụp xuống van lạy mọi người tha cho hắn. Chính cái thằng buôn ma túy ấy lại còn có cái vẻ lầm lũi chịu đựng, chứ cái thằng quan tham nhũng kia mới hèn yếu làm sao.
- Anh em có nhớ cái thằng còi còi không? - Một giọng lơ lớ khàn khàn chen vào- cái thằng bị bắn cách đây nửa tháng ấy, hắn đi thẳng đến bên cái cọc hành hình. Trước khi bị bắn nó còn nhoẻn miệng cười. Nó bảo mấy người cầm súng " Anh em bắn cho trúng nhé. Tôi nói thật là tôi bị oan... Có một âm mưu hãm hại tôi... Nhưng không sao. Tôi đi sớm cũng tốt. Thế gian này có gì đáng nuối tiếc đâu. Con người bây giờ đã đối xử với nhau như thú dữ..."
- Có chuyện ấy sao?
Nhiều giọng nói cùng cất lên.
- Đúng vậy đấy. Có nhiều anh em ở đây không có mặt hôm ấy. Chưa bao giờ trong đời tôi lại có thể hình dung nổi một kẻ lạnh lùng, bình tĩnh chấp nhận cái chết đến như vậy. - Giọng trầm của người ban nãy cất lên.
- Nhưng anh ta là ai? Làm gì mà có bản lĩnh kỳ lạ như vậy?
Im lặng, không có ai trả lời câu hỏi ấy.
Lúc sau giọng Ông Son trầm tĩnh:
- Tôi có biết chuyện... Hôm ấy mấy chú trong đội thi hình án cầm súng mà cứ run bắn lên. Cả loạt súng nổ nhưng đạn bay chệch mục tiêu gần hết. Máu ra như tắm mà người bị hành quyết không chết. Đôi mắt anh ta vẫn mở dù đau đớn nhưng không mất hết vẻ bình thản. Mãi một lúc sau anh ấy mới tắt thở. Tôi là người khâm liệm cho anh ấy... Trước khi đặt anh ấy vào quan tài, tôi nhìn kỹ vào gương mặt người chết. Tôi thấy ở đó sự thông tuệ, lương thiện. Tôi cảm nhận rằng anh ấy đã bị giết oan.
Trong màn đêm hiện ra mấy bóng người.
- Đội hành quyết đến.
Ai đó nói.
Mọi người đổ xô ánh mắt về phía có những người mới tới. Những người cầm súng câm lặng.
Phạm nhân lãnh án tử hình hôm ấy là một phụ nữ phạm tội giết con riêng của chồng. Người đàn bà run lẩy bẩy, đứng không vững mặt méo xệch lại và rên lên từng cơn dài xin tha tội chết. Người ta cột cô ta vào cây cột thép.
Trong thinh lặng, những tiếng nổ đinh tai trùm lên không gian. Những đường đạn đỏ lòe vây phủ, xuyên qua thân xác người đàn bà găm vào chân đồi đá trắng.
Hà Nội, xóm Hồng 11-12-2004
Hắn
Mắt hắn ti hí. Cằm lưỡi cày. Da mặt sù sì. Những cái răng cửa to ngoại cỡ chen nghiêng màu vàng khè ẩn hiện sau làn môi thâm xám. Mỗi khi hắn nói, một âm sắc khàn rè rồ lên, hung dữ như tiếng thú. Suốt bảy năm trời hắn bỏ làng đi gia nhập băng cướp. Từ một kẻ chuyên cướp giật ở ga tàu, hắn dần dần trở thành thủ lĩnh. Võ thuật của hắn cao cường.
Trẻ con trong xóm mỗi buổi tối thường tụ tập dưới gốc tre kể cho nhau những điều hóng hớt được từ chuyện của mấy người đi buôn bán trên phố tỉnh về. Bao nhiêu huyền thoại được thêu dệt về hắn, vẽ nên những vầng hào quang oai hùng làm lũ trẻ hiếu kỳ thêm ngây ngất. Nào là hắn có biệt tài phóng dao găm và bắn súng cùng một lúc. Hắn bắn trăm phát trăm trúng. Có lần hắn bị công an đuổi trên đường Quốc lộ, gặp một chiến xe tải chạy bên cạnh, hắn nhảy lên mui xe. Rồi từ chiếc xe ấy, hắn nhảy lên chiếc xe chạy ngược chiều... Cứ thế, từ xe này hắn thoăn thoắt nhảy sang xe khác khiến công an không biết đường nào mà lần. Lại có lần, trong một quán rượu nhỏ, hắn bị cả một băng cướp khác vây đánh. Một mình hắn tả xung hữu đột. Không biết cơ man nào là bát chén, bàn ghế ném vào người hắn, nhưng chỉ bằng vài động tác mau lẹ khác thường hắn đã tránh được tất cả những đòn hiểm độc của đối phương, hạ gục gần mười tên và khi phát hiện bị công an bao vây, hắn phi lên mái nhà, từ đó đu lên các ngọn cây thoát ra ngoài.
Một lần hắn bị bắt. Một phần cũng tại bọn đàn em phản bội hắn. Khi hắn kề dao vào cổ người tài xế đang lái chiếc xe ca trên một quãng vắng, bất thần hắn bị một người nào đó đập mạnh vào sau gáy, hắn choáng váng rồi ngất xỉu. Tỉnh dậy hắn thấy mình bị đưa vào đồn công an. Bao nhiêu lần hỏi cung, hắn đều ngậm miệng, không nói một lời nào. Thế rồi, hắn bị nhốt vào ngục kín...
Vậy mà hắn đã biến ra ngoài lúc nào không ai biết. Hắn tìm về hang ổ của băng cướp, đúng lúc bọn đàn em đang thay chủ đổi ngôi. Hắn phóng dao găm vào ngực kẻ đang chủ tọa cuộc họp, đạp vào mặt mấy tên đàn em đã bỏ rơi hắn khiến hắn lọt vào tay công an. Tất cả chỉ diễn ra trong mấy giây. Cả đám lâu la hung hãn bỗng dưng lặng phắc.
- Tiêu diệt quân phản bội - giọng hắn nhọn như dao.
Lập tức mấy tên đó bị hạ sát. Xác chúng bị chặt làm ba khúc.
Thế nhưng cũng từ hôm đó tâm thần hắn không yên. Nhiều đêm hắn thấy những kẻ bị hắn sát hại mình mẩy đầy máu tươi đứng xung quanh. Có kẻ kêu khóc thảm thiết. Kẻ nhìn hắn vẻ căm thù. Có kẻ bất thần xông vào chém hắn từ phía sau.
Hắn làm thủ lĩnh băng cướp thêm mấy năm nữa thì lại bị bắt tù, nhưng chẳng được bao lâu hắn lại biến mất y như có phép lạ. Người ta đồn rằng hắn có biệt tài nuốt vào bụng cả đinh sắt, dũa cưa mà không bị sao. Khi bắt hắn, công an khám xét lấy hết mọi vũ khí, nhưng khi vào tù hắn moi đinh hoặc dũa cưa trong phân của hắn rửa sạch mà làm dụng cụ xoi tường, cắt cửa sắt tẩu thoát ra ngoài. Chẳng biết lời đồn dại có đúng không, song chuyện vào tù, ra tù đối với hắn đã thành bình thường.
Không ngờ, kẻ giang hồ như hắn lại phải lòng Lệ Uyên, một cô gái bán vải ở chợ huyện. Cô ta đẹp. Thân hình yểu điệu, giọng nói trong như tiếng suối, khuôn mặt tròn rạng rỡ, làn môi đỏ như son, đôi mắt sáng lóng lánh ánh cười. Bữa đó hắn tình cờ gặp và cứu cô thoát khỏi sự xâu xé của một lũ bụi đời ở một quãng vắng trên cánh đồng. Xưa nay người ta coi hắn như hung thần, hay như loài phong hủi. Thế mà Lệ Uyên lại quý mến và kính trọng hắn. Cô coi hắn là một ân nhân, một người nghĩa hiệp. Hắn xúc động vô cùng.
Ba tháng sau, khi duyên vừa nồng thì Lệ Uyên chết vì một tai nạn. Chiếc ô tô tải phóng nhanh đã đâm thẳng vào cô khi đang trên đường từ chợ huyện về nhà. Hắn biết tin khi người ta đã chôn cất Uyên xong. Hắn như tê dại cả thân mình. Rồi lòng căm thù bốc lên ngùn ngụt, hắn sai bọn đàn em dò la ra nơi giam giữ tài xế và định ra thăm mộ Uyên rồi sẽ đột kích vào phóng dao nát ngực anh ta. Nhưng khi hắn vừa thắp hương cho Uyên xong đang đi ra cổng nghĩa địa thì có mấy người tìm cách đến gần. Hắn biết là công an nên nói ngay:
- Để tôi đi, nếu không sẽ có người phải chết.
Hắn rút súng lục ra, lăm le trên tay. Bất thần một người núp sau một lăng mộ đã bắn vào chân phải của hắn. Rồi từ nhiều phía, mấy bóng người lao vụt đến. Trong nháy mắt, hắn bị xích hai tay. Chân phải hắn treo lủng lẳng, máu tuôn thành dòng xuống mặt đất đen.
Lần ấy hắn bị đem vào bệnh viện, các bác sỹ cưa chân hắn lên đến tận đùi. Sau đó hắn bị giam vào tù. Vĩnh viễn từ đó hắn không vượt ngục được nữa. Người ta kết án hắn tù chung thân, nhưng mười lăm năm sau thì hắn được tha.
Ngoài bốn mươi tuổi, cụt một chân, lại ở tù lâu năm, hắn già nua, tiều tụy chống nạng lóc cóc về làng trong một buổi chiều mưa khiến nhiều người động lòng trắc ẩn.
Làng hắn nghèo, người dân chỉ ăn bằng khoai sắn trừ bữa. Trẻ em người lớn đều gầy nhẳng. Hắn dựng một túp lều tranh trên mảnh đất ngày xưa hắn được sinh ra. Làng chia cho hắn vài sào ruộng. Hàng ngày hắn lụi cụi cuốc đất, gieo hạt như một ông già thực thụ. Lúc rỗi rãi, hắn đi bẫy chim, nơm cá. Có lúc hắn hò hét vui đùa cùng mấy đứa trẻ chơi trò kéo co, nhảy ngựa, hay đánh trận giả...
Làng bên có người đàn bà mắt lé, béo ú lỡ thì tên là ánh. Người ta mối lái thị cho hắn. Ngày ấy hắn buồn lắm. Hắn đã chán ngấy cái cảnh một mình một niêu, nên đành gật đầu cho xong chuyện. Nhưng hai hôm trước khi hắn cưới vợ, hắn nằm mơ thấy Lệ Uyên về. Đôi mắt Uyên buồn nhìn hắn. Cô nói, dù âm dương cách trở nhưng vẫn luôn nhớ mong chờ đợi hắn. Thế là, hôm sau hắn lóc cóc chống nạng ra thăm mộ Uyên. Hắn đứng lặng nhìn ngôi mộ đã lâu ngày, tà tà trong cỏ. Một con bướm trắng nhỏ bay lượn xung quanh rồi đậu xuống cánh hoa vàng. Hắn bồi hồi nhớ lại lời tâm sự của Uyên, mẹ mất khi cô vừa mới chào đời. Bố cô lấy vợ hai, xiêu cư bạt quán.
Hôm sau, hắn quyết định hủy đám cưới với ánh. Hắn định dành khoản tiền đám cưới xây mộ cho Uyên. Nhưng hắn lại nằm mơ thấy Uyên hiện về, Uyên khóc. Uyên khuyên hắn lấy vợ...
Điều bất ngờ nữa là ánh đi trẫm mình ở dòng sông cuối xóm. Xác ánh chìm ba ngày thì nổi lên, dạt vào bãi sông cạnh ô ruộng nhà hắn. Mọi người đồn ầm lên ánh dù không lấy được hắn, nhưng khi chết đi vẫn muốn làm dâu nhà hắn.
Từ đó về sau hầu như chẳng có cô gái nào để ý đến hắn. Người ta bảo số hắn sát gái, cứ ai yêu hắn, thể nào cũng bị chết. Đời hắn buồn, nghèo, đằng đẵng thâm u như trong địa ngục.
*
Bỗng rộ lên vụ đào đá đỏ ở Quỳ Châu.
Khắp làng trên xóm dưới, từng đoàn người nườm nượp kéo lên vùng đá đỏ. Trộm cướp như rươi. Ngày nào cũng có vụ đâm chém giết người. Bọn cướp lùng sục khắp nơi, nghe ai đào được đá đỏ là chúng đến, kề dao vào cổ...
Từ một kẻ không ai nhìn đến, hắn bỗng trở thành người hùng. Dẫu cụt một chân nhưng hắn vẫn có thể nhào lộn như thường, vẫn có thể bẻ cổ đối phương dễ như trẻ con bẻ một cành cây. Và nữa, cái tài phi dao găm của hắn uy danh vang lừng trong giới võ lâm. Lập tức có người này, người khác đến cầu cạnh. Hắn nhận lời che trở cho tất thảy những ai nhờ đến hắn. Hắn bỏ cả nhà, lên Quỳ Châu, sống trong khu rừng mới mấy tháng trước còn hoang vu, rậm rạp nay đã nham nhở những hố, lũng gồ ghề và những đoàn người đào đá đỏ dựng lán san sát. Những con suối nhỏ, trước đây trong vắt, róc rách chảy dưới sườn đồi, lùm cây, nay trở nên đặc quánh, sền sệt bùn đất.
Hắn đã từng túm tóc một tên cướp, dùng tay trái giơ cả người lên khỏi mặt đất, giọng gầm lên:
- Mày về hỏi tổ sư mày xem có biết tao là ai không?
Tên cướp nghe vừa nghe thấy giọng hắn đã như bị thụt lưỡi, chân tay khua khoắng miệng ngọng nghịu:
- Thưa... thưa đại ca... con...
Hắn vứt tên cướp xuống cái hố đọng nước vàng bên cạnh. Tên cướp lồm cồm bò dậy, run bần bật quỳ lạy, mặt tái mét, miệng vẫn ngọng nghịu.
- Con xin tha tội chết... Đại ca tha cho con... Từ nhỏ con đã nghe uy danh đại ca... tha cho con đại ca...
Hắn tỏ ra nhân từ:
- Được! Khôn hồn thì sống. Từ nay không được làm bậy kẻo tao bẻ răng mày, móc mắt mày có ngày.
Tên cướp quỳ lạy như cuốc cỏ, đợi hắn quay đi mới dám chạy biến vào rừng ngồi thở và tin rằng mình vẫn còn sống.
Sau chuyện đó, uy danh của hắn ngày càng vang dội. Hắn chỉ cần lườm mắt là tất cả mọi người cúi mặt xuống. Không ai dại gì gây sự với hắn. Chỉ cần hắn khùng lên phi cho một lưỡi dao là toi đời, hoặc nhẹ hơn, hắn cho một quả đấm thì có mà nát mặt cũng không chừng.
