Đầu xuân năm mới chúc BÌNH AN/ Chúc luôn TUỔI TRẺ chúc AN KHANG /Chúc sang năm mới nhiều TÀI LỘC/ Công thành danh toại chúc VINH QUANG…
Gửi thư    Bản in

Topten truyện ngắn hay trên Văn nghệ Tết Nhâm Thìn

23-01-2012 03:34:28 AM

VanVN.Net - Cuộc thi truyện ngắn của Văn nghệ mới qua nửa chặng đường nhưng đã có thể nhìn thấy thành công, nói như Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh là nó cho phép hình dung đã có một thế hệ nhà văn trẻ ra đời, xin chúc họ đủ tài, đủ tự tin đứng trên vai các thế hệ đi trước để đảm bảo chắc chắn cho tương lai văn học nước nhà. Ông cũng nói nó hay một cách đằm thắm, đầy nhân tính và giúp căn chỉnh lại độ lệch chênh của văn học trẻ hồi đầu đổi mới; chúng tôi chỉ xin thêm: Đằm thắm nhưng vẫn nóng, nó vừa mở ra sự đa dạng các vấn đề bức xúc của đời sống, của thân phận con người vừa mở sâu về nhiều hướng cho thủ pháp nghệ thuật lại vừa làm Văn nghệ nóng hẳn lên và mặn mà thêm. Một số truyện trong nửa đầu của cuộc thi lần này đã vượt qua các cuộc thi trước đây hay ít nhất, ấy cũng là lời chúc năm mới cho truyện ngắn, cho văn học Nhâm Thìn...

Ghi chú: Nói là topten nhưng một số trong đó đã được giới thiệu trên vanvn.net sau mỗi tháng nên không đủ mười.

BẠN KHÁCH

Truyện ngắn của Lê Thanh Kỳ

Lê Thanh Kỳ, Sinh năm 1957

Quê quán: Duy Tiên, Hà Nam.

Hiện đang  sống và làm việc tại thành phố Phủ Lý, Hà Nam

Nghề nghiệp: Thợ hàn.

Bắt đầu viết văn từ năm 2008. Hội viên hội VHNT Hà Nam.

Tác phẩm đã xuất bản: Bão đất - Tiểu thuyết, Nhà XB Hội Nhà Văn, năm 2008

Giải thưởng Văn học:

- Giải ba cuộc thi viết về ngành giáo dục - Truyện ngắn Mẹ con nhà chuột, năm 2010

- Giải nhì cuộc thi truyện ngắn tỉnh Hà nam - Truyện ngắn Ba người đàn bà.

 

Tôi nhận được cú điện thoại của Kim làm ở Công ty du lịch: - Mày còn nhớ thằng Khền không?

- Khền nào?

- Thằng Khách Khền ấy!

Im lặng. Bạn tôi giải thích:

- Thằng Khền người Tàu, bạn thân của mày ngày bé ấy, nhớ ra chưa? Rồi nó gặng tiếp như rặn ra từng câu: “Nhớ ra chưa?”

Những thước phim ký ức vùn vụt tua lại

- Nhớ ra rồi.

Tôi reo lên. Thằng Khền mắt sâu, gầy nhẳng định dạy tôi cái món võ Tàu nhưng tôi không thiết. Mừng quá, tôi dồn lại nó:

- Hiện giờ nó đang ở đâu? Sao mày biết nó?

Nó cười kèng kẹc trong điện thoại:

- Từ từ, được rồi, từ từ…

Tôi ghét cái kiểu làm việc câu giờ của mấy tay làm việc công.

- Hiện giờ đang ở Hà Nội. Nó đi du lịch, cho cả vợ con sang. Khền xin bỏ tour để về chơi với mày. Rồi Kim lề thề dặn dò: “Về nguyên tắc, chúng tao không cho nó đi tự do nhưng nó là bạn thân của mày nên tao đứng ra bảo lãnh. Có điều mày phải giữ gìn nó cho tao, nó mà xảy ra chuyện gì là tao bị công ty nó giết! Nghe chưa?”

Tôi mừng không tả được. Nếu tả thì tôi tả thế này: “Vừa trông thấy bạn, mừng quá bọt mép xùi ra, ngất luôn”. Thú thực, nó là đứa bạn thân nhất của tôi thời thơ ấu. Lớn lên thì đã xa nhau. Tôi nhớ nó suốt một thời gian dài rồi thời gian cũng cuốn trôi theo cùng nỗi nhớ, nhưng tình bạn của chúng tôi thì vẫn còn khắc đậm trong tâm trí. Giờ nhắc đến nó tôi như phát cuồng. Tai tôi vẫn đang nghe thằng bạn ở công ty du lịch lải nhải trong điện thoại: “Thằng này mà là dân thường thì tao mặc kệ con mẹ nó, nhưng xem chừng nó cũng không phải là loại tầm thường. Lúc kiểm tra hộ chiếu, nhìn người nó là tao nhận ra ngay. Mày xem trí nhớ của tao có tuyệt vời không? Thay đổi bao năm mà tao vẫn nhận ra nét cũ của nó. Thằng Khền hỏi thăm mày, tao nói cho nó biết. Nghe xong nó bảo: “Không nên bỏ lỡ cơ hội” thế là nó liền thay đổi lịch trình. Tao ôkê liền. Thằng này ở Trung Quốc có mấy cái nhà máy, tao liền nghĩ ngay đến mày. Một công đôi việc, sau này có làm ăn được với nó thì đừng có quên tao đấy nhé”.

Đúng là thời buổi tiền đè chết tình. Tôi không còn bận tâm tới thằng bạn ở công ty du lịch ấy nữa. Mọi ý nghĩ bây giờ dồn cho thằng Khền. Tôi gọi điện ngay báo tin cho vợ. Vợ tôi hỏi: “Khền nào? Có nghe anh nhắc đến bao giờ đâu?” Tôi giải thích vắn tắt rồi dặn: “ Em chuẩn bị phòng cho anh thật chu đáo vào đấy”. “Được rồi, anh yên tâm đi”. Vợ tôi biết phải làm gì, phản xạ kinh doanh mà, cứ “hiếu” trước cái đã.

*

Đứng trước mặt tôi là một người đàn ông to béo, húi đầu cua, mắt híp, da săn, bụng phưỡn. Anh con trai thật không chê vào đâu được, cứ như chép từ ông bố sang vậy.