Cả khối người nghèo khó cần mẫn, chui rúc trong rừng hoang kia kiếm được viên đá đỏ nào cũng phải giao nộp cho hắn, hắn mang đi bán và chia tiền lại cho mọi người. Hắn tỏ ra biết điều, bình thường hắn chỉ nhận một phần như bất kỳ thành viên nào trong đoàn.
Nửa năm sau, hắn đã có một tài sản kha khá. Hắn về làng xây một căn nhà bề thế ba gian, cửa gỗ có đánh véc ni bóng lộn. Hắn trở thành sang trọng, được người ta kính cẩn còn hơn cả mấy ông giáo làng vốn được coi là nhiều chữ nhưng vô tích sự, sống nhờ mấy đồng lương còm, gia đình mình còn không nuôi nổi. Có một ông giáo đã vào tuổi trung niên, gầy ốm hom hem, sang nhà hắn bảo:
- Tôi tôn anh làm thầy... Anh dạy tôi môn võ để tôi theo chân anh lên vùng đá đỏ, nếu may mắn còn kiếm được đồng bạc nuôi con. Chứ như bây giờ bế tắc quá... Nghề chữ nghĩa như chúng tôi thiên hạ nó ỉa vào.
Hắn cười khùng khục:
- Nghe ông nói tôi sướng cả người. Cái loại các ông đã thành mạt hạng rồi. Thời bây giờ người ta tôn sùng đồng tiền. Có tiền là có tất. Con điếm, thằng khùng có tiền cũng thành ông này bà nọ. Bọn quan chức còn phải khúm núm, xin xỏ nữa là cái lũ các ông. Cứ ngồi đó mà nói chuyện đạo đức, mà lên mặt dạy đời nhé... Đừng có hòng...
Hắn cười sằng sặc nhìn ông giáo tái mặt ra về. Đến nhà ông nôn ra một vũng máu.
Còn lạ hơn, con gái đẹp trong làng và cả những làng bên cạnh đều tìm cách đến gần hắn. Xưa kia người ta coi hắn như hùm beo, rắn rết, nay lại như thánh thần. Lũ đàn bà con gái là nhạy lắm với những dấu hiệu khác lạ ấy. Nghiễm nhiên, hắn trở thành chúa tể mặc sức chọn lựa các mỹ nữ.
Cuối cùng thì hắn cũng chọn được cho mình một hoa khôi của làng. Thị tên là Nương. Trước ngày cưới, hắn mở nhạc xập xình, lập lòe đèn xanh đỏ. ở giữa rạp lớn, hắn cùng đám đàn em nốc rượu. Bên tai hắn chen chúc những lời tán dương, chúc tụng. Lúc nửa đêm, hắn say ngật ngưỡng, mặt đỏ gay, đi đứng xiêu vẹo, phải dìu vào trong nhà.
Ngày cưới hắn rỡ ràng mày mặt. Trông hắn có vẻ tươi và vui. Nhưng trong sâu thẳm, hắn có một dự cảm khó hiểu... Từ lâu lắm, trong lòng hắn vẫn trào lên một niềm sợ hãi hoang sơ. Hắn đã từng bao phen lên voi xuống chó. Niềm vui không ở lâu trong lòng hắn. Niềm vui luôn bị chèn lấn, vùi lấp đằng sau những bừa bộn, lo lắng. Vợ hắn không hề hiểu gì về hắn. Thị tươi rói và cứ trắng hơ hớ.
Cuộc sống gia đình của hắn chẳng êm thấm được bao lâu. Khoản tiền kiếm được trong vụ đá đỏ không cánh mà bay. Bao nhiêu cuộc ăn chơi chè chén, bao trò bán mua hoang phí, bao nhiêu phen cờ bạc đã đưa hắn trở lại cảnh bần cùng. Càng khốn khó, hắn càng bẳn gắt điên khùng. Nhiều hôm, hắn nằm dài nhìn cảnh vợ hắn bụng mang dạ chửa phải chạy hàng xáo. Nương xuống sắc nhanh quá. Mới ngày nào mặt hoa da phấn, nay quằu quặu, sưng sỉa. Có lúc hắn bảo thị không thèm nghe, thế là hắn giậm chận xuống nền nhà, trợn mắt quát:
- Đồ chó đẻ. Bố bẻ cổ mày bây giờ.
Lúc đầu thị còn tưởng hắn dọa nắn gân, bỗng cương lên một cách bất ngờ:
- Cổ tôi dễ bẻ lắm đó.
Bất thần hắn bớp lấy cổ thị bóp chặt. Mặt thị đỏ hết cỡ, chuyển sang màu tím tái rồi xanh lét. Mắt thị trợn ngược. Miệng thị há ra. Cái lưỡi thè dài không thể ngọ nguậy nổi. May mà hắn nghĩ sao đã buông tay ra khi thị chưa tắt thở hẳn. Dân trong xóm đổ sang cấp cứu được thị, nhưng một thời gian sau cái thai chết lưu phải lên viện mới hút ra được.
Từ đó, Nương đi đâu cũng cúi mặt. Những lúc một mình, thị chỉ biết than thân trách phận mình. Thị nghĩ, đời thị khác nào một hạt mưa rơi xuống bãi phân bò. Bốn bức tường nhà thị lúc nào cũng như phủ bóng đen của hắn. Nhiều đêm thị mơ thấy đôi mắt ty hý, cái hàm răng gồm những chiếc to bè chen chúc, vàng khè của hắn. Thị giật mình kinh hãi không giám ngủ lại nữa.
Mỗi lúc hắn đòi hỏi chuyện chăn gối, thị thấy một luồng lạnh toát kinh rợn lan ra khắp người. Cảm giác như một con rắn nhỏ len vào trong cơ thể thị. Đến một ngày thị chỉ còn nghĩ cách để lìa xa hắn.
Nhưng thị lại có thai. Lại ốm đau mệt mỏi. Những cánh cửa vừa hé ra trong tâm tư bỗng bị đóng lại một cách tàn nhẫn.
Cái thai như một định mệnh lớn dần lên đè bẹp niềm hy vọng của thị. Bỗng thị nghĩ đến việc phải đi phá thai. Thị đi khắp các bệnh viện, trạm xá trong huyện, ai cũng lắc đầu, kêu cái thai đã già không thể làm theo ý thị được. Thế là thị quyết định uống thuốc ngủ liều cao. Thị nghĩ, thể nào cái thai cũng bị ngộ độc, vì vậy các bác sỹ phải lấy nó ra.
Sau khi uống thuốc ngủ thị lo lắng, sợ hãi tự móc họng mửa ra. Thị được đưa đến bệnh viện. Được rửa ruột và ngủ hai ngày hai đêm.
Cái thai vẫn không được lấy ra.
Biết chuyện đó, hắm dẫm chân xuống nền, tay đấm vào ngực mình bôm bốp, miệng thét lên những tiếng gầm man dại. Nếu như có thể được, hắn sẽ xông vào nhai sống, nuốt tươi luôn cả thị.
*
Buồn bực không chịu nổi, một đêm hắn lặng lẽ ra đi. Hắn như con hổ nhớ rừng, muốn tìm về băng cướp cũ. Máu hắn sôi lên khi nhớ lại những ngày tháng huy hoàng, hắn cùng lũ đệ tử tung hoành ngang dọc một cõi. Hắn lên xe, xuống bến, rồi lại lóc cóc chống nạng trên những con phố cũ, những ngõ hẻm ngày xưa hắn đã từng chỉ huy những phi vụ ngoạn mục. Kỷ niệm dậy lên trong hắn hơi men của những ngày oanh liệt. Nhưng đi mãi... đi mãi... Hắn vẫn không thấy một gương mặt thân quen nào. Hắn gõ cửa một căn nhà rêu phong khuất sau khu vườn huyền bí, im lìm, nơi ngày xưa là bản doanh của hắn. Nhưng không ai mở cửa... Cùng đường hắn đành phải quay về.
Hắn tự cười vào chính mình. Hắn đã lẩn thẩn rồi chăng? Chuyện đã hơn vài chục năm rồi còn gì. Thời gian đã làm thay đổi tất cả, đã xóa nhòa vĩnh viễn những dấu ấn một thời, đã làm già cỗi những ước mơ, đã ly tán những con người... Hắn bây giờ là một gã tàn phế, ở tuổi xế chiều, hỏi còn gì là tham vọng. " Đúng là ngu! Mi bây giờ là cái cục cứt gì mà còn tham vọng vỉễn vông..." Tự xỉ vã mình, rồi hắn vào một quán rượu ven đường, gọi một chai tu cạn. Nước mắt hắn trào ra. Miệng hắn dường như méo đi. Mặt hằn lên những sợi gân xanh. Rồi hắn khật khưỡng, lê lết kéo tấm thân rũ rượi nhích về phía trước.
*
Cuối cùng thì hắn cũng trở về nhà. Vừa đến cổng, hắn thấy người ta khiêng thị đi bệnh viện. Thị đau đẻ đã hai ngày nay nhưng không sinh được. Một bà hàng xóm đang cuống cuồng dùng liềm cắt các dây phơi trong nhà., ngoài sân.
- Đồ điên!
Hắn quát, người hàng xóm giật bắn người, buông rơi chiếc liềm.
- Làm cái trò gì đó?
Người đàn bà run run.
- Tôi cắt... để chị nhà... sinh cháu được dễ...
- Quên mẹ cái trò mê tín dị đoan ấy đi.
Hắn thốt lên, trừng mắt. Rồi hắn bỗng quay gót, chạy theo người vừa khiêng vợ hắn chạy vụt qua.
Bác sỹ bắt hắn đợi ngoài hành lang bệnh viện. Hắn đợi đến khi trời tối, rồi đêm xuống... vẫn chưa thấy tiếng khóc trẻ con trong phòng đẻ. Tiếng chân bước lạo xạo quay ra, quay vào, những gương mặt nghiêm trang, đầy ngẫm ngợi. Lòng hắn nóng như có lửa đốt. Hóa ra- hắn tự thẹn với mình, hắn cũng là một kẻ biết lo lắng, cầu mong hạnh phúc gia đình... Cái máu anh hùng hảo hán, cái chất lưu manh anh chị bỗng biến đi đâu để trơ ra nơi hắn cải vẻ bẽ bàng, quê kệch, thô thiển.
- Được rồi...
Tiếng bà đỡ thốt lên. Và tiếp theo, tiếng trẻ con oa oa khóc. Hắn thấy lòng như nở ra từng khúc.
Ba ngày sau, hắn đón mẹ con thị về. Hắn muốn tỏ ra dịu dàng, thân ái, nhưng hễ thấy hắn là thị nhăn mặt vẻ khó chịu. Còn đứa trẻ, hầu như lúc nào cũng nhắm tịt mắt lại. Đôi lúc đứa trẻ cũng mở mắt nhìn hắn, cái nhìn vô hồn, xa lạ, bí ẩn. Dẫu vậy, hắn cũng tự thấy được an ủi.
Từ ngày đứa bé ra đời, hắn thấy lòng dâng lên một tình yêu khó tả. Đêm đêm hắn thò tay mân mê khắp người nó. Ban ngày, hắn bế con đi lang thang trong nhà. Chưa bao giờ hắn thấy được rõ ràng một sợi dây huyền bí gắn kết hắn với cái cơ thể tí hon vừa được sinh ra ấy. Chưa bao giờ hắn hiểu được tình phụ tử lại thiêng liêng đến thế.
*
Bất giác hắn giật mình...
Ký ức vụt thức dậy kinh hoàng...
Một đêm, trên quãng vắng, hắn chặn hai bóng đen lại.
- Đứng im, không được kêu, không được chống cự. Ta sẽ tha cho đi, nếu không sẽ bị mất đầu.
Sự thật thì hắn chỉ muốn đoạt lấy túi tiền của hai cha con nhà nọ. Không ngờ, đứa con trai lại xông vào đánh nhau với hắn. Như trong vô thức, hắn vung kiếmlên. Lưỡi kiếm của hắn cứa đứt ngang cổ đối phương. Lão già đang quỳ xuống van lạy hắn tha chết cho con mình, bỗng lao đến ôm lấy chiếc đầu lâu vừa mới rụng xuống lăn lông lốc trên cỏ. Lão ngước cái mặt tràn nước mắt, đang méo xệch lên trời, nín lặng.
Hắn động lòng trắc ẩn, chỉ tay xuống gốc cây vông giữa cánh đồng:
- Ta cho phép chôn nó dưới gốc cây này.
Lão già lặng lẽ làm theo. Trong lúc đó, hắn sờ nắn túi tiền của lão. Một gói to toàn vàng thỏi và đô la.
- Buôn thuốc phiện hả?
Hắn hất hàm hỏi. Lão già im lặng.
- Nói không ta cho chui xuống đất luôn hai cha con mà ngủ cho ấm!
Lão già ấp úng:
- Dạ... còn khủng khiếp hơn thuốc phiện nhiều.
- Gì?
- Sọ người.
- Sọ người?
- Vâng.
- Sao lại thế?
- Đó là bài thuốc bí truyền.
- Chữa bệnh gì?
- Bệnh ngu đần, mất trí...
- Mi lấy đâu ra món hàng ấy?
- Người ta ăn cắp ở nghĩa địa, đem bán cho.
-Vậy thì... Ta cho đầu mi lìa khỏi cổ để mi biết chết không đầu sẽ ra sao.
- Lạy ông...
Hắn lia lưỡi kiếm về phía lão già.
*
Lúc nửa đên, đứa bé khóc từng cơn dài như đang bị ai cấu véo. Không có tiếng cựa mình, không một lời ru của người mẹ. Hắn chợt tỉnh, nói với sang:
- Sao để con khóc vậy?
Chỉ có tiếng khóc của đứa bé là vẫn cất lên. Hắn thét:
- Đồ chó. Không có mồm à?
Vẫn chỉ tiếng khóc của đứa bé vang lên. Hắn cúi xuống, nhặt chiếc dép ném vào bức tường nơi phát ra tiếng khóc.
Vẫn chỉ có tiếng khóc đáp lại nỗi giận dữ của hắn. Hắn xông vào buồng, toan nện vào mặt vợ. Nhưng thị không còn ở đó.
Máu hắn sôi lên: "Hay nó đi theo trai?" Hắn tự nhũ, sẽ cho thị một trận nên thân. Hắn mà bắt được thị, thì chỉ có mà thịt nát xương tan. Nhưng rồi hắn cũng biết nuốt hận vào trong, cúi gương mặt sần sùi, giương đôi mắt ty hí nhìn con. Hắn bế ngửa đứa bé, đập tay vào mông nó vỗ về.
Từ đó, căn nhà hắn quạnh hiu. Thị không về. Không ai biết thị đã đi đâu. Hắn phải địu con trên lưng mỗi khi ra khỏi nhà. Đứa bé rồi cũng dần quen với hoàn cảnh của mình. Trong những giấc mơ, hắn thấy con hắn lớn dần lên, đẹp trai, thông minh. Tỉnh dậy hắn ôm lấy con, nở một nụ cười vừa có phần chua chát vừa mãn nguyện.
Năm tháng trôi đi, đứa bé rồi cũng lớn lên. Biết ngồi. Biết đứng. Biết đi. Các bộ phận cơ thể nó bình thường, duy cái đầu là to ngoại cỡ. Hầu như ngồi đâu nó cũng ngủ gục. Tính nó hiền khô, đần độn.
Hắn lóc cóc chống nạng địu con đi bệnh viện. Các bác sỹ kết luận, đứa bé bị thiểu năng trí tuệ, không thể chữa được. Hắn ứa nước mắt địu con trở về nhà. Đối với hắn, đó là một ngày đen tối, rùng rợn trong cuộc đời. Mọi hy vọng vào tương lai của đứa con trai duy nhất bị dập tắt. Hắn thấy cô độc và bi phẫn rước sự cay nghiệt của số phận.
*
Hắn cười khằng khặc. Phải rồi... Hắn đã nhớ ra... Một bài thuốc bí truyền... Lời lão già hắn đã giết gần hai mươi năm trước bỗng thức dậy trong óc hắn. Hôm sau, hắn gửi con cho hàng xóm rồi chống nạng ra đi...
Khuya! Trời đất đen ngòm tĩnh lặng. Hắn dừng lại bên gốc cây vông trên cánh đồng. Hắn nhìn khắp xung quanh để định thần lại rồi lấy trong tay nải ra một cái đèn p
in và cái cuốc chim ngắn cán. Sau mấy phút đắn đo, lưỡng lự, hắn bắt đầu hì hục đào...
Hình ảnh lão già quỳ lạy... Cái đầu lâu lìa khỏi cổ... Những tia máu phụt lên... như bỗng hiện lại trong tâm trí hắn. Hắn thấy rờn rợn... Một niềm kinh hãi thẳm sâu bỗng bừng lên làm hắn dừng cuốc. Trong vài phút, hắn toan lấp đất lại bỏ đi, nhưng một sức mạnh lạ kỳ gì đã làm hắn không thể rời khỏi gốc cây vông. Và hắn lại cần mẫn đào tiếp.
Đến gần sáng, lưỡi cuốc hắn va vào một vật gì hơi rắn. Hắn nhẹ tay, lúc sau hắn đưa lên khỏi mặt đất một cái sọ người. Hai hốc mắt đen ngòm nhìn hắn. Cái miệng trơ xương, hàm dưới đã rụng. Hắn vội vã bọc vào bao ni lông, lấp lại đất, chống nạng bước về phía dòng sông. Trong bóng lờ mờ của một ngày sắp rạng, hắn dùng tay kỳ cọ, mài rửa cái sọ người cho đến khi nó trắng hếu, sạch bong. Rồi hắn đem dấu trong rừng sú. Xong việc, hắn giả bộ làm người câu cá, đợi cho đến chập tối, khi trên sông đã thưa thớt người qua lại, hắn đi lấy củi. Rồi hắn trát kỹ càng một lớp đất sét khô xung quanh cái sọ người, tựa như người ta làm đồ gốm. Cuối cùng hắn nung cái sọ người trong ngọn lửa đỏ rực.
Hắn ngồi một mình canh ngọn lửa. Xung quanh không gian đen ngòm bỗng phát ra những âm thanh kỳ quái, lúc eo oéo như tiếng mèo hoang, lúc thình thịch như tiếng chân thú, lúc man dại như tiếng hổ gầm... Hắn nhìn vào ngọn lửa. Những tia xanh vàng kỳ ảo chạy thẳng vào mắt hắn. Từ trong cái sọ người như có tiếng kêu khóc, rền rĩ phát ra... Hắn cắn chặt răng, nắm chặt tay, cố làm ra vẻ không nghe thấy gì, không hề sợ hãi. Hắn cố nghĩ về đứa con trai của hắn... Một mai đây, con hắn sẽ khỏe mạnh, thông minh, sẽ có một cuộc sống bình thường như mọi người...
Mấy tiếng đồng hồ sau, hắn tắt lửa, khêu cái sọ người trát bùn đen cháy, cứng như đá ra khỏi đống tro than. Đợi thật nguội, hắn dùng chiếc búa đinh nhỏ nện vào một điểm. Một mảng đất sét tróc ra. Hắn lấy tấm ni lông trải ra, dốc cái sọ người được bọc đất sét xuống. Từ bên trong, một thứ bột tro xam xám chảy ra.
Xong xuôi, hắn vứt cải vỏ đất sét xuống dòng sông. Xóa hết mọi dấu vết trong rừng sú. Gói ghém đồ đạc, bỏ gói tro vào tay nải, điềm nhiên rời khỏi bãi sông.
*
Thứ tro ấy được trộn với mấy vị thuốc bắc, vo thành viên. Hàng đêm, hắn cho đứa bé uống trước khi đi ngủ. Hắn tin rằng, sau khi uống vào con hắn trở nên khỏe mạnh, thông minh. Không thể ngờ, sau mỗi lần uống, đêm đêm con hắn mơ thấy cảnh ma quỷ hiện hình nhe những hàm răng đen xỉn và cái lưỡi xanh lè liếm vào mặt nó. Đứa bé giật mình, run rẩy, gào thét dữ dội.
Một tuần sau, vào lúc nửa đêm, con hắn nấc lên một cơn dài rồi trợn trừng mắt. Hắn bật dậy như một cái lò xo. Hắn ôm chầm lấy con mà lay, mà lắc, mà thét, mà gào...
Nhưng vô hiệu. Đứa bé không bao giờ tỉnh lại được nữa.
Hà Nội 20-2-2005
Cuộc hạnh ngộ
Vợ giáo sư Phương chết rồi. Mới mấy phút trước đây thôi, bà Nguyệt còn cười nói. Bà bảo, hôm nay trong buổi tiệc mừng đám cưới cô cháu họ, bà sẽ mặc chiếc áo gấm mà ông mua tặng bà trong một chuyến công tác ở Bắc Kinh. Thế mà chưa kịp đi, một cơn đau tột độ trong ngực trái. Mặt bà tái mét, mắt tối sầm và bà đổ gục xuống, không nói được lời nào. Đôi môi run run bỗng bất động và đôi mắt đờ đẫn nhìn ông như mãi mãi không bao giờ muốn nhắm lại.
Ông nấc lên! Một cảm giác bại hoại đau đớn. “Bà! Bà ơi! Bà ơi! ...” Tiếng ông như tan vào không gian lạnh lẽo. Chỉ có sự băng giá, bất động như có hàng trăm con mắt xỉa những tia sắc nhọn vào tim, vào óc ông. “Bà! Bà ơi! ...” Ông gục đầu xõa mái tóc bạc trắng, rối bù xuống cái xác bất động của bà.
Đêm!
Căn phòng tĩnh lặng. Tĩnh lặng đến nỗi ông có cảm tưởng như cả thế giới này đã ngừng im mọi chuyển động, chỉ có tiếng tích tích của chiếc đồng hồ treo tường gợi lên bước đi thầm lặng, tàn nhẫn của thời gian, và tiếng trái tim ông kiên nhẫn từng nhịp đập nặng nhọc. Trên bàn thờ, từ tấm ảnh đôi mắt bà hiền dịu nhìn ông. Ngọn nến lung linh nhòe động. Các ngọn nến nhân lên, nhân mãi lên thành hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn... lung linh, bồng bềnh... bồng bềnh, lung linh... và hoa... Hoa từ đâu rụng xuống những cánh màu sặc sỡ... Gian phòng bỗng trở nên lỗng lẫy, diệu kỳ. Từ bức ảnh, một bóng dáng dịu hiền, trẻ trung bước ra.
- Nguyệt!- Ông thốt lên - Chiếc áo trắng này em đã mặc trong ngày cưới. Em đẹp quá... trẻ trung quá...!
- Hôm nay là ngày cưới chúng mình...
Ông nhắm mắt lại. Chưa thể hiểu được điều kỳ diệu nào đang xảy đến. Thời gian đang quay ngược lại, cho ông gặp lại dĩ vãng tưởng chừng đã mất ư?
Khi ông mở mắt ra lại thấy bà, nhưng không phải với hình ảnh trẻ trung và chiếc áo cánh trắng ngày cưới mà là gương mặt hớt hải, đôi mắt kinh hoàng, gương mặt lấm lem bụi đất, thân hình run rẩy cố nép sát vào ông trong đêm Hà Nội bị bom B52. Những âm thanh ầm ào như vỡ trời kinh động từ trong mỗi tế bào.
Nhưng rồi thoắt cái, tất cả lại lặng tắt. Hình ảnh bà lúc này trở nên dịu hiền, buồn lặng trong chiếc áo gấm mà ông đã mua tặng:
- Từ nay tôi không được đỡ đần, chăm sóc ông hàng ngày nữa...
- Những ngày vừa qua, điều gì xảy ra với bà?
- Tôi được người ta dẫn đi qua những con đường rực ánh sáng, chơi vơi trên đỉnh trời. Nhưng tôi như có phép phân thân, vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác. Tôi thấy dường như ở rất xa ông, lại như rất gần. Tôi không biết những ngày sau sẽ thế nào. Tôi lo sợ quá... Nếu không được gần ông nữa, rồi tôi và ông sẽ ra sao?
Ông giật mình bừng tỉnh. Vẫn căn phòng vắng ngắt. Vẫn ảnh bà trên bàn thờ im lặng nhìn ông và ngọn nến leo lét cháy. Lạ chưa, không phải ông mơ. Ông đang thức. Nhưng điều gì đang diễn ra thế kia? Sự mệt mỏi, đau đớn sau những ngày bà từ giã cõi đời đã làm ông mê lú rồi ư?
Ông rùng mình, nhắm mắt lại, cố trấn tĩnh. Nhưng rõ ràng có một điều phi thường kỳ lạ vừa diễn ra với ông. Nỗi băn khoăn dậy lên trong óc ông như những dấu hỏi lớn chưa thể trả lời. Suốt gần 30 năm là một giáo sư vật lý nghiên cứu những hạt cơ bản của vật chất và quy luật tương tác giữa chúng đã để lại cho ông danh tiếng được nhiều đồng nghiệp kính trọng. Nhưng dần dần, trong ông xuất hiện những câu hỏi lớn về bản chất của sự tồn tại và mối liên hệ giữa cái vật chất và cái tinh thần. Thì hôm nay đây, dường như một nửa huyền bí của thế giới bỗng hé lộ. ồ không! Ông đập tay vào trán, tự nhủ: “Bản tính nghề nghiệp có thể đã làm mình sai lầm. Mình hay đi sâu quá vào những khía cạnh đặc thù, những tình huống riêng biệt. Sự tò mò và suy đoán đã làm cho mình sai ...”
Để lấy lại tỉnh táo, ông thắp đèn, đi rửa mặt và ngồi vào bàn đọc sách. Nhưng dù nhìn đăm đăm vào trang giấy mà hồn ông như đang trôi lơ lửng trên những đám mây, lạc vào cõi xa ảo mờ, lãng đãng những sợi mây vàng như tơ bay xung quanh gương mặt một cụ già đôn hậu, râu tóc trắng như bông, mắt nhìn xa vạn dặm. Cụ đưa bàn tay ấm nóng của mình vỗ nhẹ lên vai ông:
- Con! Ta nhớ con quá...
Một nỗi kinh ngạc và hoài nghi bỗng trùm lên ông. Ông bỏ cuốn sách đang đọc, quay ra ngoài, hít thở không khí, lòng lo lắng tự nhủ: “Mình lẩn thẩn thật rồi. Sự hoang tưởng, những ảo giác cứ len vào trong trí não mình”. Ông thấy mình run lên một niềm lo lắng bí ẩn.
Ông quay vào nhà, thắp lên bàn thờ bà Nguyệt một nén hương:
- Bà phù hộ cho tôi được bình an.
Đôi mắt bà từ bức ảnh nhìn ông nhấp nháy. Ông tắt đèn. Cần phải thiền để tập trung tư tưởng. Ông ngồi theo thế kiết già, hướng về phương tây. Đầu lưỡi chạm vào vòm miệng, hai tay chắp trước ngực, nhắm mắt và tập trung dẫn luồng linh khí từ đỉnh đầu về tim và tỏa đi khắp cơ thể.
Chưa bao giờ như thế!
Kể từ thuở được sinh ra trong cuộc đời này ông chưa bao giờ hình dung nổi lại có một điều kỳ diệu như thế xảy ra với mình. Dường như có một luồng điện đi vào cơ thể ông từ một điểm trên đỉnh đầu. Từ đó tỏa ra râm ran khắp trong từng tế bào. Ông có cảm giác như trong từng khớp xương, thớ thịt mình có một nguồn năng lượng tràn vào và mỗi tế bào trong cơ thể như được tái tạo, trở nên sung mãn.
Bên tai ông bỗng phực lên một tiếng động khẽ và trên ấn đường như có một chỗ nứt ra. Một luồng ánh sáng kỳ lạ xen lẫn các màu xanh, đỏ, tím, vàng được rót vào trong óc. Giáo sư Phương thấy mình như có một con mắt thứ ba. Cả không gian bỗng sáng rực và dần dần phía trước muôn sắc màu kỳ lạ kết tụ thành hình tròn có những hoa văn tựa một chiếc trống đồng lóng lánh sắc màu như những ánh phát ra từ mỗi đóa kim cương hay hồng ngọc.
Một lúc sau, nguồn năng lương biến mất, những sắc màu kỳ diệu cũng tan đi, chỉ còn lại một màn đêm sâu hoắm, lạnh lẽo. Giáo sư Phương lặng lẽ đi nằm. Đêm đó ông ngủ ngon lành như mọi người bình thường. Ngày hôm sau, sức khỏe của ông dường như tốt hơn, người ông lúc nào cũng lâng lâng, nhẹ bỗng. Nỗi ưu phiền về sự ra đi vĩnh viễn của vợ cũng lắng lại một phần.
Ông cảm nhận được rất rõ có một chuyển động kỳ lạ trong trí não và xương thịt mình. Ông thấy mình như được nối với vũ trụ bởi một sợi dây vô hình nào đó. Từ cõi cao xanh kia có một cái gì đang dần dần len lỏi vào tâm trạng và chi phối cả những ý nghĩ của giáo sư Phương. Suốt cuộc đời chưa bao giờ ông nghĩ đến điều kỳ lạ ấy. Và có lẽ, nếu như ông nói ra những điều bí mật của mình thì cũng ít người tin. Vì vậy mà ông vừa phấn chấn, vừa lo lắng vừa cô độc.
Hàng ngày ông cố sống như một người bình thường, làm những công việc bình dị của đời thường. Nhưng đêm đêm, ông lại nhận được năng lượng vũ trụ và dần dần nghe thấu những lời chỉ bảo của các thần linh ở trên trời.
Khoảng một tháng đầu, ông nhìn thấy hình ảnh bà Nguyệt và dường như nói chuyện được với bà. Nhưng đến một hôm, bà ứa nước mắt nhìn ông, nói giọng đứt quãng:
- Từ nay tôi phải xa ông rồi.