Ngược lại với hai người đàn ông, người phụ nữ trông mảnh mai, mắt một mí nhưng to, đen, đẹp và dễ ưa.

Nó thay đổi nhiều quá khiến tôi đứng ngây ra, còn nó thì nhận ra tôi ngay:

- Khương à? Rồi ôm chặt lấy tôi, mặt thì ngoảnh ra giới thiệu với vợ con. Tôi nghe nó phát âm lắm “phờ” lắm nhưng tiếng Việt nó còn nhớ và rất sõi. Người vợ trẻ nở nụ cười thân thiện. Vợ tôi tíu tít sai người nhà xách hành lý từ taxi rồi đưa vợ con thằng Khền vào nhà trong khi chúng tôi vẫn còn đứng ngoài đường quấn lấy nhau. Hai bà vợ nhìn thấy thế cũng vui lây. Tôi có một trang trại chuyên trồng cây lấy dầu. ở giữa đồng bằng mà có mấy trăm hec ta cây cối mát rười rượi. Thằng Khền ngắm nghía, vui lắm. Nó khen: “Việt Nam chúng mày mở cửa sau mà tiến nhanh quá”. Nhìn khu biệt thự tôi ở, nó nhận xét: “Nếu kiến trúc theo kiểu Trung Hoa thôn thì đẹp”. Tôi bảo: “Tao chỉ quan tâm tới cái tao thích”.

Tôi dẫn nó đi thăm khu vườn cây quanh nhà, vừa đi vừa thi nhau kể về mình. Mấy chục năm trời tưởng chừng không bao giờ gặp lại, thế mà bỗng nhiên cứ như trong mơ vậy. Thằng Khền ngày nhỏ mắt sâu, người toàn thấy xương là xương mặc dù thuốc Bắc nhà nó thiếu gì. Nhìn nó múa võ Tàu xàng xê nhào lộn trông cứ như một con bọ gậy. Bọn trẻ con trong làng tôi thích lắm, buổi tối thường đi tắt cánh đồng sang nhà nó xin học võ. Đứa nào học phải cống cho nó mười cái kẹo vừng một bài. Thấy tôi cứ đứng nhìn, nó bảo: “Mày học tao không lấy kẹo”. Tôi bảo: “Tao học, mày phải chi kẹo cho tao”. Tức quá nó lao vào đánh, tay múa tít như chong chóng. Tôi chạy, nó đuổi. Bất ngờ tôi quay lại, dạng chân thấp xuống nhằm đúng mặt thụi cho một phát. Tôi chỉ nghe thấy đánh “choét” một tiếng, thằng Khền ngật đầu ra đằng sau ngã ngồi xuống sân. Máu chảy ra trông hệt như con đỉa bám vào mũi chổng mông vào mồm. Lúc hai đứa cởi truồng nhảy xuống giếng làng tắm trộm, nó bảo: “Mày có nghề mà giấu”. Tôi trả lời: “Tao đâu  có biết gì”. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, cứ xoắn lấy nhau như bện thừng. Bây giờ nó to béo thế tôi không thể nhận ra nổi. Ngay lúc ấy vợ nó đi ra, nó bá lấy vai âu yếm lắm. Rồi dứ dứ như khoe ngầm với tôi. Tôi ái ngại nhìn cái bụng của nó, đối với người phụ nữ  kia mà chơi cái trò bập bênh thì chán chết!

Ngày thứ hai vợ tôi đưa hai mẹ con thằng Khền đi lễ chùa. Tôi lái xe chở nó đi khắp nơi trong vùng, thăm lại tất cả những nơi chúng tôi đã đến, đã chơi, đã nghịch với nhau. Tôi chạy chầm chậm dọc theo con sông Nhuệ. Ngày xưa nó thường chở tôi bằng xe đạp ra bờ sông lấy hạt thầu dầu chơi. Đến cầu Nhật Tựu nó chỉ xuống dưới: “Việt Nam cũng như Trung Quốc phát triển công nghiệp làm cho sông ngòi thối rinh cả lên”. Tôi nói chuyện: “Ngày xưa người Pháp đào con sông này trong vòng mười ba năm”. Thằng Khền bảo: “Người Trung Quốc chúng tao chỉ đào trong mười ba ngày. Chỉ cần mỗi người bê một hòn đất là xong”, “Chuyện, nước chúng mày đông dân. Mỗi công đào đắp ăn một ngày hết một cân gạo. Gần một tỷ rưỡi công dân, ăn một bữa là vét sạch gạo trên hành tinh”.

Buổi chiều ngồi ăn cơm dưới tán cây trẩu. Gió từ ngàn cây lách phách, nắng vàng trải ngập con đường phân khu. Xanh xanh, xa xa là làng tôi. Chỗ tôi đang ở trước đây là dãy phố có những gia đình người Khách xen kẽ với những hộ tiểu thương. Gọi là phố chứ thực ra chỉ có hơn chục hộ dân sống bám mặt đường làm dịch vụ sửa chữa bơm vá xe đạp, bán nước mắm, xì dầu hay dấm Hà Nội… Cách đây chục năm nhà nước mở rộng con đường đi sang Hoà Bình và dãy phố kia phải dời đi chỗ khác. Năm 1979, nhà thằng Khền cùng những hộ Hoa kiều trước khi về nước đã bán hết tài sản cho các nhà hàng xóm. Giờ đây cái phố Khách chỉ còn trong ký ức. Con đường trải nhựa một bên là biển lúa vàng đang kỳ vào mẩy. Bên này xanh bạt ngàn cây bạc hà là trang trại của tôi. Thằng Khền cứ đăm đắm tìm nhìn dấu vết cũ. Gia đình nó cũng như những gia đình người Tàu sang Việt Nam sinh sống không bao giờ họ sống ở nông thôn mặc dù họ có là nông dân đi nữa. Có thể họ sợ bị cô lập trong cái lối sống dòng tộc ở nông thôn. Cũng có khi trong tư duy kinh tế của họ, vì sự phồn thị mà họ luôn chọn những trung tâm hành chính, hoặc chí ít cũng là những nơi thuận tiện giao thông. Nghề thì dứt khoát chỉ chọn một nghề thương mại. Ngay tại khu phố thằng Khền ở mặc dù chỉ khoảng dăm bảy hộ họ cũng làm cho khu phố tưng bừng hẳn lên trong các kỳ lễ hội. Nhà Khách Khền thì buôn thuốc Bắc, Khách Ký buôn hàng mã, Khách Hỷ chuyên xe hương nén và bán hương vòng… Tuy doanh số không đáng kể so với thành phố, thị xã nhưng đám rễ của cái cây thương mại bám chặt vào mấy làng quê đã hút lấy những đồng tiền ít ỏi của những người nông dân quanh vùng. “Sống được và dư dật”. Thằng Khền bảo thế. Những người nông dân khốn khổ có thể nhịn ăn, nhịn mặc nhưng không bao giờ bỏ hương khói ông bà và còn hào phóng biếu xén rất nhiều tiền vàng trong các kỳ lễ tết. Từ tiền giả biến thành tiền thật. Mỗi nông dân vắt một giọt mồ hôi cũng đủ chảy đầy nồi buôn bán. Nhà thằng Khền chọn nghề buôn thuốc Bắc. Có lần tôi nghe nó tiết lộ: “pa” tao tính một quả táo tàu lãi bằng một chục hộp hương vòng nhà Ký, một quả đỗ trọng ăn đứt trăm đinh tiền vàng nhà Hỷ… Dân càng nghèo càng lắm bệnh tật. Bệnh viện thì tận dưới tỉnh mới có, vả lại “nước xa không cứu được lửa gần” nên mỗi thang thuốc tính đắt lên vài đồng cũng chả ai dám kêu.

Có một năm nước lên to lắm, đê chỗ nào cũng vỡ. Nước từ sông Châu Giang đổ xuống, nước từ sông Nhuệ đổ vào. Mấy trăm hec ta lúa của hợp tác xã ngập bủm bùm bum. Ban chủ nhiệm tháo khoán cho xã viên. Mẹ thằng Khền cũng đi mò lúa. Hoá ra mẹ nó cũng họ hàng nhà ông Thần Nông, thế mà cứ giấu! Người giỏi nhất làng tôi lặn xuống cắt được hai thuyền thúng thì mẹ nó đã cắt được ba thuyền. Tháng tám năm ấy nước ngập trắng cả vùng, mẹ nó đứng trên bờ ném viên gạch vỡ, nhìn tăm cá nổi lên liền lao xuống. Một lúc ngoi lên tay cầm con cá chép giẫy đành đạch bỏ vào giỏ. Bọn trẻ chúng tôi đứng trên bờ reo hò, còn người lớn cứ trố mắt ra mà nhìn. Mẹ nó giải thích với mấy người ấy: “Ngộ là con gái ông rái cá ở sông Trường Giang. Ngộ mà lặn đúng nửa ngày cần lên mới lên”.

Thấy thằng Khền cứ thần thừ cả người tôi biết nó đang nhớ kỷ niệm xưa. Một lúc sau nó bảo: “Ngày ấy tao muốn ở lại Việt Nam nhưng người lớn không cho”. Buổi tối nó theo tôi ra khu chế biến. Từ xa ngửi thấy mùi bạc hà, nó bảo: “Người bị trúng phong cứ ra đây mà ngồi một lúc sẽ khỏi”.

Mọi người vẫn ngồi ngoài vườn chơi đợi chúng tôi về. Vợ tôi và vợ thằng Khền không biết tiếng của nhau nên toàn ra hiệu. Rất may hai mẹ con nó cứ ngồi “xủng xoẻng” với nhau, đỡ buồn. Vợ tôi pha nước chanh quả mang ra, vợ nó xua tay rồi lấy nước hoa quả ép đóng hộp để uống. Trước khi đi ngủ thằng Khền hỏi tôi sản lượng tinh dầu mỗi năm và chất lượng tinh dầu thô ra sao. Tôi trả lời: “Một trăm phần trăm từ thiên nhiên”.

Ngày thứ ba. Buổi sáng thằng Khền dậy rất sớm múa bài Tuý luý quyền mà ngày trước tôi gọi là quyền “cho chó ăn chè”. Múa xong nó đứng ngắm những luống bạc hà. Lúc ngồi ăn sáng nó hỏi tôi hiện xuất dầu cho ai? Có muốn có nhà máy chưng cất tinh dầu tinh chế không? Sau này có sản phẩm nó sẽ giới thiệu với các nhà bán lẻ Trung Quốc. Tôi trả lời : “Có. Tao muốn xây dựng một nhà máy cỡ nhỏ”. “Nhỏ cũng phải mở rộng vùng nguyên liệu, phải lấy hết mấy trăm hec ta lúa phía bên kia mới đủ cho nhà máy nó ăn”

- Không được. Phải mở rộng về phía những vùng không quy hoạch đất nông nghiệp. Nó chê: “Chúng mày toàn những thằng làm ăn cò con”. Rồi nó nói câu “Phi thương tắc giàu”. Tôi bảo lại nó: “Phi nông tắc ổn”. Thằng Khền vỗ vai: “Tao với mày coi nhau như tình thân. Mấy chục năm gặp lại, mày vẫn là thằng bạn chân thành và thật thà nhất. Không uổng công tao về Việt Nam lần này. Tôi hỏi thăm song thân. Nó bảo: “Chết sạch rồi”. “ Cho tao chia buồn với mày”. “Hết trẻ thì già. Hết già thì chết. Mày học hành nhiều khách sáo bỏ cụ”. “Không phải khách sáo mà là văn hoá”. Nói xong rồi tôi lại ngại vì thằng Khền mới học hết lớp 7, tôi học lên cấp ba rồi học tiếp lên đại học. Nghe ngày xưa “pa” nó bảo: “Đầu tư cho một nhân lực, chỉ lớp 7 là đủ”. Công bằng mà nói thằng Khền học cũng không đến nỗi nào. Khi ấy hai xã mới có một trường cấp hai. Ngày cấp một chúng tôi đã chơi với nhau, lên đến cấp hai mới được học cùng nhau. Nó học cũng được mà nghịch cũng được. Có lần tiết học văn năm lớp 6, cô giáo thì lùn, bảng đen thì cao khiến cô cứ phải nghến lên để hở một khoảng bụng. Thằng Khền lấy dây nịt cắt từ săm xe đạp, lấy hai ngón tay làm chạc súng bắn một phát. Cô giáo vừa đau vừa ngượng chín cả mặt. Sau vụ ấy thằng Khền bị đình chỉ học, phải nhờ bố tôi khi ấy làm phó chủ nhiệm hợp tác xin hộ.