Rồi bà bước theo một bóng sáng mờ ảo, đi mãi qua những con đường nhỏ cong cong vắt ngang một góc trời. Từ đó, ông không bao giờ nghe thấy giọng bà nói nữa. Hình ảnh bà lần cuối cùng khắc lại trong tâm khảm ông và thỉnh thoảng lại hiện lên trong sự câm lặng não nề. Ông có cảm giác, đó mới là dấu ấn của một cuộc chia tay thực sự trong cõi hư ảo. Ông bồi hồi nhớ lại, có lần, giọng bà thổn thức:
- Tôi được ở lại đây với ông thêm 23 ngày. Sau đó sẽ đi vào thế giới khác. Tôi không biết rồi mọi điều sẽ ra sao. Linh hồn tôi không được cùng ông nữa, nó sẽ cô đơn biết chừng nào. Từ nay đến vô lượng kiếp về sau, không biết có còn duyên để gặp lại ông nữa không. Suốt một đời làm vợ ông, chắc có lúc tôi không làm tròn phận sự...
Linh hồn bà Nguyệt òa khóc và ông cũng không cầm được nước mắt. Chao ôi! Hóa ra những mối tình bền chặt trên thế gian này cuối cùng cũng chỉ là những mối tình dang dở mà thôi ư? Trong vô lượng kiếp về sau, con người làm sao có diễm phúc gặp lại... Câu hỏi dường như phát ra từ cõi hư ảo ấy cuộn lên trong ông, mang một cảm giác nhức buốt.
*
65 tuổi, giáo sư Phương bàn giao công việc ở trường Đại học Tổng hợp lại cho những người bạn đồng nghiệp trẻ. Từ đó, ông sống lặng lẽ trong căn phòng tập thể tầng bốn của một khu chung cư cao tầng.
Bà Nguyệt và ông không có con. Sau khi bà mất, tuổi già của ông là một chuỗi ngày tháng u buồn. Hàng ngày tự ông phải đi chợ, nấu cơm. Đồng lương hưu ít ỏi. Mỗi lần muốn mua thêm một cuốn sách, ông phải cắt giảm các khoản chi tiêu khác, thậm chí phải nhịn thêm vài bữa cơm. Ông già đi nhanh chóng. Gương mặt hằn in những nếp nhăn, mái tóc vốn đã sớm bạc bây giờ dài thêm ra gần chấm bờ vai, trắng như cước.
Thỉnh thoảng đồng nghiệp thường vẫn gửi cho ông giấy mời tham gia các hội thảo quốc tế về khoa học hoặc đảm nhiệm các công trình nghiên cứu, nhưng ông thường từ chối.
- Mình muốn tập trung cho một hướng nghiên cứu riêng.
Ngày ngày ông lặng lẽ đọc các công trình cổ kim nói về thế giới bí mật của tâm hồn và sự huyền diệu của sự sống do các nhà khoa học và các nhà tu hành danh tiếng nghiên cứu tinh thần ở ấn Độ, Nê Pan, Tây Tạng, Anh, Pháp, Mỹ viết... Trong ông hình thành những dự định bí ẩn. Sự mường tượng về một công trình khoa học kỳ lạ ám ảnh ông không lúc nào nguôi.
*
Bấy giờ đúng lúc không giờ.
Giáo sư Phương ngồi theo thế kiết già. Cả thế gian như đã chìm lấp vào giấc ngủ. Sự tịch lặng vây tỏa. Bóng đêm trùm xuống muôn loài. Một nguồn năng lượng bí ẩn, như dòng sữa trắng từ trên cao chảy vào huyệt bách hội trên đỉnh đầu. Và một sự chuyển động âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt từ trong mỗi tế bào khiến toàn thân ông râm ran. Lần thứ hai trong đời ông thấy trên ấn đường rực sáng. Từ đó óc ông thu nhận được những hình ảnh kỳ bí. Con mắt thứ ba! Cái điều tưởng chừng như chỉ có trong tưởng tượng của loài người hiếu kỳ hay các giai thoại về những đấng siêu nhân thời xưa bây giờ trở thành hiện thực với chính ông ư?
Cụ già tóc trắng như tơ, có gương mặt phúc hậu lại hiện lên trong không gian mờ ảo sương khói, bồng bềnh trên chín tầng mây:
- Từ nay, con có thể nhìn xa muôn dặm, thấu được chín cõi, phân biệt được người ngay, kẻ gian, nói chuyện được với các linh hồn...
Cụ già biến mất. Bỗng giáo sư Phương thấy mình được cưỡi mây bay lên những vùng rực rỡ ánh sáng. Những vì sao nhấp nháy như con mắt thần linh đang nhìn ông. Từ trên cao, ông nhìn xuống thế gian và những kiếp người lầm lụi. Ông hỏi han, trò chuyện với những linh hồn đang chờ đợi để đi vào cảnh giới khác. Cũng có khi ông nghe thấu cả những lời thầm thì trò chuyện của những đám mây, tiếng kêu khóc của các linh hồn bị giam hãm, hành hạ ở đáy sâu địa ngục...
Nhưng tất cả cũng chỉ mập mờ, loang loáng. Rồi trong phút chốc, tất cả lại biến tan đi. Trước mắt ông lúc này lại là màn đêm đen quánh và giấc ngủ nặng nề của thế gian.
Choàng khỏi phút thiền định, ông bật công tắc điện và đi đi lại lại trong phòng. Ông suy nghĩ mông lung, không buồn, không vui, một cái gì mơ hồ, kỳ bí vây tỏa.
*
Có tiếng gõ, giáo sư Phương ra mở cửa. Suýt nữa thì ông đã thốt lên thành lời: “Sao thế này?”. Giáo sư Phương dường như không tin vào mắt mình, ông tháo cặp kính trắng và dụi mắt. Ông đeo lại kính.
Lần này ông thật sự kinh ngạc: Người học trò cũ của ông sao lại có cái mũi dài khoắm xuống, chìa ra cả cái răng nanh vàng, cái cơ thể được đóng trong bộ com lê đắt tiền kia bị bao bọc bởi một quầng đen. Từ cái cơ thể ấy ngùn ngụt bốc lên mùi hôi như của một loài thú lạ. Giáo sư Phương cố che giấu cảm giác lạ lùng đó. Suốt trong thời gian trực diện với người học trò cũ, ông thấy rờn rợn một linh cảm chẳng lành. Rồi trong một giây thôi, ông nghe thấu một lời mách bảo của thánh thần: “Hãy cẩn thận".
Khi hai người ngồi xuống ghế, giáo sư Phương nói bằng giọng ôn tồn nhưng kiên quyết:
- Con là kẻ phạm tội với cả thánh thần và các sinh linh. Hãy nói ta nghe con đã dùng khoa học vào những mục đích xấu xa nào?
- Thầy nói gì thế, con không hiểu.
- Ta khuyên con hãy nói thật ra và sám hối. Con đã quen che dấu tội ác, quen lừa dối nhiều người, kể cả ta... Hôm nay ta muốn nói với con rằng, óc con có màu đen, diện mạo con hao hao một ác quỷ. Những nhơ bẩn của đời đã thấm vào con. Cái ác trong con đang được thời sinh sôi nảy nở.
Người học trò run bắn, toát mồ hôi.
- Con đến mời thầy dự một hội nghị quốc tế... Con không ngờ thầy lại đối xử với con như vậy... Con xin phép thầy ...
Người học trò toan đứng lên. Nhưng giáo sư Phương nói với hắn:
- Trong túi áo con có thuốc độc. Con định làm gì với thứ thuốc độc ấy?
- Thầy không được vu cáo!
- Hãy khoan! Ta không ép con phải làm những điều mà con không muốn. Ta chỉ thương con, tội lỗi đã trùm lấp trí não con. Lương tri con đã chết. Như thế thì biết bao nhiêu kiếp con mới được trở lại làm người đây? Con sẽ bị giam cầm trong địa ngục. Sẽ bị hóa kiếp thành giòi bọ... Rồi con có hối cũng không kịp nữa.
Mặt hắn đanh lại như thép. Hắn quay ra cửa, để lại phía sau cả một chuỗi những tia đen nhọn như kim, chích vào da thịt và tâm não của giáo sư Phương.
Ngày hôm sau, giáo sư Phương vẫn đến dự hội nghị khoa học quốc tế. Giữa những lời tôn nghiêm, trang trọng của những vị chức sắc đầy uy danh, giáo sư Phương bỗng nghe thấy tiếng gào réo của thú dữ, tiếng cắn xé nhau, như những tiếng chó hoang. Giáo sư Phương sang bên trái, thấy một kẻ có gương mặt vàng như nghệ, ánh mắt phát ra những tia xanh. Cái lưỡi có tia độc đen ngòm. Bên phải, một vị như con gấu đen tuyền lim dim mắt. Và kẻ đang phát biểu nom như một con mãnh hổ, có bộ lông hung màu lửa, lúc nào cũng như sắp chồm lên.
Giáo sư Phương quay người, vội vã bước ra cổng. Ông đập tay vào trán. Những gì ông vừa nhìn thấy thực kinh khủng. Chẳng lẽ... chẳng lẽ ông bị một loại ảo giác gì chi phối... Hay con mắt thứ ba đã giúp ông nhìn ra những điều mà người bình thường không thể nào nhìn được... Ông đi lang thang cho khuây dần cái cảm giác ức chế, sợ hãi, đến tận tối mới trở về nhà.
*
Dạo đó trẻ con hàng xóm bỗng hát một bài hát lạ khiến giáo sư Phương quan tâm.
Những làn mây từ hư vô hiện ra,
bay từ đông sang tây,
từ tây sang đông
không phân ranh giới
Những giọt nước từ trời rơi xuống
qua suối khe, rừng biển
rồi lại về trời
ánh sáng từ những vì sao xa vẫn coi trái đất là căn nhà của nó
Âm thanh nối những linh hồn thương nhớ nhau phiêu lạc ngàn trùng
Con có nghe thấy không
Lời ta dặn
Lời ta gọi
Con có biết điều gì nối giữa thực và mơ
Nối những tầng thế giới
Nỗi những vật nổi trôi với cùng thẳm cội nguồn
Con có nghe thấy không
Lời ta dặn
Lời ta gọi
Một đêm, lúc thiền định, giáo sư Phương đã gặp lại cụ già có bộ râu trắng muốt mà trước đây ông từng gặp. Cụ nói với ông bằng giọng thân mật:
- Con! Con hãy nhìn xem vầng mặt trời có phân biệt đông tây? Không! Không có ranh giới nào cả. Những đám mây ngơ ngác kia còn biết bay từ nơi này sang nơi khác, kết lại thành những đám mây lớn hơn... Chẳng lẽ con người lại để cho sự phân cách, sự thù hận, những định kiến chiến thắng... Làm cho con người hiểu được sự cần yếu phải thống nhất, liên kết đông tây là thiên chức của con.
Bừng tỉnh, ông ghi lại những lời vừa nghe thấy vào sổ tay và tâm niệm sẽ làm theo lời chỉ giáo của bề trên.
Từ trong thiền định, dường như ông được tiếp thêm nhiều sức mạnh và khả năng khám phá. Suốt ngày đêm ông lao vào nghiên cứu những vấn đề văn hóa, triết học, tâm linh... Đêm đêm, những lúc thiền định ông lại có cảm giác như một luồng điện từ trên cao chạy vào cơ thể mình. Một luồng ý nghĩ thần bí được thức dậy trong óc. Biết bao điều kỳ lạ, huyền linh vượt ra ngoài trí nghĩ của con người đã đến với ông. Tất cả những điều ấy, ông đã ghi chép lại, sắp xếp lại và bổ sung thêm bằng những kiến thức khoa học thực chứng. Không thể nào tin nổi điều phi thường đã đến với ông. Chỉ trong hai tháng ông đã viết xong một công trình khổng lồ “Tích hợp đa văn hóa đông tây”. Khi dòng cuối cùng của cuốn sách dừng lại, ông buông bút, thắp hương lên ban thờ bề trên.
- Thưa bề trên! Con đã hoàn thành công việc mà ngài giao phó...
*
- Con đang gặp điều hung dữ.
Giáo sư Phương đang đi bách bộ trên đường, bỗng bên tai ông vang lên một giọng nói trầm ấm, quen thuộc khiến ông giật bắn, như có ai đó đẩy ông vào một góc đường. Cũng lúc ấy, một chiếc xe tải bất thần lao vào chỗ ông vừa mới rời đi.
Giáo sư Phương hiểu rằng bề trên đã che chở cho ông. Nhưng điều làm ông kinh ngạc là dưới bánh xe tải như cuộn lên những tia khí đỏ tựa máu.
*
Sáng hôm sau, có tiếng gõ cửa. Trước mắt ông là một người đàn bà ngoài tuổi 40, nom vóc dáng khỏe mạnh, gọn gàng:
- Thưa thầy, các đức thánh sai con mời thầy đến dự buổi trò chuyện của các ngài ở đền Linh ứng ạ!
Giáo sư Phương thoáng chút e ngại. “Rõ ràng mình nghe bề trên dặn dò sợ có điều hung dữ. Hôm nay lại thấy một người lạ đến nói những lời bí ẩn. Hay là ma quỷ đóng vai người lương thiện...Trông kìa, vầng hào quang tỏa hồng xung quanh người ấy, rõ ràng phải là một kẻ chân tu... Nhưng mà không dễ tin thế được. Khối gì yêu tinh, quỷ sứ có phép thần thông, lừa mị cả các thánh thần...”
Lấy giọng bình thản, giáo sư Phương hỏi người đàn bà:
- Con tên gì?
- Dạ, con là Thanh Vân ạ!
Giáo sư Phương ngờ ngợ. “Vân! Sao cái tên này quen thế nhỉ?” Ông nhìn người đàn bà với một ánh mắt thân thiện hơn. Bỗng trong óc ông vụt hiện về một hình ảnh mờ mịt, xa lắc... “Dường như ở đâu đó, lúc nào đó mình đã gặp người này...”
- Con đợi ta một chút.
Một lát sau, Giáo sư phương theo người dẫn đường đến một ngôi đền cổ trầm tư trong một khu phố nhỏ. Người giữ đền là Ngọc Bảo, một ông già có mái tóc trắng như tơ, vầng chán rộng đeo một cặp kính lão dày, dáng vẻ trầm mặc. Ông ra tận cổng nghiêng mình kính cẩn chào đón giáo sư Phương:
- Kính mời thầy vào trong đền.
Trong đền, ai trông cũng nghiêm trang. Có cụ mặt nhỏ, chân dài, miệng rộng có lọn tóc trắng duy nhất trên đỉnh đầu, tiếng nói trong, sắc nhọn, hiệu là Thiên ngôn. Lại có cụ lưng khòng, mặt đỏ, râu dài tận ngực, hiệu là Trần Dương. Một người phụ nữ gầy gò, nom hiền lành, nhỏ nhẹ mặc áo quần hành lễ mớ ba, mớ bảy tên là ánh Tuyết và một phụ nữ khác mặc bộ đồ vàng, mọi người gọi là Bà Đồng Loan, ngồi im lặng trên chiếu chầu trước ban thờ phụ bên trái.