- Tao về Trung Quốc từng ấy năm mà vẫn nhớ Việt Nam, nhớ mày lắm! Nhờ có chính sách mở cửa nên chúng mình mới được gặp nhau thế này.

Tôi cũng thấy thế. Nó bỏ cả đi du lịch tìm về thăm tôi, đủ biết tình cảm của nó dành cho tôi thế nào. Tôi biết đời cũng lắm loại bạn và đủ các thứ tình cảm nhưng chỉ có tình bạn thuở ấu thơ là còn lung linh và trong sáng mãi. Ngày học cấp một tôi rất mê đọc truyện nhưng không có truyện, còn thằng Khền có truyện nhưng không thích đọc. Chỉ có “pa” nó là chăm chỉ đọc sách. Từ một nông dân ban đầu học mót được vài bài thuốc bệnh vặt sau cũng trở thành một thầy lang nổi tiếng cả vùng. Nghe nói danh y Tuệ Tĩnh thế kỷ thứ 15 bị bán cống sang Trung Quốc, ông viết rất nhiều sách Nam Y thần dược và “pa” thằng Khền rất chăm nghiên cứu, còn biết kết hợp các vị để cho ra một số bài thuốc rất hay. Tôi biết các toa mà “pa” nó kê có tới 3/4 là thuốc Nam. Biết tôi mê Tam Quốc thằng Khền thuê tôi cứ nghiền cho nó một thuyền thuốc nó cho mượn một tập mà đọc. Lúc học lên cấp 2 sau vụ bố tôi xin miễn kỷ luật cho thằng Khền, tôi được “pa” nó đối đãi như khách. Tôi ngồi ghế trong nhà đọc Hồng lâu mộng trong khi thằng Khền phải nghiền thuốc ngoài hè.

Thằng Kim làm ở Công ty du lịch gọi điện về cho tôi  xem hai đứa đã ký kết được “phi vụ” nào chưa? Tôi trả lời: “Chưa. Thằng Khền cũng là một đứa trọng tình”. “Lạ. Tao thấy nó trọng tiền thì đúng hơn”. “Mày thì lúc nào cũng dòm vào túi của người khác”. “Để rồi xem”.

Ngày thứ tư. Chúng tôi về thăm lại ngôi trường làng. Lúc đi ngang qua nhà ông Khang, thằng Khền bảo tôi dừng xe lại, hỏi: “ Ông Khang còn sống hay chết?”. “Còn”. Nó bảo: “Nếu sống thì già khú ra rồi còn gì”. Tôi thật bái phục trí nhớ của nó. Đã bao năm nay dung mạo nhà quê thay đổi cũng nhiều thế mà nó vẫn nhớ. Nó chỉ cái vườn vải thiều nhà ông Khang: “Còn nhớ cái ao trước nằm ở đây không?”. “Nhớ”.

Đó là năm chúng tôi mới vào cấp 2. Ông Khang làm tài chính ở huyện, bắt được mấy trăm đồng cân sâm buôn lậu, mẹ nó khóc lóc xin xỏ mãi không được. Một buổi đi học về nó hỏi tôi “Mày ghét ai nhất?”. “Ghét nhất con Thuý Khang”. Thuý là con gái nhà ông Khang, làm lớp trưởng lớp tôi. Tôi ghét nó vì nó là con cán bộ, lúc nào cũng tỏ ra gương mẫu còn bọn tôi thì đứa nào cũng thích nghịch ngợm. Tôi hỏi lại nó: “Mày ghét ai nhất”. Nó nói ngay: “Tao ghét nhất phòng thuế”. Rồi nó rủ: “Có thích cho bố con nhà lão Khang một bài học không?”. Tôi lúc ấy cũng tỏ ra thích thú vì lại sắp được tham gia một trò nghịch ngợm mới. Tôi hỏi: “Cho bố con ông ấy bài học gì?”. “Tối sẽ biết”.

Tối. Hai đứa bò qua bờ rào nhà hàng xóm lần đến ao nhà ông Khang. Cái ao này ông Khang thả ba tầng cá sắp đến ngày thu hoạch. Bò đến vườn chanh quanh bờ ao thì tiếng chó cắn rộ lên. Vợ ông Khang cầm cây đèn dầu thò đầu ra ngoài cửa hỏi “Ai đấy?” rồi lại khép vội cửa vào. Thấy con chó xồm cứ xồng xộc chạy ra, tôi sợ quá! Thằng Khền vỗ vào mông tôi, nói nhỏ: “Chó dữ không sợ, chỉ sợ người dữ”. Rồi thò tay vào túi lấy cái bả chó thuốc Bắc ném về phía con chó, nó liền ngoạm lấy mang đi. Một lúc im ắng không thấy động tĩnh gì. Thằng Khền ghé sát vào mặt tôi, cười: “Đúng là ngu như chó!”. Tôi nằm canh gác cho nó bò ra khoảng trống nhìn thấy nó ném xuống bốn góc và chính giữa ao mấy cục gì như cục gạch rồi quay lại bảo tôi: “Biến”. Sáng hôm sau cả làng kháo nhau nhà ông Khang ăn ở thế nào bị người ta thả đất đèn chết sạch ao cá. Hôm ấy đi học tôi không dám nhìn cái Thuý.

Thằng Khền hỏi: “Ông Khang giờ sống thế nào?”. “Ông ấy về hưu lâu rồi, sống hiền lành lắm”. “Nhưng nghề của ông ấy không hiền tý nào. Ngày ấy tao cứ mong cho ông ấy cũng nổi như cá”. “Mày ác bỏ mẹ, tao mà biết trước thì không đời nào đi với mày”. “Ngày ấy tao cứ sợ mày khai ra thì tao chết”. “Biết thế ngày trước tao khai ra, khốn nỗi tao cũng sợ bị chết lây”. “Biết thế thì chẳng bao giờ có lịch sử cả”.