- Thưa thầy - Ngọc bảo chắp tay trước ngực nói với giáo sư Phương - đền thiêng hôm nay được đức Thánh Gióng chiếu cố về.
Giáo sư Phương thấy trong lòng dâng lên một niềm vui khó tả. Không ai trong số người được mời tới biết trước tin này. Mọi người, toàn những bậc trứ danh trong giới tâm linh mà lòng phần chấn như con trẻ.
Rồi ngọc Bảo quay sang mọi người, cất giọng nghiêm trang:
- Thưa quý vị! Giờ thiêng đã đến. Mời quý vị nghiêm trang hành lễ đón đức thánh.
Chín tiếng chuông thỉnh lên. Tất cả mọi người dâng hương lên điện thờ rồi quỳ xuống chiếu chầu, chắp tay trước ngực, dồn tất cả tinh lực hướng lên cao xanh nghênh đón đức thánh.
Bên ngoài, một đám mây vàng ngừng lại giữa nền trời. Trên ban thờ chín bát hương bỗng hóa. Một sắc hồng lan tỏa, hương thơm nức, khói trắng cuộn thành vòng rồi tỏa ra không gian mờ ảo.
Bà Đồng Loan quỳ ở góc trái điện thờ bỗng lúc lắc cái đầu, toàn thân run rẩy phát ra một giọng nói mạnh, sắc, uy nghiêm:
- Đức Thánh đã về. Các con hãy khắc ghi lời vàng ngọc của ngài.
Tất cả mọi người vái 3 vái bên ban thờ và nín thở chờ giây phút thiêng. Bỗng Trần Dương từ từ đứng dậy nhìn mọi người với con mắt nghiêm nghị nói:
- Hôm nay duyên thiêng kỳ ngộ, trời cho ta về đây có mấy lời căn dặn các con. Tổ tiên phúc dày, ân đức tràn đầy trong chín cõi, sơn hà muôn dặm đều có huyệt đạo trấn giữ, khí thiêng hội tụ mới có nhân tài hào kiệt độ thế, cứu đời, mang đến bằng an cho xã tắc, dẫu từ xưa máu đã tưới khắp sơn cùng thủy tận, thây đã phơi khắp từ chốn đô thành đến nơi rừng thẳm hoang vu.
Nay vận hội Thái dương đã sắp đến gần kề. Lửa đã tắt, binh đao đã dẹp. Nhưng lòng hung ác của thế gian vẫn chưa trừ diệt được hoàn toàn. Cuộc tranh đấu không có phút nào được ngơi nghỉ. Những kẻ ngoại bang còn bí mật đặt bùa yểm khắp núi sông ta. Xây dựng thế trận tâm linh hòng trấn áp các thần linh canh giữ núi sông ta từ nam chí bắc. Chúng tạo ra những loài lai tạp, nhiễu loạn các dòng giống, đưa vào cơ thể dân ta những mầm rối loạn, quái đản. Chúng dùng độc tố cho vào thức ăn, tạo ra nhiễm độc truyền đời. Cho nên khắp nơi nơi, đều có những kẻ thoái hóa thành những sinh linh quái dị mắt mờ, bụng to, lúc nào cũng đam mê lạc thú, mưu mô hại người, giành giật danh lợi. Chỗ nào cũng thấy bọn hổ báo, chó lợn đội lốt người. Đầu óc chúng gầm gừ, giận dữ những cơn giận thú vật.
Hỡi ôi! Trông cảnh lớp người sau lầm lạc, kẻ độc ác lên ngôi, người tài ba bị phế bỏ, dân lành bị hãm hại mà lòng ta đau đớn vô cùng. Mấy ngàn năm nay, từ độ dẹp tan quân giặc về trời lòng ta lúc nào cũng không rời xa trần thế. Nay ta dặn các con, hãy vững tin vào lẽ phải, các con sẽ được ban quyền phép để đương đầu với những thách thức hiểm nguy...”
Bỗng Trần Dương im lặng, từ từ quỳ xuống chắp tay trước ngực. Cả ngôi đền chìm vào một sự yên tĩnh lạ lùng. Trên điện thờ rực sáng hào quang. ánh hào quang lên cao dần, biến thành một lọn mây vàng bay về phía đền Hùng.
*
Sao chiều nay giáo sư Phương lại có nhiều tâm trạng đến vậy.
Đã lâu lắm rồi cuộc sống của ông xa lạ với những gì thực sự của một con người bình thường. Hàng ngày ông tập thiền, đối thoại với thánh thần, với người âm, viết sách và giảng giải cho những lớp học trò.
Không ít người xung quanh từ lâu đã chẳng thể nào hiểu được ông.
Có người tỏ ra “kính nhi viễn chi”. Mỗi khi gặp ông, họ thường hỏi về những chuyện kỳ lạ của cõi âm, về những dự báo các sự kiện lớn diễn ra trên thế giới... Ông nhiệt thành giải thích cho họ những gì mà ông thu nhận được bằng tâm linh. Nhưng, hầu hết trong số họ vẫn nửa tin, nửa ngờ. Bởi họ vẫn phải tin vào những gì họ nhìn thấy, những thông tin họ nghe được và dựa vào cái phương pháp luận thông thường. Trí nghĩ của họ có hạn, họ lại có quá nhiều việc phải làm, phải lo toan.
Một số khác thì ngạc nhiên, họ hỏi nhau rằng: vì cớ gì mà một nhà khoa học duy lý như ông lại trở thành một kẻ duy tâm gàn dở, chuyên kể ra những câu chuyện lạ lùng và viết ra những cuốn sách mà họ cho là hoàn toàn mù tịt, không thể hiểu và chứng minh được.
Thậm chí có người còn cho ông là phản động, ăn lương của kẻ thù để gieo rắc mê tín dị đoan, phá hoại nền văn hóa dân tộc...
*
Đã mấy ngày liền, dân trong khu phố không thấy giáo sư Phương đâu, họ đều xì xào, bàn tán. Có người còn lên phường báo cáo công an về sự mất tích kỳ lạ của ông. Mấy ngày sau, có một thông báo đưa về khu tập thể, rằng giáo sư Phương tâm thần không ổn định nên đã được đưa vào bệnh viện điều trị.
Đức, bác sỹ điều trị báo cáo với giáo sư viện trưởng Luyện:
- Thưa anh, theo yêu cầu của trên, chúng ta vừa nhận vào viện một người khá nổi tiếng, đó là giáo sư Phương, một nhà khoa học, gần đây đã chuyển sang nghiên cứu tâm linh. Theo kết luận của các cơ quan chức năng, thì người này có dấu hiệu không bình thường về thần kinh. Nhưng các xét nghiệm của chúng ta đều đưa đến kết luận rằng tình trạng sức khỏe của giáo sư Phương hoàn toàn bình thường. Dù vậy, đã rất nhiều lần chúng tôi kinh ngạc vì cách suy nghĩ và nói năng của ông ta thực sự là vô cùng kỳ lạ...
Viện trưởng Luyện nhìn vào gương mặt người đồng nghiệp trẻ tuổi vừa tu nghiệp ở nước ngoài về, với vẻ đầy băn khoăn, nghĩ ngợi. Lúc sau ông nói:
- Cơ chế thần kinh, tâm lý, ý thức và khả năng nhận cảm của con người có vô vàn bí ẩn. Tôi đề nghị anh theo dõi sát và phân tích mọi cử chỉ, hành động, phát ngôn của bệnh nhân này. Đây là một trường hợp đặc biệt, và chúng ta có thể có thêm những cơ sở mới để nghiên cứu...
- Thưa anh, tôi đã làm đúng những lời anh nói: Giáo sư Phương được thu xếp một buồng riêng, được các bác sỹ, y tá trực tiếp hỏi han... Ai cũng phải kinh ngạc vì sự lịch lãm, hiểu biết sâu rộng và lối sống gọn gàng, ngăn nắp của giáo sư Phương. Ông ấy vẫn đọc sách báo, ghi chép tư liệu và tập thiền ban đêm. Ông ấy cũng tiếp xúc với các bệnh nhân khác và nói rằng: Các bệnh nhân bị tâm thần nói chung, do bị rối loạn vận hành của các luân xa, dẫn đến rối loạn cơ chế thần kinh, rối loạn trường sinh học, không làm chủ được suy nghĩ, mất khả năng phòng vệ cho nên chược khí, tà khí nhập vào, phá hoại và làm rách vầng hào quang lương tri, linh hồn người bệnh bị phân tách, tan rã, thú tính nổi lên chi phối và hủy hoại người bệnh. Ông ấy nói, ông ấy sẽ cùng chúng ta nghiên cứu và góp phần đưa ra một phương pháp chữa bệnh mới.
Viện trưởng mở to đôi mắt kinh ngạc nhìn bác sỹ Đức:
- Có thực ông ta nói như vậy không?
- Vâng!
- Anh đã đọc tài liệu nào phân tích về bệnh lý tâm thần theo hướng đó chưa?
- Dạ chưa!
- Thực kỳ lạ. Các anh chăm sóc ông ta chu đáo, tôi sẽ gặp ông ta ngay chiều nay.
Bác sỹ điều trị ra khỏi, viện trưởng vẫn chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trong phòng... 25 năm trước, giáo sư Luyện ông tốt nghiệp đại học y khoa ở Liên Xô, hăm hở đi vào đời. Ông muốn cứu vớt những bệnh nhân của ông khỏi căn bệnh hiểm nghèo. Thế mà, suốt cả thời gian dài dằng dặc một phần tư thế kỷ đó, dù đã tham khảo nhiều sách vở, đi đến nhiều nơi, tiếp xúc và suy nghị những phương cách mới, nhưng ông vẫn thấy bất lực. Con đường nghiên cứu tâm thần con người càng lúc càng bí ẩn... Bao nhiêu đêm ông thức trắng. Bên tai ông hiện lên những lời nói lúc eo éo, lúc đục trầm, đứt đoạn, hỗn độn, vô nghĩa của các bệnh nhân. Những gương mặt hom hoem, bẩn thỉu, những ánh mắt đờ đẫn, những mái tóc rối bù và những hành động điên cuồng không thể nào kiểm soát... Và những cái chết... Những người già, người trẻ, gái, trai... Những cái chết vô lý và vô nghĩa... Là một người thầy thuốc, nhìn đồng loại điên loạn, tự hủy hoại ông không thể nào cầm lòng được...
Từ lâu Giáo sư Luyện đã suy nghĩ về phương pháp điều trị mới... Ông nhận ra rằng, thế giới đang bước vào một thời kỳ mà các căn bệnh về tâm thần, về thần kinh tăng lên không ngừng. Nếu chỉ dựa vào cách lý giải cũ về hiện tượng tăng đột biến của các chứng bệnh trên, rằng áp lực của một xã hội vận hành quá nhanh đã làm sụp đổ, rối loạn tinh thần con người, đưa đến những căn bệnh ấy thì chưa đầy đủ, chưa thỏa đáng. Rõ ràng, có một cái gì bí ẩn nữa... Cơ chế vận hành của trí não, của tâm linh con người là một điều huyền bí vô tận. Vậy thì, tại sao người ta lại dễ dàng đi đến những kết luận lười biếng và gạt bỏ những hiện tượng mà họ không có khả năng thấu hiểu... Đây là một cơ hội... Một cơ hội hiếm hoi trong cuộc đời nghiên cứu khoa học của ông. Ông phải chớp lấy...
Giáo sư Luyện bước ra khỏi phòng làm việc, theo dãy hành lang hẹp đi về phòng bệnh nhân. Vẳng bên tai ông những tiếng cười man dại, những tiếng khóc méo mó. Có tiếng chân chạy, có tiếng vật gì đó vỡ nát... Các bác sỹ và y tá điều trị có mặt kịp thời cách ly bệnh nhân đang tụ lại thành một đám. Một người gầy đét, tiều tụy khóc tru tréo, gương mặt méo mó, một vệt máu nhuộm đỏ nửa mặt bên trái.
- Có việc gì?
- Thưa viện trưởng, các bệnh nhân đánh nhau. -Một y tá đáp lời.
- Cách ly các bệnh nhân hành hung người khác. Không để tình trạng này tái diễn.
Nói rồi viện trưởng đi thẳng xuống phòng giáo sư Phương:
- Được tin giáo sư có mặt ở đây... Tôi có mong muốn được tiếp chuyện với giáo sư. Bác sỹ Đức đã trình bày với tôi những kiến giải độc đáo của giáo sư về bệnh tâm thần và ý nguyện của giáo sư về việc giúp bệnh viện cứu chữa bệnh nhân.
- Phương pháp của tôi bắt đầu từ sự phân tích riêng biệt về căn nguyên của căn bệnh theo phương pháp tâm linh học. Nguyên lý của nó là dùng sức mạnh của lương tri và trường sinh học để hàn vá vầng hào quang lương tri bao bọc xung quanh con người. Sử dụng các bí quyết của tâm linh học để xua đuổi tà khí, chược khí, tiêu diệt ma quỷ vây bám xung quanh, duy trì các thế tập thể dục đặc biệt và tập thiền, tiến hành các bước khai mở luân xa để làm cho con người hồi sinh. Có chế độ ăn uống và nơi ở thoáng mát cùng các sách báo, văn nghệ để làm tâm trí bệnh nhân được thư thái...
Giáo sư Phương ngừng lời, nhìn như thăm dò vào gương mặt đăm chiêu của giáo sư Luyện. Giáo sư Luyện từ từ tiến lại gần, cúi người đỡ lấy bàn tay giáo sư Phương:
- Tôi đã biết đến danh tiếng của giáo sư qua các công trình khoa học nổi tiếng ở trường đại học trước đây và qua những học trò nổi tiếng của ông. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên trong đời tôi được nghe một người ngoài ngành y nói về phương pháp chữa bệnh tâm thần kỳ diệu đến như vậy... thực là kỳ diệu...
ở phòng bên cạnh, những tiếng khóc tru tréo, những tiếng cười man dại, những tiếng chửi nhau thậm tệ vẫn dội vào.
- Giáo sư là người có lương tâm. Tôi xem, vầng hào quang trên đầu ông rực sáng. - Giáo sư Phương nói với viện trưởng Luyện. Hai người chia tay sau cái bắt tay thân thiện.
Từ buổi đó, một phương pháp chữa bệnh đặc biệt kết hợp các liệu pháp thông thường và tâm linh học đã được thí nghiệm. Những nhà tâm linh danh tiếng theo lời mời của giáo sư Phương đều lần lượt tham gia vào công việc trọng đại ấy. Ngày ngày người ta thấy Thiên Ngôn, Trần Dương... lần lượt xuất hiện...
*
Giáo sư Phương tọa thiền.