Chiều mát chúng tôi ngồi câu cá vừa nói chuyện. Thằng Khền thích ăn chân gà nướng. Tôi bảo nó ở đây không có chân gà bán sẵn. Nó bảo: “Mày không biết ăn chân gà” Rồi bảo tôi đi mua cho mấy con gà trống nuôi công nghiệp. Vợ tôi mua năm con mang về. Thằng Khền đem rửa sạch chân bằng cồn rồi trói, buộc cánh treo lên. Nó bê chiếc bếp than hoa lại gần rồi thả cho con gà nhảy trên than hồng. Con gà bị nóng ra sức giẫy giụa. Càng giẫy máu càng dồn xuống chân khiến nó phù nề và to ra trông thấy. Con gà cứ co chặt hai chân vào bụng. Thằng Khền lấy cái kẹp kéo từng chân con gà ra, chờ đến lúc vỏ ngoài cháy xém nó mới dùng móng tay bóc bỏ lớp vỏ ngoài của da chân. Tôi nhìn thấy hai chân con gà đỏ máu và sưng đẫn lên. Thằng Khền lấy từ trong túi khoác ra cái chổi trông như cây cọ của hoạ sỹ, chấm gia vị rồi quét lên. Con gà lúc này mới giãy giụa thật lực, mồm kêu oang oác. Vợ tôi thấy thế bỏ vào trong nhà có gọi thế nào cũng không ra nữa. Thằng Khền tiếp tục bóp giập xương chân con gà, cắt lấy rồi quẳng mấy con gà còn sống ra ngoài. Tôi nướng thêm mấy con cá trong khi thằng Khền hoàn thiện nốt món nướng chân gà. Tôi nhìn nó ăn bỗng liên tưởng đến câu chuyện của nhà văn Trung Quốc viết về một gia đình nông dân đói quá không nỡ ăn thịt con, liền đổi cho nhà hàng xóm làm thịt. Tôi hỏi nó ngoài đời chuyện như thế có không? Nó tỉnh bơ trả lời:

- Đói quá cũng có khi ăn để sống! Mà no quá cũng có thể ăn để thấy mùi vị.

Tôi rùng mình hỏi tiếp:

- Cái ông Dư Hoa viết trong tác phẩm “Sống” tả bệnh viện hút hết máu của thằng bé Từ Hữu Khánh để cứu sống vợ ông chủ tịch huyện. Chuyện đó thế nào?”. Thằng Khền chiêu thêm một ngụm bia, khà một cái: “Có thể ông ấy mơ giấc mơ của người Trung Quốc”. Rồi nó đột ngột cắt đứt câu chuyện, bảo: “Mai tao về”. Tôi rủ: “Chơi thêm vài hôm nữa”. “Đủ rồi. Tao còn nhiều việc phải làm. Bây giờ tao đề nghị với mày một việc”. Tôi hỏi: “Việc gì?”

- Mày bán lại chỗ đất của nhà tao ở cũ. Mày lấy bao nhiêu tao trả từng ấy.

Tôi giật mình. Bây giờ mới thấy thằng Kim nói đúng. Tôi trả lời dứt khoát:

- Ngày trước hợp tác cấp đất cho xã viên để ở, không thể nhận đấy là đất của nhà mày được. Bây giờ tao thuê đất để trồng cây công nghiệp, tao cũng không có quyền bán.

- Mày là bạn thân của tao. Việc này chỉ có mày biết, tao biết.

- Càng là bạn thân càng nên giữ gìn, như thế tao với mày mới chơi bền được.

Tôi nhìn thẳng vào mặt thằng bạn thấy nó tím chặt, không biết do bia hay nó giận tôi. Nó lại đột ngột hỏi:

- Mày có muốn xây dựng nhà máy chế biến tinh dầu không?

Tôi đáp:

- Có.

- Tao sẽ đầu tư cho mày.

Rồi nó cười rạng rỡ. Tôi cũng thấy vui, thoát khỏi việc khó xử ban nãy. Tôi nghĩ nó đầu tư về đây, cả hai cùng phát triển. Thằng Khền nhìn tôi rồi đưa ra đề nghị:

- Tao không tính lãi nhưng mày phải nhượng lại đất cho tao.

- Không. Mày đừng bao giờ nói đến việc đó nữa. Nó trầm ngâm một lúc rồi nói:

- Thôi được. Nhưng tao chỉ yêu cầu một việc rất nhỏ là bao bì do tao cung cấp. Nhãn hiệu phải là made in Chi na.

Tôi chợt nhớ đến cái hiệu thuốc Bắc nhà Khách Khền năm xưa. Chữa bệnh bằng thuốc Nam, lại phải mang ơn thuốc Bắc. Bạn bè thì bạn bè, không để cho nó áp đặt lối chơi. Tôi đáp:

- Mày muốn đầu tư để cùng hưởng lợi nhưng bao bì phải bằng gốm sứ Bát Tràng. Nhãn hiệu dứt khoát made in Viet Nam.

Thằng Khền đứng phắt dậy, lãnh đạm bảo tôi:

- Tao với mày không có duyên bạn bè. Rồi nó giục vợ con thu xếp hành lý đi ngay lập tức.

*

Năm ngoái tôi đi dự hội chợ triển lãm hàng bách hoá tiêu dùng (Variety Merchandise Shows) tại Orlando Bang Florida. Tôi có gặp lại thằng Khền ở đó. Nó cũng đem hàng đến hội chợ. Hai đứa lạnh nhạt bắt tay nhau như hai người xa lạ. Tôi chợt nhớ đến câu nói của ông Thủ tướng Anh: “Chẳng có bạn bè vĩnh viễn, chẳng có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có quyền lợi Quốc Gia là vĩnh viễn”.

Lời bình:

Luôn có rất nhiều chiếc bẫy giăng sẵn cho  motip các câu chuyện viết về sự gặp lại của những người bạn sau nhiều năm xa cách. Những hồi ức cũ sống dậy. Những nỗi ngậm ngùi. Và rồi sau giây phút gặp nhau ngắn ngủi, chưa đủ cho dĩ vãng nằm yên trở lại, những người bạn cũ – ai trở về chỗ của người. Và nếu chỉ dừng ở đấy, các câu chuyện bị rơi vào chiếc bẫy của sự thông thường, cho dù nó có thể rất xúc động và ám ảnh. Bởi vậy ở đây, trong motip nhiều thách đố này, nó đòi hỏi người viết khả năng thoát hiểm, để tạo sự lôi cuốn cũng như sức nặng, và sự khác biệt cho tác phẩm của mình.

Với “Bạn Khách” – tác giả Lê Thanh Kỳ đã thoát hiểm ngoạn mục. Câu chuyện viết  tưng tửng, tác giả thích thú đoán định được những đoán già đoán non từ phía độc giả, để rồi trong cú tung lưới ở những giây  cuối cùng tác giả  thực sự khiến độc giả phải lặng đi, ngập tràn cảm giác hân hoan. Tác giả đã thật cao tay để  thoát khỏi chiếc bẫy của sự thông thường, để đạt một tầm vóc mới từ  motip quen thuộc.

Câu chuyện khép lại để lại tiếp tục mở ra những ngẫm ngợi về nhân cách, về lòng tự trọng dân tộc. Bạn là bạn, mà bạn cũng có thể chỉ là khách.

Nhà văn Phong Điệp

 

 

BIỂN, BÌNH MINH VÀ ĐÔI LỨA

Truyện ngắn của Bích Ngân

1. 

Sinh nhật lần thứ ba mươi tôi nhận lời cầu hôn. Ba mươi là tuổi bước đến một cái vạch có sắc màu chói mắt khiến tôi khựng lại. Tôi chùng chình rồi chợt nhận ra là mình không thể đi tiếp cuộc hành trình trong đơn độc. Tuy nhiên, đó chưa phải là lý do khiến tôi nhận lời khi anh nói cầu hôn mà là chính là anh, người đàn ông tôi sẽ lấy làm chồng. Không đẹp trai, không ga lăng, không thề thốt: “Anh chỉ yêu em!”, cũng không hứa hẹn rằng anh sẽ bao bọc tôi suốt đời; nhưng tôi thấy ở anh sự vững chãi của một người có thể làm trụ cột gia đình.

Và khi một người đàn ông có thể làm một trụ cột, tức là sẽ nai lưng chống đỡ nắng mưa giông bão để bảo vệ mái ấm gia đình thì việc anh, cũng vì công việc mà không có mặt ở sân ga để cùng tôi tận hưởng chuyến du ngoạn, thật ra cũng không phải là chuyện gì quá to tát để mè nheo hay thút thít. Chỉ một thoáng hụt hẫng tôi lấy lại cân bằng. Tôi xốc lại hành lý, dù cảm giác nằng nặng khi nghĩ trên lưng mình có quần áo, đồ tắm, xà phòng và dao cạo râu của anh. Tuy vậy, tôi vẫn không một lời dỗi hờn hay trách móc.

Khi ngồi vào chiếc giường mềm trên toa, nhìn cái giường đối diện bỏ trống, tôi gởi anh tin nhắn “Em đã lên tàu. Không sao đâu, anh đừng áy náy. Đi một mình, biết đâu em lại thấy thoải mái”.

Sự thoải mái đầu tiên là cửa sổ căn phòng hướng ra biển. Kéo rèm ra, tôi thấy mặt trời đỏ rực đang từ từ trồi lên khỏi mặt biển. Bãi cát chạy dọc theo bờ biển đã nhộn nhạo bóng người. Gió từ phía biển thổi đến, mát lành. Tám tiếng đồng hồ trên tàu tôi ngủ được hết hai phần ba thời gian đó nên tôi thấy sảng khoái, muốn nhanh chân ra bãi biển dưới kia, rồi tụt bỏ giày dép chạy chân trần trên cát trắng đang ửng hồng dưới bình minh.

Tôi quay lại, đẩy túi quần áo vào tủ, rồi lật đật vào phòng toilet. Vệ sinh xong, vừa mới trở ra, tôi nghe tiếng gõ cửa.

Mở cửa. Tôi thấy cô phục vụ mang tạp dề trắng bưng một cái khay thức ăn bốc khói bước vào. Thấy tôi ngạc nhiên, cô nói ngay:

-  Có người gọi cho chị từ lúc tối!

Liếc nhìn thức ăn nước uống và mấy múi bưởi da xanh trên khay tôi biết người gọi là anh. Tôi bảo cô đặt khay thức ăn xuống bàn. Cô làm theo và lui ra.

Mùi café và mùi hủ tíu hải sản khiến tôi thấy đói. Tôi tắt máy lạnh, mở toang cửa sổ rồi ngồi xuống ăn bữa sáng trong gió nồng hơi biển.

Ăn xong, tôi không gọi mà nhắn cho anh: “Bữa sáng ngon lắm. Em yêu anh!”. Anh trả lời ngay: “Ok, em!”.

Câu trả lời cụt lủn khiến tôi nhấc cái lưng ra khỏi thành ghế. Tôi ngồi thẳng dậy và ngạc nhiên khi thấy mình không giữ được vẻ điềm tĩnh như lúc ở sân ga khi anh gọi đến cho biết là không thể đi cùng. Tôi cũng thường trả lời na ná câu anh vừa reply cho tôi, chỉ cần sau từ Ok, thay vì “em” thì là “anh”, “chị”, “bạn”…Đó là sự xác nhận, là lời đáp kiệm lời, là lối giao đãi không tâm trạng, không tình cảm. Tôi bối rối không biết mình được người đàn ông sắp làm chồng xếp vào vị trí nào trong chuỗi giao tiếp thường nhật của anh. Khi rời khỏi phòng, tôi vẫn chưa thoát khỏi tâm trạng của kẻ lơ ngơ rồi lỡ chân bước hụt.

Mà tôi bước hụt thật. Tôi đi bộ và hụt một bậc cầu thang. Không đau lắm nhưng chân tôi không thể bước bình thường, phải lượng sượng, lấc nhấc, từng bước.

Khi ra tới bãi cát, tôi không đi chân trần như dự định, cũng không chạy trên bãi cát như nhiều người, mà vẫn đi đôi dép nhựa màu xanh của khách sạn. Đi thật chậm. Vừa đi, vừa ngắm biển, ngắm người.

Mặt trời đã bỏ mặt biển một khoảng khá xa, vầng hào quang rực rỡ cũng nhạt dần. Biển rụt rè lấy lại cái màu xanh nguyên thủy của nó. Xa xa, thấp thoáng thuyền buồm. Gần hơn, bồng bềnh mấy chiếc xuồng câu. Sóng từng đợt ầm ào tiến vào bờ cát. Bãi tắm, bờ cát lô nhô người bơi, người giỡn sóng, người nghịch cát, người lần theo dấu dã tràng…Tất cả vẻ nhộn nhạo đó sẽ không tạo được một bức tranh biển sớm nếu thiếu đi những cặp uyên ương trong trang phục ngày cưới đang ghi hình.