Khi đêm đen trở nên vô cùng tĩnh lặng, khi mọi giác quan và trí não từ từ khép lại, dẫn ông vào một thế giới mờ ảo, thẳm sâu, huyền bí, tiềm thức ông dường như mở ra một cánh cổng bí mật và phát ra một tín hiệu kết nối cõi thẳm cùng vi diệu của vũ trụ.
Bên tai ông dường như vang lên lời "Hịch tướng sỹ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Cảnh hào hùng, huyên náo, chí xung thiên của vạn vạn người hòa thành một dòng thác đấu tranh chống quân Nguyên. Theo mệnh lệnh của vua Trần Nhân Tông và tiết chế tướng quân Trần Hưng Đạo, mọi người theo kế “vườn không, nhà trống” rời Thăng Long đến các làng quê, vào tận núi rừng. Giáo sư Phương nhận ra... ấy là một nhà nho già yếu, râu dài, tóc trắng xóa, sau khi tiễn người con trai ra trận, quay về ông đốt nhà và bước thấp bước cao trên triền đê đi vào miền đất cổ phía tây thành. Từ phương bắc, dường như từng đợt bụi mù trời theo gió ùa về, mang theo mùi hôi thối của máu và tử thi. Cả bầu trời xám như chì, một âm thanh đục mờ rền rĩ từ các đám mây sa xuống... tựa tiếng khóc của các linh hồn.
Thanh Vân, người đệ tử của Thiên Ngôn, vừa phát khởi các luân xa, chính khoảnh khắc đó cũng được tâm linh đưa về quá khứ.
Cô bé chưa đầy 10 tuổi gầy gò, áo rách toác, xách trên tay một tay nải, bị lạc mất bố mẹ, vừa chạy vừa khóc... Cả bầu trời như sắp sụp xuống, đất dưới chân rung chuyển, mọi vật ảo mờ, nhòe động, ngả nghiêng. Đứa bé chạy qua một triền đê. Ngoài đê, một dòng sông đỏ ngầu, hung dữ đang cuộn lên. Dường như đó là một dòng sông máu... Thỉnh thoảng lại thấy những xác người, ngựa trôi dạt về hạ lưu.
Đứa bé gào khóc gọi cha, gọi mẹ. Muôn vàn niềm sợ hãi ập đến như muốn nghiền nát trái tim và trí não non tơ ấy. Đứa bé cứ chạy, cứ chạy... Bỗng phía trước hiện lên hình ảnh một cụ già râu tóc trắng... Đứa bé chỉ nhìn được thế, rồi trời đất tối sầm. Nó gục xuống. Bất động dưới chân cụ già...
Giáo sư Phương cảm nhận rõ một luồng điện như lóe lên từ phía sau. Hình ảnh đứa trẻ lạc với chiếc áo nâu và cái tay nải đổ gục xuống làm ran động tâm trí ông. Cụ già râu tóc trắng ủ đứa bé nằm ngay ngắn trên vệ cỏ ven đê. Ông lấy mấy cánh hoa màu trắng đặt lên mũi đứa bé, lúc sau, mùi thơm đã đánh thức nó dậy:
- Cháu tên là gì?
- Dạ cháu là Vân ạ!
- Bố mẹ cháu đâu?
- Bố cháu đi đánh giặc Nguyên. Mẹ cháu đi tản cư cùng các em cháu và bà con làng xóm. Cháu bị lạc... Ông ơi! Ông giúp cháu tìm bố mẹ cháu... -Đứa bé thút thít khóc. Đôi mắt đỏ hoe, đôi môi tái xám.
- Cháu đừng lo, ta sẽ giúp cháu tìm ra bố mẹ.
Nói rồi, cụ già dẫn đứa bé đi vào một khu làng cổ rợp bóng cổ thụ. Xa xa là một dãy núi nhấp nhô, những hang động huyền bí... Cụ nói:
- Đây là đất thiêng. Có vị thần thiêng của sông núi nước Nam độ trì, che chở...
Thanh Vân thấy mình được cụ già chăm sóc và lớn dần lên. Quân giặc bị đánh đuổi, đất nước thanh bình, khắp làng mạc vang lời ca tiếng hát và người lính trở về với gia đình, những ai ly tán tìm về quê cha đất tổ. Niềm vui sum họp, tiếng hát mừng chiến thắng ngân vang khắp núi rừng, thôn cùng, ngõ tận. Nhưng bố mẹ Vân thì vĩnh viễn không về.
Một hôm cụ già nói:
- Ta có đứa con trai hy sinh ở trận mạc. Lòng ta héo hon. Từ ngày gặp con, ta đã coi con như con đẻ của mình. Trước ta định rằng nếu con trai ta về, ta hỏi con làm vợ cho nó. Nhưng mệnh nó đã vậy, con cũng đã lớn, ta phải đứng ra thay mặt cha mẹ con mà lo chuyện hôn nhân cho con...
Vân khóc nấc lên:
- Cha ơi! Cha cho con gọi như vậy... Từ lâu, con đã coi cha như cha đẻ của mình. Nay sức cha già yếu... Con muốn được sớm hôm hầu cha... Nếu con lấy chồng, lấy ai chăm sóc cho cha đây...
Cụ già nghiêm giọng:
- Việc hôn nhân của con ta đã liệu. Con đừng có nhiều lời...
Mấy hôm sau, Vân về nhà chồng...
Giáo sư Phương: Cụ già ốm nặng nhưng cụ gượng dậy thắp hương khấn vái thiên địa và các bậc tiền nhân. Rồi cụ già mê lịm đi. Trong cơn mơ, cụ thấy một hành tinh lạ bay qua trái đất. Hành tinh nhỏ như một phi thuyền trên đó toàn những nhà thông thái. Một trong số đó là nhà toán học chuyên tính toán các bước dịch chuyển của vũ trụ và sự luân chuyển của linh hồn tạo vật từ kiếp này qua kiếp khác. Ông ta có đôi mắt sáng ngời, nhìn vào cụ già nói:
- Ta là thân trước của ngươi!
Lời nói kỳ dị ấy như có ánh sáng làm lóe mắt và thắp sáng cả một vùng không gian mênh mông. Rồi hành tinh nhỏ đi qua, người có đôi mắt sáng cũng biến mất vĩnh viễn, không bao giờ quay lại.
Thanh Vân: Hình ảnh cụ già dần dần nhòe đi, rồi biến thành một làn khói trắng bay lên không trung. Cả không gian sực nức một mùi hương kỳ diệu.
Giáo sư Phương: Một cậu bé sinh ra ở vùng kinh đô cũ hoang phế. Những bức tường thành rêu phủ. Những cung điện nguy nga bỏ trống. Hàng ngày, cậu đi nhặt lại những viên đá cũ, ghép lại hình những con rồng vỡ, đọc và ghi chép những câu đối.
Cậu bé lớn nhanh như thổi. Chẳng bao lâu, cậu trở thành một trạng nguyên tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng đất nước loạn lạc, quan lại đục nước béo cò. Cậu noi gương thầy là Trạng trình, Nguyễn Bỉnh Khiêm, trả mũ áo về quê. Trạng Nguyên ở trong một căn nhà nhỏ dạy học trò, nghiên cứu bước dịch chuyển của thế thời và sáng tác văn thơ... Một hôm, ông nhìn vào gương mặt đứa con gái cưng, năm đó mới sáu tuổi, bỗng ông thấy quen quen... Và lạ sao, ông bỗng nhớ lại, hàng ngày con gái ông thường đi hái những bông hoa trắng muốt về cắm trong nhà. Ông hỏi:
- Sao con lại hay cắm hoa trắng vậy?
- Thưa cha, con yêu loài hoa ấy.. Cứ thấy nó là con cảm thấy khỏe hơn... Đêm qua con nằm mơ, có người nói với con, chính những bông hoa trắng này đã cứu con thoát chết... con mang ơn nó...
Trạng Nguyên nghe con nói, lòng bồi hồi, trí nhớ ông như hiện về một hình ảnh mơ hồ xa xăm... ở đâu đó... Ông đã gặp một đứa trẻ... Những cánh hoa trắng nở đầy trên một triền đê... Và hương... hương tinh khiết lan vào trong hơi thở ông...
Thanh Vân: Cô gái nhỏ cầm lấy bàn tay cha:
- Khi con lớn, cha dạy con học chữ nhé! Con muốn viết về những bông hoa trắng kia...
- Con viết thế nào?
- Con viết chuyện cổ tích... Ngày xửa, ngày xưa... Cô bé bị lạc trong một đêm chạy giặc. Cô bé mệt quá, lại sợ hãi mà ngất đi. Một vị thần râu tóc trắng như cước đã dùng những cánh hoa trắng đặt lên mũi cô bé. Hương thơm của hoa đã dần dần làm cô tỉnh dậy...
Trạng Nguyên kinh ngạc:
- Ai dạy cho con chuyện này?
- Con tự nghĩ ra... Tự nhiên con nghĩ ra... và con bỗng thấy đứa trẻ đó là con... còn cha là cụ già đã cứu con trong tiền kiếp...
Quan trạng ôm con gái vào lòng:
- Con! Con hãy tin là thực... Chuyện đó đã trên 300 năm rồi...
Giáo sư Phương: Quan trạng trầm tư nhìn lên những vì sao xa lắc. Cái thế giới mênh mông, huyền thẳm kia không chỉ có hư vô và chết chóc. ở đó còn có những linh hồn...
Một luồng điện chạy dọc xương sống ông...
*
Khi luồng linh khí biến mất, giáo sư Phương xả thiền từ từ bước ra trời đêm. Lòng ông bâng khuâng. Thanh Vân! Cả cái tên và gương mặt người con gái ông đã gặp lại trong ký ức huyền linh về tiền kiếp giống hệt với người phụ nữ mời ông tới Đền Linh ứng dạo trước.
- Ta phải gặp lại con ta... - ông tự thốt lên khi chỉ có một mình.
Giáo sư Phương đến phòng viện trưởng Luyện vào buỏi sáng hôm sau:
- Tôi còn nhiều việc phải làm. Anh biết đấy, tôi không hề bị bệnh như người ta vẫn vu cáo... Vậy thì anh hãy để tôi ra khỏi đây.
- Nhưng thưa anh- giáo sư Luyện giọng đầy e ngại- các bệnh nhân đang được thí nghiệm chữa bện theo phương pháp mà anh nghiên cứu, kết quả đang được khẳng định, nếu anh đi e rằng sẽ có những sai sót dẫn đến điều trị lệch hướng.
- Không sao, tôi sẽ thường xuyên quay lại. Chữa bệnh cho những người đau khổ ấy cũng là nhiệm vụ của tôi trong cuộc đời này.
Sau khi hội ý, tập thể các bác sỹ bệnh viện kết luận"Giáo sư Phương hoàn toàn không bị bệnh tâm thần". Thế là ông được tự do trở về nhà. Giới tâm linh tỏ ra vui mừng trước sự kiện này. Họ lần lượt kéo đến yết kiến vị giáo sư già.
Trần Dương, Ngọc Bảo, Thiên Ngôn đứng một hàng, phía sau là Thanh Vân và bà đồng Loan đứng cúi đầu cung kính.
- Xin cám ơn các vị. Chúng ta là những người trần nhưng mang một thiên mệnh, không ít người trong chúng ta từng có duyên gặp nhau ở kiếp trước. Nhờ công sức của các vị, nền tâm linh của dân tộc, của tổ tiên ta ngày càng sâu rễ, bền gốc.
Giáo sư Phương đi xuống cạnh Thanh Vân:
- Thưa các vị, hôm nay trong ngày hội ngộ này tôi cũng xin báo cho quý vị một tin vui, đứa con gái của tôi từ trong kiếp trước bây giờ cũng có mặt ở đây. Thực đúng là hạnh ngộ!
Mọi người đổ dồn vè phía Thanh Vân.
- Đây quả là một sự sắp đặt của trời đất. Cha con ta đã gặp nhau 3 lần sau ba lần hóa kiếp trong bảy trăm năm.
- Cha!
Thanh Vân chỉ thốt lên được có thế rồi nấc lên.
*
Từ ngày ra khỏi bện biện tâm thần, sức khỏe của giáo sư Phương cũng ngày một yếu đi. Chính vì vậy mà Thanh Vân thường phải đèo ông đi giảng giải tại các đền chùa, các trung tâm nghiên cứu khoa học, và các trường đại học. Cô còn ghi chép lại những lời ông nói, giúp ông hoàn chỉnh các bản thảo.
Một hôm, Thanh Vân nói với giáo sư Phương:
- Con thực không ngờ, thần linh lại cho con được gặp lại cha trong những ngày tháng cuối đời của cha. Được giúp cha, con thấy mình hạnh phúc và sống có ý nghĩa.
Giáo sư Phương nhìn người con từ trong kiếp trước của mình, ông thấy trong lòng ấm áp lạ thường.
- Con biết đấy, con người đâu có đơn lẻ. Con người sinh ra trong thế gian đâu chỉ có ràng buộc bởi huyết thống mà còn bởi tâm linh. Trong vô lượng kiếp, con người đã xe kết nên biết bao tơ duyên, bao tình nghĩa. Khi chuyển kiếp, vẫn thường có những cuộc hạnh ngộ như ta và con đây. Cha vốn là một nhà khoa học ở hành tinh khác, đầu thai xuống trái đất từ thế kỷ mười ba. Thế kỷ mười sáu cha trở lại trái đất lần thứ hai. Và thế kỷ hai mươi, cha trở lại lần thứ ba. Trong ba lần đó, cha con ta đều gặp lại. Đó là một chuyện hy hữu trong trời đất. Cha xuống trái đất lần này mang một trọng trách với con người. Thần linh cho con xuống để giúp cha là một sự chiếu cố lớn nhưng cũng là một cách để con người trong cõi thế gian vốn tâm tư còn bị che lấp bởi bao điều nghi hoặc có thêm những hình ảnh cụ thể mà tin tưởng, thấu hiểu thêm những đạo lý cao xa của trời đất.
Bỗng giáo sư Phương trầm giọng, ông nhìn Thanh Vân trìu mến:
- Chỉ tiếc rằng, cha con ta không còn bên nhau được lâu...
- Chuyện gì vậy cha?
- Mệnh của cha ở thế gian sắp hết. Dài lắm cũng chỉ một năm nữa. Bề trên sắp gọi cha về. Vậy nên ngay từ đêm nay cha bắt đầu phải viết một công trình cuối cùng " Sứ mệnh đức Di Lặc". Cha được bề trên hé lộ những bí ẩn của thời đại Dương Minh, các thần linh cũng sẽ giúp cha
Thanh Vân không thể nghe hết lời giáo sư Phương. Một nỗi xúc động mãnh liệt dâng tràn, khiến cô ứa nước mắt.
- Có đến thì có đi. Có gặp gỡ thì có chia ly. Mọi điều trong thế gian đều thay đổi. Con tu hành cần phải hiểu đạo lý ấy.
*
Ngày ngày giáo sư Phương miệt mài trên bàn viết. Như có một luồng điện bí ẩn từ cao xanh vũ trụ truyền thẳng vào trí não ông, tiếp cho ông một sức mạnh phi thường mở toang những cánh cửa thần bí của vũ trụ, của thế giới thần linh và con người. Hình ảnh Đức Di Lặc và sứ mện của Ngài, cũng như những hé lộ về bước thăng trầm của lịch sử để đi đến kỷ nguyên Dương Minh.
Công trình kỳ lạ ấy dày đến hai ngàn trang đã được hoàn thành.
Một đêm khuya, linh hồn giáo sư Phương theo một tia sáng lạ bay lên cao. Những vùng không gian đen, vàng, xanh, đỏ kế tiếp nhau lùi lại phía sau.
Cuối cùng ông nhập vào một cõi sáng trắng...
Xóm Hồng- Hà Nội
Ngày 1-4-2004 đến 22-2-2005
Hoa trên mộ
“Trái tim con nghiêng giấc ngủ về phía mặt trời”
(Lãng Thanh)
Dạo ấy tôi sống tại một ngôi làng cổ ở Hà Thành. Mỗi buổi chiều muộn bạn bè thường kéo nhau đến. Chúng tôi đàm đạo chuyện văn chương, chuyện thế sự. Có nhiều người sau đó đã đi du học ở nước ngoài, bao tư tưởng từ cái làng bé nhỏ, căn nhà rêu phong, cái sân có giàn hoa giấy rực đỏ đã tỏa đi khắp phương trời. ở đó có những tình bạn đã trở thành tri kỷ, những tình yêu chớm hé, cả sự hiểu lầm, những duyên tình lầm lỡ đến nỗi phải nuối tiếc suốt cả cuộc đời.
Cho đến bây giờ tôi vẫn oặn lòng thương nhớ kỷ niệm xưa. Chúng tôi như những con chim đang bay, say sưa nghĩ về những bến bờ xa lắc, những viễn cảnh huy hoàng. Chỉ có mấy chàng thi sỹ là hay buồn. Những cơn buồn khó hiểu, tưởng chừng vô cớ, như gió lạnh bất thần ập đến trong tâm hồn, như mây đen bỗng giăng mắc cả bầu trời.
Mỗi lần tụ họp anh em, Lãng không hề sôi nổi. Cậu lắng nghe nhiều hơn. Sau khi tốt nghiệp đại học, Lãng về quê công tác ở ngân hàng đầu tư của tỉnh. Cậu nói với tôi:
-Văn chương là niềm đam mê, là khát vọng lớn nhất đời em, nhưng bây giờ mình còn trẻ cũng phải lo kiếm một ít tiền. Đường đời xa lắc, mà xưa nay văn chương có nuôi nổi con người đâu.
Tôi hiểu rằng, Lãng đã chọn một con đường lập nghiệp riêng cho mình. Thời bây giờ đồng tiền trở thành thống soái. Khối gì kẻ vì tiền mà lóa mắt. Khối gì kẻ ở trong những biệt thự xa hoa, sung sướng như các ông hoàng, tiền bạc gửi khắp các ngân hàng thế giới. Nhưng cũng có người đói dài, chui rúc trong những căn hà ổ chuột hôi hám mùi nước cống. Có người ốm không có tiền thuốc thang, chết không có tiền làm tang ma. Có trẻ em bị mang bán cho nước ngoài, có phụ nữ tuyệt đường sống phải làm nghề bán thân nuôi miệng. Lãng phải lo lắng cho cái lẽ sinh tồn của mình cũng là điều dễ hiểu.
Bẵng đi thời gian khá dài, một buổi tối đầy trăng, Lãng xuất hiện trước khung cửa gỗ ải mục của tôi. Hôm đó tôi cũng có nhiều tâm trạng. Một mối tình đã rời bỏ tôi mà đi.
Lãng trầm lặng nhấp một ngụm trà sen.
- Anh có thơ mới không?
Tôi đưa cho Lãng tờ báo
- Có bài đăng đây. Hơi buồn...
Lãng đọc bài thơ và nhắc lại
Quá khứ đuổi theo tôi trên chặng đường định mệnh
Tình yêu tựa vầng trăng nát vỡ dưới chân
Rồi Lãng hỏi:
- Chuyện của anh ra sao?
- Người ấy... mất hút rồi bên trời Tây...
Giọng Lãng đượm buồn:
- Em vẫn nhớ ngày tiễn chị ấy đi... ai cũng nghĩ chị ấy sẽ về. Bao nhiêu là hy vọng... Thôi, đường đời khó lường...
Lãng lặng im. Sự im lặng kéo dài, đôi mắt Lãng tối sầm.
- Cậu sao vậy?
Lãng thở dài:
- Em cũng đang có chuyện buồn... Những lúc như thế này chỉ biết vục đầu vào thơ. Thơ như nguồn nước cho mình uống. Thơ như người mẹ dịu dàng bao bọc mình.
Rồi Lãng nhìn ra xa, một không gian êm đềm như trong cõi mộng. Đôi mắt đầy tư lự, bỗng cậu thốt lên như thể vừa phát hiện ra một điều gì lạ lắm:
- Nếu không có các thi nhân thì con người sẽ sống ra sao nhỉ?
Khi sự im lặng nuốt mất lời Lãng thì tôi mới chậm chạp thốt lên:
- Chịu... chúng ta khó mà hiểu được con người sẽ sống thế nào nếu thiếu vắng các thi nhân. Thế giới này không thi ca có thể sẽ thêm nhiều súng ống, gươm giáo giết người...
Sau khoảng lặng, tôi lại hỏi:
- Lãng... nghĩa là sóng. Sao cậu lại chọn sóng làm tên cho mình?
- Em cũng không biết nữa. Có lẽ mình đến với thế gian đã mang theo một cái tên từ thế giới khác.
- Cậu có nghĩ về tiền kiếp?
- Thỉnh thoảng em cũng nghĩ đến điều đó.
Đôi mắt Lãng như giọt mực đen.
- Có thể kiếp trước anh em mình có duyên nợ gì cũng nên.
- Em cũng nghĩ vậy. à, mà... hôm qua em nằm mơ lạ quá.
- Làm sao?
- Có một vì sao vỡ ra. Một vì sao rất nhỏ, rực sáng. Không hiểu sao nó nứt đôi... rồi rụng xuống một góc trời. Hàng ngàn mảnh vỡ của nó tung bắn ra như những mảnh vàng nát vụn. Bên dưới là biển. Biển chồm lên những con sóng nhuốm đỏ một màu máu. Dường như có một tiếng nổ. Nhưng tiếng nổ ấy không phát ra dữ dội mà biến thành một âm thanh du dương như lời ru phát ra từ các bộ xương... Phút chốc em thấy mình đứng bên một bộ xương. Rồi lại thấy mình đứng trước biển. Những con sóng bỗng nhiên cứng lại, gồ lên như những nếp nhăn trên trán một vị thần... Em thấy mình được những thiên thần xuống đón. Em bay qua những tầng cao bạt ngàn. Vũ trụ rộng mênh mông và yên tĩnh cũng mênh mông.
- Thôi đừng kể nữa, mình thấy như một điềm gở.
- Anh chẳng cần lo lắng thế. Em giật mình tỉnh dậy, bỗng thấy lòng nôn nao. Lúc ấy em nghĩ đến thơ. Và em cũng nghĩ đến Hàn Mặc Tử. Không hiểu sao nước Nam mình lại có thể sinh ra một thiên tài kỳ lạ như vậy... Không có Hàn Mặc Tử, nền thơ của chúng ta sẽ ngèo nàn đi biết bao! Em ước giá mình có thể sinh ra cùng thời với Hàn Mặc Tử để được trò chuyện, để được tỏ lòng ngưỡng mộ với ông. Em cũng ước, giá sau này chết đi, mình có thể gặp để tỏ tấm lòng biết ơn ông... Không có ông, làm sao chúng ta có thể nhìn thấy bóng nguyệt trần truồng tắm, làm sao chúng ta thấy được trăng nằm sóng soãi trên cành liễu, làm sao chúng ta nhìn nghe thấy tiếng vàng rơi chìm nghỉm xuống hư vô, làm sao chúng ta có thể nhìn xuyên các tầng thế giới... Em nghĩ về Hàn... Nỗi đau thương của ông, niềm căm hận của ông, sự da diết yêu đời của ông... được chưng cất trong những câu thơ thần diệu...
- Nhưng mà ... đừng nói những chuyện buồn nữa...
- Dạo này em có cảm giác nhớ nhớ thế nào ấy...
- Nhớ gì kia?
- Nhớ cuộc sống.
- Cậu lẩn thẩn rồi.
- Có một cái gì không bình thường. Em cũng hay sợ. Em thấy con người ác quá. Ngày nào trên báo chí cũng đăng tin giết người, tai nạn giao thông, chuyện buôn bán phụ nữ, chuyện ăn cắp cá bộ phận của tử thi. Khắp thể giới, những dư âm cuộc sống dội về căn phòng nhỏ của mình làm em khó ngủ. Em không biết con người sẽ đi về đâu, cuộc sống tương lai sẽ thế nào.
Thú thực, cũng như Lãng, con người càng ngày càng làm cho tôi thêm khó hiểu về nó. Con người dường như đang xa rời với những mục tiêu cao cả mà từ ngàn xưa nó theo đuổi. Những tội ác dã man khắp nơi trên thế giới ngày ngày cứ diễn ra như một điệp khúc bất tận...
- Em hay tưởng tượng ra một lưỡi gươm cắt ngang cổ mình. Máu từ đó trào ra. Em như sa xuống một vực thẳm. Rồi từ đó, em bay lên bồng bềnh chiêm ngưỡng những đám mây ngũ sắc, những thiên thần dang cánh vẫy em. Những giọng hát du dương cất cao hơn tiếng khóc của một ngày sắp tàn. Nhưng em tiếc mình không được nhìn thấy mẹ lúc ấy...
- Hôm nay cậu bị làm sao vậy? Đã bảo không nói những chuyện buồn nữa mà...
Lãng trầm tư.
- Nhưng hôm nay em cứ muốn nói với anh thật nhiều- Lãng vuốt lại những sợi tóc xòa xuống trán- Người con gái mà em yêu ấy mà, cô ấy đã từ chối tình yêu của em.
- Vẫn chuyện buồn. Cô ấy đã đối xử với cậu thế nào?
- Im lặng. Chỉ thế thôi và không muốn gặp mặt. Nhưng lòng em thì như lửa đốt. Làm sao em có thể quên được đây. Trong mỗi giấc mơ em đều thấy bạn ấy nhìn em. Làn môi hình quả tim nở ra... làn môi đỏ như máu...
- Lại máu...
- Bạn ấy mặc những chiếc áo dài trắng. Mái tóc đổ xuống như một dải tang đen. Đôi mắt trong và ướt như mới khóc...
Để câu chuyện không sa vào buồn não, tôi hỏi Lãng:
- Này, cậu đã hôn con gái bao giờ chưa?
- Rồi... nhưng chỉ là trong những giấc mơ thôi...
- Mơ... lúc nào cũng mơ... Đúng là thi sỹ.
Lãng dường như hé một nét cười. Gương mặt thoáng hiện vẻ thẹn thùng.
- Tên của cô ấy là gì
- Tuyết. Một cái tên vừa trắng đến tinh khiết, lại lạnh đến rợn người.
- Nói thật, mình có cảm giác tình yêu ấy không có thực. Có lẽ cậu tưởng tượng ra thôi...
- Tưởng tượng cũng là một hình thức của tồn tại.
- Mình muốn cậu hiểu về tình yêu thực hơn, giản dị hơn. Nếu cậu đuổi theo những ảo ảnh, thì làm sao thoát được nỗi đau và sự thất vọng?
- Thế nào là ảo ảnh? - Lãng quay sang cự nự tôi. - Thế anh nghĩ những cuộc cải cách, những tòa tháp chọc trời kia, những tòa lâu đài nọ... là hiện thực ư? Em không tin nó bền vững như người ta vẫn nghĩ. Những trận động đất, những cơn sóng thần, những cuộc chiến tranh hạt nhân, những vụ khủng bố bất ngờ... tất cả bị tiêu hủy, tất cả sẽ biến mất trong một nháy mắt. Cả cái mạng sống của chúng ta nữa... cũng sẽ tan vào hư vô không biết lúc nào. Em nghĩ rằng không nên coi thường những giấc mơ, những niềm mong ước thanh cao và đau đớn, những niềm tin tưởng chừng mong manh của con người... Điều đó đôi khi còn tồn tại lâu hơn cả bản thân chúng ta.
- Mình chịu cậu. Nhưng ngoài Tuyết, cậu có một người con gái nào khác không?
- Có một người, không phải tình yêu mà là một người tri kỷ. Bạn ấy như một người ruột thịt. Như một vị ân nhân. Viết được một câu thơ hay, em cũng đến để đọc cho bạn ấy nghe. Bao giờ bạn ấy cũng lặng lẽ và sau đó là một lời phẩm bình dung dị hoặc một lời khuyên. Mà bạn ấy khuyên mới dịu dàng làm sao! Mỗi lúc buồn phiền, đau dớn em cũng lại tìm đến bên bạn ấy. Bạn ấy lặng lẽ nghe em giãi bày. Bạn ấy vỗ về an ủi mỗi khi em rũ rượi khóc vì một nỗi đau, một niềm mất mát... Tên bạn ấy là Ngọc Trâm.
Lãng bị xô dạt vào kỷ niệm.
- Dù bạn ấy ở xa, nhưng mỗi khi nhắc đến tên, em cứ thấy hình ảnh bạn ấy hiện lên trước mắt.
- Vậy mà... sao cậu không nghĩ đó là một tình yêu đích thực. Tình yêu có phải là một cái gì ảo mờ, sương khói đâu?
Phút chốc Lãng buồn lặng. Cậu buông một tiếng thở dài, người xọp đi tựa một quả bóng xì hơi.
- Em cũng không biết nữa. Đã mấy năm rồi... Từ khi em mười sáu, mười bảy tuổi... Thấm thoắt đã tám năm trời... Không có Ngọc Trâm, em không biết mình sẽ thế nào. Nhưng tình yêu thì... Không... Em không dám nghĩ đến điều đó.
Phút chốc những giọt nước mắt lặng lẽ tuôn xuống gương mặt gầy của Lãng. Dường như có một nỗi đau không cùng đang xoáy vặn trái tim người thi sỹ. Lãng gạt nước mắt, đứng lên:
- Tạm biệt anh.
Tôi tiễn Lãng thêm một đoạn đường. Vầng trăng tưới xuống không gian một màu trắng sữa.
*
Lãng sinh ra trong một gia đình công chức bậc trung.
Khi nhỏ Lãng hay ốm vặt. Cậu học giỏi, thông minh khác thường. Thỉnh thoảng cậu lại nói với bạn, giọng vui vẻ như một câu nói đùa, rằng cậu đến từ một vì sao trên dải thiên hà, một ngày cậu sẽ về trên đó.