Đôi uyên ương bên phía tay trái tôi, bước xuống từ chiếc Audi và tiến thẳng ra bãi cát theo tốp thợ chụp hình chạy trước. Cô dâu trẻ, má phinh phính, tóc nhuộm nâu, mặc áo cưới màu hồng hở vai hở lưng; cái đuôi áo lượt phượt kéo lê trên cát. Chàng rể Tây, đầu hói bóng, mũi khoằm khoằm, cravat trắng, shirt cùng màu với màu áo cô dâu. Họ chụp và quay một loạt hình ảnh theo kịch bản và đạo diễn của mấy tay cầm máy: Cô dâu bé nhỏ lúc nào cũng e ấp dịu dàng nép bên người chồng đứng tuổi khác màu mắt, màu da.

Thoạt đầu cũng chụp theo kịch bản của mấy tay cầm máy, nhưng chỉ một lúc sau, đôi uyên ương trước mặt tôi lại biết dẫn dắt người cầm máy, chụp, quay theo hình ảnh mà họ tạo ra trong ngẫu hứng. Cô dâu tóc đen buông xõa, áo cưới trắng hở vai dài ngang gối. Chàng rể trong chiếc shirt trắng bỏ ngoài chiếc quần tây màu đen. Họ như quên đi ống kính đang chĩa về phía mình, quên những ánh mắt hiếu kỳ, quên cả mây trời sóng nước. Chàng trai khỏe khoắn nhấc bổng cô gái lên khỏi mặt cát, mặt nước. Cô gái ôm cổ đu lên người chàng trai. Họ nô đùa với cát, với sóng. Và họ nô đùa, âu yếm nhau. Tôi vội rút điện thoại, mở camera, lén thu hình ảnh lứa đôi rạng ngời hạnh phúc.

2.

Hình ảnh cười đùa quấn quýt của đôi uyên ương vẫn chưa dứt khỏi tâm trí khi tôi leo lên những bậc thang khá dốc để lên tháp bà Ponagar trong nắng chiều trong veo.

Khi lên tới tháp, tôi mới sực nhớ là mình vẫn mặc váy. Chiếc váy màu trắng, cũng cũn cỡn ngang gối như cô dâu trên bãi biển. Tôi khựng lại trước tấm biển cấm, không cho người mặc không kín đáo vào đền thiêng. Người đàn ông đeo băng bảo vệ nhìn thấy tôi đứng lựng bựng trước cửa đền. Anh ta chỉ tay về phía những chiếc áo dài màu lam đang treo trong một cái tủ kính nằm ở dãy nhà bày bán đồ lưu niệm. Tôi đến đó, khoác chiếc áo dài phủ gót rồi quay lại bước vào đền thờ Thánh mẫu.

Nữ thần uy nghiêm ngồi xếp bằng trên bệ Yoni đặt trong chính điện. Trước nữ thần, như mọi người, tôi cũng sụp xuống, chắp tay, khấn vái. Và cũng như mọi cô gái sắp lấy chồng, tôi lầm thầm cầu xin nữ thần ban cho mình đức hạnh, nhan sắc, tiền bạc và đẻ cho chồng được con gái, con trai. 

Không chỉ cầu xin nữ thần, tôi còn bước vào đền thờ ông và đền thờ ông cố, quỳ xuống trước bệ Linga ngời bóng trong ánh sáng lung linh. Và cũng như bất kỳ cô gái nào sắp được làm vợ, tôi cúi đầu cầu xin thần linh cho cha của những đứa con tương lai của tôi có sức khỏe dẻo dai, cầu xin những nam thần phù hộ cho chúng tôi có cuộc sống lứa đôi đến tóc bạc da mồi.  

Bước ra khỏi những tòa tháp huyền ảo, tôi thấy mình như được truyền sinh lực. Tôi khỏe hẳn ra. Chỗ lục rục nơi khớp gối khi tôi bước hụt bậc cầu thang lúc sáng cũng biến mất. Không vội ra về. Tôi đi mấy vòng quanh những tòa tháp.

Nhìn ngắm những linh vật, những tạo vật sừng sững cùng thời gian, tôi mỉm cười. Dường như toàn bộ đền đài uy nghiêm này đều tượng trưng cho Linga và Yoni. Cặp đôi ái ân trùng khít này đã tạo nên cái sức mạnh tái sinh vũ trụ.

Tôi chầm chậm đi theo những bậc thang trở xuống. Vừa bước ra khỏi cổng tháp, tôi chưa kịp gọi taxi thì một người đàn ông vội chạy về phía tôi, đưa chiếc nón bảo hiểm ra trước mặt tôi, rối rít mời:

- Cô đi đâu, tôi đưa đi!

Thấy người chạy xe ôm mặt mũi sáng sủa, cử chỉ nhạnh nhẹn và nhất là chiếc nón hiệu Protec trông sạch sẽ, tôi gật đầu. Tôi thấy yên tâm khi ngồi lên yên chiếc Future còn khá mới của anh ta.

Xe chạy. Ngồi sau tấm lưng rộng của người chạy xe ôm tôi không có cái cảm giác khó chịu bởi mùi mồ hôi thường gặp ở những người suốt ngày phơi nắng.

Trời trong xanh. Gió lồng lộng. Tôi nói:

- Anh giùm chạy dọc theo bờ biển!

Bờ biển trải dài. Cát trắng phau. Bãi tắm lác đác người. Hàng dương đu đưa. Sóng vỗ rì rào. Tôi buột miệng:

-  Đẹp quá!

Anh ta cho xe chạy chậm lại. Đến gần cuối hàng dương, chợt anh ta nói:

-  Chỗ bãi cát gần mấy cây dương đó, tui bắt gặp con vợ nó ngoại tình.

Bất ngờ trước chuyện hết sức riêng tư mà lẽ ra anh ta không nên tiết lộ trước một người hoàn toàn xa lạ, tôi làm thinh.

Xe chạy thêm một đoạn, tôi hỏi:

-  Chắc anh đi làm ăn xa và thường bỏ vợ ở nhà một mình?

Xe đang chạy êm chợt như vấp ổ gà khi anh ta nói:

- Chưa có đêm nào tui bỏ nó ngủ một mình. Sáng đi biển là chiều tối tui có mặt ở nhà.

Tôi muốn hỏi: “Vậy sao vợ anh lại đến với người đàn ông khác?”nhưng thấy tồi tội cho người đàn ông không giữ được vợ. Lát sau, tôi hỏi:

-  Anh tha thứ cho vợ chớ?