Khi cậu lớn dần lên, những ý nghĩ kỳ cục bị chìm vào quên lãng. Chỉ có những câu thơ là hay nhắc cậu trở về với những ban sơ miền thơ ấu...
*
Ngọc Trâm đang giở những trang nhật ký học trò đọc lại những nét bút của Lãng thì có tiếng chuông gọi cửa. Lãng xuất hiện. Trâm mừng rỡ:
- Lâu không thấy cậu sang chơi...
- Mình hơi bận.
- Cậu có gì mới ?
Giọng Lãng nhỏ nhẹ:
- Dạo này không viết được gì mới. Không hiểu sao, hay buồn. Có cảm giác như mình sắp xa mọi người.
- Cậu đi đâu?- Trâm ngạc nhiên.
- Mình chưa biết.
Lãng lục lọi trong cặp sách.
- Mình gửi lại bạn những chiếc đĩa vi tính này. Trong đó có ghi những gì mình đã viết. Phải khó khăn lắm và rất nhiều đau khổ mình mới viết được ra nó. Mình tặng bạn. Bạn giữ cho mình...
Trâm cầm những chiếc đĩa vi tính trên tay
- Cám ơn cậu, mình sẽ đọc ngay. Sẽ giữ gìn những sáng tác của cậu.
- Trâm này, mình muốn xin lỗi bạn...
- Gì cơ? - Trâm tròn mắt ngạc nhiên
Vẫn giọng chậm rãi, nhỏ nhẹ, Lãng bộc bạch những điều từ lâu dồn tụ trong đáy lòng:
- Mình đã không làm được gì cho bạn. Mình đành phụ tấm lòng của bạn. Bao nhiêu năm, nếu không có bạn, mình đã không sống được bình thường. Mình vốn dĩ yếu duối, trái tìm mình cần một người tri kỷ. Trâm là tri kỷ của mình đấy. Trâm làm cho trái tim vốn dễ thương tổn của mình trở nên bình yên sau những bão tố. Trong cái thế giới đầy xót xa, lạnh lẽo này, thì Trâm là là một ngọn lửa ấm. Trong cái đêm đen lạnh bạt ngàn của cuộc đời thì bạn là một ánh sao. Trâm là ánh sáng ở cuối một đường hầm tăm tối mà mình có được...
- Cậu đừng nói vậy. Mình đã làm được gì cho cậu đâu.
- Dạo ấy khi bạn gặp chuyện buồn... Bạn phải nằm trong bệnh viện... chúng mình còn ít tuổi quá... mình đã nghĩ đến việc sẽ đến bên bạn, nói thầm vào tai bạn, rằng mình yêu bạn. Mình sẽ làm tất cả cho bạn trong cuộc đời này... Nhưng rồi mình không có đủ can đảm... Đi đâu, lúc nào mình cũng nghĩ đến điều đó, rồi thấy có gì ngường ngượng, như thể có ai đang nghe thấu tâm sự trong lòng mình...
Phút chốc gương mặt Ngọc Trâm đầm đìa nước mắt. Một kỷ niệm đớn đau hiện về trong tâm khảm. Chiếc xe tải đã nghiến nát chân trái của Trâm khi cô mới bước vào năm cuối cùng của thời cấp hai. Những ngày trong bệnh viện, Trâm đã khóc cạn cả nước mắt. Mỗi lần thầy cô, bạn bè đến thăm, động viên thì Trâm lại khóc. Đối với Trâm thế là hết... thế là hết những mộng mơ tươi sáng của một kiếp người... thế là hết những ước mơ tươi nguyên thời thiếu nữ... Nhiều hôm Lãng đến mang theo những bó hoa dại màu tím ngắt trên đồi. Hương hoa tím quyện trong không gian đục trắng của căn phòng. Trâm không nói gì. Chỉ mân mê những cánh hoa mong manh rồi thở dài
Ngày ấy Trâm không dám tin rằng những điều đau đớn nhất của đời người rồi cũng có thể đi qua. Từ khi ở bệnh viện về, Trâm tự giam mình trong phòng. Ai đến thăm Trâm cũng bảo mẹ nói với họ rằng Trâm đi vắng. Nhiều lúc Trâm muốn đi thật xa. Muốn quên hết tất cả, muốn mọi người không còn nhìn thấy mình nữa. Thậm chí, có lúc Trâm muốn tự chấm dứt cái cuộc đời phiền não của mình. Nhưng cũng chính trong những ngày đó, những vần thơ của Lãng đã cho Trâm nguồn sức mạnh. Trâm cảm thấy nguồn động viên, chia sẻ sâu xa qua những câu thơ đẹp đẽ, tinh khiết dẫu u buồn nhưng chưng cất một tình yêu vô ngần đối với cuộc sống.
- Mình lần lữa mãi... lần lữa mãi... - Gọng xúc động của Lãng đưa Trâm về hiện thực - Cho đến năm mình bước vào đại học... Mình và Trâm xa nhau. Rồi mình gặp Tuyết... một tình yêu đơn phương định mệnh đầy huyền bí đã giáng xuống đời mình... Cái vẻ đẹp kỳ lạ và xa vắng ấy, cái vẻ đẹp mong manh đầy ma lực ấy cứ hút lấy hồn mình. Mình biết là Tuyết vô tội. Tuyết không lừa dối mình, không cố ý quyến rũ mình... chỉ tại mình đã tự gây nên bao vết hằn đau đớn trong tâm hồn...
Lòng Trâm run lên một nỗi hờn giận lặng thầm. Trâm đưa mắt nhìn qua cửa sổ. Một đôi bướm trắng quấn quýt bên nhau cạnh những đóa hoa vàng. Và trong lúc ấy, dù đau đớn, Trâm lại nghĩ về tình yêu với Lãng. Mọi điều đều có thể bắt đầu...
Cuộc sống...
Tất cả còn ở phía trước...
Đã có những năm tháng Trâm nghĩ rằng mình sẽ không lấy chồng. Trâm không muốn mình gắn bó với một người mà mang lại gánh nặng cho người đó. Kể cả với Lãng... Trâm phần nào hiểu được tâm trạng của Lãng... Dần dần Trâm can đảm hơn và cố gắng học tập. Trâm thi đỗ đại học rồi kiếm được một công việc ổn định. Bây giờ thì cô muốn để cho trái tim tự nó rung lên như nó muốn thế. Cuộc đời dài, dài lắm, con người đi trên con đường ngặt nghèo của số phận, cần biết bao một người đồng hành. Những ý nghĩ ấy râm ran trong tim Trâm. Đôi mắt đen láy của Lãng ghé sát gương mặt trâm:
- Bây giờ thì không có người con gái nào trong đời mình nữa... ngoài Trâm... Trâm ơi, bạn thấu cho lòng mình không?- Giọng Lãng như ức nghẹn. Những giọt nước mắt trong vắt nhòa ướt gương mặt Lãng. Trâm đỡ lấy gương mặt Lãng. Cô lau những giọt nước mắt của Lãng. Và chính trong lúc này đây, lòng Trâm rung lên những con sóng khát khao, run rẩy.
Làn môi run run nóng bỏng của Lãng như sắp chạm vào môi Trâm thì ngừng lại. Lời Lãng da diết đẫm nước mắt:
- Trâm ơi! Mình đành phụ tấm lòng của bạn...
Trâm thấy tim mình nhói đau. Một cái gì vô hình rạn vỡ.
Lãng từ từ đứng dậy. Lãng nhìn Trâm một lần cuối cùng rồi bước ra con đường chênh chếch nắng. Tiếng chim gọi bạn, da diết, đớn đau như đứt ruột dội về từ vòm cây bên cạnh. Trâm đứng lặng như một người đã hóa đá.
*
Tôi mơ thấy Lãng đánh đàn. Những âm thanh du dương làm rung cả tầng không khí. Rồi Lãng ngâm thơ của Hàn Mặc Tử
Tôi nằm dưới bến đợi nàng mơ
Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ
Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng
Rung tầng không khí bạt vi lô.
Giọng Lãng sao mà âm trầm, sao mà ngân vang, sao mà da diết. Rồi bỗng Lãng lấy bút lông, vẽ những đám mây bay ngang bầu trời. Một bầu trời bảng lảng mây trắng như phơ phất khói hương.
- Anh có thấy cả bầu trời ngát thơm không?
Tôi im lặng. Lãng lại nói:
- Em vẽ hương chiêu hồn các đấng thi nhân, các bậc anh hùng hào kiệt...
Rồi Lãng đưa những đường bút trên giấy. Nét bút biến hóa phi thường... Nào là thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Thôi Hiệu, Tô Đông Pha... Nào là thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm... Cả một bầu trời sực nức hương thơm và bóng các thi nhân như từ các vì sao đổ xuống. Cả vũ trụ ngây ngất trong những ca từ lúc ngân vang êm ái vi diệu, lúc thánh thót vươn cao, lúc trầm hùng lắng đọng.
*
Tôi sững sờ nhận được tin Lãng chết.
Kẻ giết người là một tên nghiện ma túy. Hắn là anh em cùng họ với Lãng. Không thù oán. Trong một cơn điên vì thiếu thuốc, hắn gọi cửa nhà bác hắn. Gương mặt bác hắn hiện ra tươi cười:
-Cháu vào ăn cơm với bác.
Mắt hắn gườm gườm, vằn lên những tia hung hãn, man dại. Không nói một lời hắn rút lưỡi kiếm dấu phía sau lưng dơ lên. Hắn đâm thẳng vào ngực ông.
Máu phụt ra những dòng đỏ tươi nóng hổi. Máu tắm ướt áo hắn. Máu trang lênh láng xuống nền gạch. Bố Lãng gục xuống, giẫy giẫy...
Lãng bỏ bát cơm, xông vào cứu bố. Lại một nhát kiếm nữa cắt ngang cổ họng Lãng. Một luồng lạnh toát rùng rợn chạy qua óc Lãng. Hoàn toàn vô thức, Lãng chạy những bước xiêu vẹo ra sau nhà rồi đổ ập xuống. Những khóm hoa trắng nhuốm màu máu Lãng.
Hắn chạy. Người hắn nhớp nháp, đỏ lòm, tanh nặc như vừa ngoi từ trong vũng máu lên. Hắn chạy thục mạng qua một dãy phố, luồn vào ngõ nhỏ, lẫn vào khu đồi vắng... Không gian xoay tròn trước mắt hắn. Thỉnh thoảng hắn lại thấy như bầu trời sụp xuống và hắn sa chân vào một vũng máu...
*
Hai chiếc quan tài song song. Hai chiếc xe tang nối nhau lăn bánh tiễn một người trẻ, một người già về thế giới bên kia. Mẹ Lãng oặn mình lê lết trên nghĩa địa chiều, giọng bà đục ngầu đứt đoạn:
- Trời ơi! Cay nghiệt... Cháu ơi, sao cháu giết bác và anh... Cha mẹ ơi, thế là từ nay lấy ai nối dõi tông đường...
Một bó hoa hồng trắng của người thanh nữ mặc áo dài trắng có suối tóc đen được chôn theo quan tài Lãng.
Khi những lát đất đầu tiên lấp lên quan tài, người thanh nữ gạt nước mắt quay đi. Dáng cô xiêu vẹo nhòa dần ở cuối con đường như một hạt bụi trắng. Mái tóc dài tựa dải tang đen trải ra phía sau lưng.
Bên tai tôi như vang lên giọng quen thuộc bị cứa đứt giữa chừng của Lãng:
- Tuyết... Tuyết...
*
Mộ Lãng trên một sườn đồi, hướng nhìn vào thành phố Ngã ba sông. Bên cạnh, những cây cọ như dáng người thân xòe ô che mưa nắng cho Lãng. Trên đầu, những cây thông cao vút thỉnh thoảng lại reo ngân điệu nhạc êm đềm, sâu lắng.
Một người con gái mặc đồ đen thường vẫn đến viếng và trồng lên mộ Lãng những khóm hoa màu tím, hương thơm ngát cả một vùng đồi.
Có lần cô đặt xuống bên những khóm hoa tím một tập thơ. Cô thắp hương, khấn trong nghẹn ngào:
- Lãng ơi! Đã bao lần Lãng mơ ước tập thơ của bạn được in ra. Bây giờ thì nó đây, Nhà xuất bản Thanh niên đã chắp cánh cho thơ của Lãng bay vào đời. Lãng hãy nhận lấy. Hãy xem đi, những trang giấy trắng muốt, những con chữ thơm tho, những dòng thơ như tơ lòng của Lãng còn vấn vít lấy cuộc đời...
Ngọn lửa từ những thân hương bùng lên sắc đỏ bén vào từng trang giấy trắng. Người con gái mặc đồ đen bỗng chốc thấy trong làn khói hương kia hình như hiện lên gương mặt Lãng, một nét cười lặng lẽ và thoảng nhẹ trong gió một giọng quen thuộc:
- Ngọc Trâm!...
*
Sau khi xuất bản tập thơ của Lãng đã gây một tiếng vang. Hình ảnh Lãng đã được in trên trên nhiều tờ báo, tên tuổi Lãng đã đi vào con tim của biết bao người. ở những cuộc hội thảo về thơ, những công trình nghiên cứu người ta cũng nhắc đến tên Lãng. Mai sau người ta có thể vẫn còn nhắc đến tên Lãng như niềm tự hào của một xứ sở.
Nhưng không mấy ai biết Ngọc Trâm đã mặc đồ đen suốt hai mươi bảy tháng cho đến ngày mãn tang Lãng mới thôi. Cô cũng thêu hình những bông huệ trắng muốt lên một tấm lụa đen rồi đốt bên mộ Lãng. Những kỷ vật của Lãng vẫn được cô gìn giữ cẩn thận. Dường như không ngày nào cô không nhắc đến tên Lãng. Không đêm nào cô không mơ thấy Lãng.
Khối tình ấy đã vượt qua giới hạn của một kiếp người.
Hà Nội 16-20/6/ 2004
Sự kiện
VanVN.Net – Sáng 19/5/2012, tại Nhà hát lớn Hà Nội đã diễn ra Lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật và Danh hiệu Nghệ sỹ nhân dân năm 2012. Đến dự buổi Lễ có đồng chí ...
Nhân vật
VanVN.Net - Mỗi nhà văn đều có một thế giới nhân vật riêng, với thói quen khai thác nhân vật theo một cách riêng. Theo đó, nhân vật có thể là thật hoặc hư cấu, nhưng thường đều dựa trên những ...
Hoạt động Hội Nhà Văn
VanVN.Net – Chiều 18/5/2012, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Lễ ra mắt và trao tặng bộ sách Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ – văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh được tổ chức vào hồi 14h30’. Đến dự ...
Tư liệu
VanVN.Net - Bài viết “NAM TRIỀU CÔNG NGHIỆP DIỄN CHÍ – CUỐN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM” của Nguyễn Văn Dân đã làm rõ một số đặc điểm của “Nam triều công nghiệp diễn chí” trong bối cảnh tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời trung ...

Tiêu đề
Viết bình luận của bạn