Anh ta vẫn chưa nguôi:

- Tui bỏ nghề đi biển để chạy xe ôm như vầy cũng vì nó. Tui tha thứ cho nó đến chín lần nhưng tánh nào tật đó. Đúng là loại đàn bà…

Anh ta rủa xả nghe rát cả lỗ tai, may là xe đến khách sạn. Trước khi nhận lại cái nón bảo hiểm, anh ta lẹ làng dúi vào tay tôi cái cạc, nói:

- Đây là tên và điện thoại của tui, khi nào cần đi đâu cô cứ gọi.

3. 

Đêm. Sóng vẫn vỗ ì oằm. Nằm một mình, tôi cảm thấy có cái gì đó như bất an. Tôi ngồi dậy, tìm remote và bật ti vi. Kênh HBO đang chiếu đoạn cuối phim Cocktail. Tom Cruise vào vai Brian, anh chàng pha chế rượu, tài hoa, đa tình. Tôi đã xem bộ phim này nhiều lần nhưng vẫn còn muốn xem. Kéo cái gối không người nằm chồng lên cái gối đang nằm rồi kê đầu vai lên cao hơn một chút, tôi dán mắt lên màn hình.

Khi biết mình sắp được làm cha của hai đứa trẻ sinh đôi, Brian sung sướng, nhảy phắt từ quầy rượu ra đám đông, nhấc bổng cô vợ đang mang cái bầu kềnh càng. Phim kết thúc trong tiếng hò reo chúc tụng của mọi người. Tôi tắt ti vi.

ánh sáng dịu ấm của đèn ngủ cứ mơn nam, mơn man. Tôi kéo mền trùm kín người, kín mặt. Âm thanh ồn ã của quán rượu và gương mặt quá đỗi hạnh phúc của đôi chồng vợ trong phim lại làm tôi cồn cào khó ngủ.

Ngật ngầy như sóng sánh hơi men, tôi kéo tấm đắp ra khỏi mặt. Tôi muốn gọi cho anh, thì thào: “Em không ngủ được. Em muốn được ôm anh!” và hình dung cái ghì siết nỏng bỏng của anh. Tôi gọi. Chuông không reo. Điện thoại không liên lạc được. Tôi đành gởi tin nhắn: “Nhớ anh, em không sao ngủ được!”, mặc kệ lời âu yếm lơ lửng đâu đó hay mất hút. Tuy vậy, tôi vẫn chờ nhận được tín hiệu từ anh.

Điện thoại vẫn im lìm. Tôi loay hoay muốn tìm số điện thoại của ai đó, nói vài câu cho vơi trống vắng. Nhưng trong số bạn bè, không một ai tôi có thể dựng dậy vào giữa khuya để nói vài câu vớ vẩn. Chợt nhớ đến người đàn ông chạy xe ôm bị cắm sừng, tôi mở bóp, móc ra cái cạc của anh ta. Do dự một hồi, tôi quyết định không gọi cho người đàn ông còn ngùn ngụt căm hận đàn bà.

Mỏi mệt, tôi trôi vào giấc ngủ chập chờn. 

Dậy trễ, tôi không đụng vào khay thức ăn mà anh đã đặt sẵn cho tôi. Nhìn nắng tràn vào phòng, tôi tiếc đã bỏ lỡ một bình minh và một buổi tắm biển.

Không đi thang bộ, tôi bước vào thang máy. Trong thang máy, tôi gặp hai đôi trai gái, có lẽ họ là một nhóm bạn, trên người mặc đồ tắm ướt át, cười nói ồn ào.

Lững thững bước dọc theo bờ cát, tôi sựng lại khi thấy đôi uyên ương hạnh phúc của ngày hôm qua.

Cũng ê kíp chụp ảnh hôm qua, cũng bờ cát, bãi tắm hôm qua. Đôi uyên ương vẫn mặc bộ quần áo của ngày hôm qua. Chiếc váy ngắn có lúc tốc bồng lên khi chàng rể nhắc bổng cô dâu và quay mấy vòng trước trời mây sóng nước đã không còn của ngày hôm qua. Duy chỉ có tình yêu của họ vẫn như ngày hôm qua. Hồn nhiên, say đắm, môi cười, mắt cười. Ai đó nói, vũ trụ này, mỗi ngày chỉ có mười sáu nơi được đón bình minh trọn vẹn. Còn lứa đôi trước mặt tôi, có lẽ, mỗi ngày họ có đến mười sáu lần chìm đắm trong bình minh.

Và ê kíp cầm máy đang cần mẫn ghi lại, ghi lại tất cả niềm hân hoan mà đôi uyên ương mang lại cho nhau. 

Bởi, không một ai muốn bỏ lỡ khoảnh khắc vô giá của cuộc đời.

4.

Khoảnh khắc mà tôi chưa có được.  

Tôi nhận ra điều đó khi ngồi trong quán café vỉa hè cách bãi biển, mặt biển một khoảng cách vừa nghe được tiếng sóng lại vừa không bị át đi bởi tiếng sóng. Đang bưng ly café uống nốt chỗ còn lại, chợt điện thoại trong túi reo.

Tôi áp tai nghe. Giọng anh gãy gọn:

-  Bảy giờ sáng mai anh bay ra với em!

Tôi chợt nghe mình nói:

-  Còn em, mười giờ tối nay sẽ lên tàu!

-  Hả, em nói gì?

-  Em sẽ về trước khi anh ra đây.

-  Vậy anh ra để làm gì?

-  Để cũng như em, là được ở một mình.

Tôi nghe anh gào lên:

-  ở một mình? Em có điên không?

Tôi trở nên điềm tĩnh:

- Anh nghe em nói đây. Nhờ ở một mình mà em nhận ra được điều quan trọng này…

Anh chặn lời:

- Điều gì mà em cho là quan trọng?

- Là thật sai lầm nếu chúng ta cưới nhau.

- Em điên thật rồi!

Anh giận dữ cúp điện thoại.

Tôi uống hớp café còn lại và cho điện thoại vào túi.

Sao mình có thể nói ra cái điều hệ trọng đó một cách dễ dàng như vậy? Tôi tự hỏi.

Nhưng khi đã nói ra được cái điều cần phải nói, tôi như người vừa trút được gánh nặng. Cái gánh nặng tuy vô hình nhưng lúc nào cũng khiến tôi chênh vênh.

Và vì chênh vênh, mà tôi, chắc cũng giống như cô gái mặc áo cưới hồng bên cạnh người chồng cùng màu áo nhưng khác màu mắt màu da ở bãi biển sáng hôm qua, lại dựa dẫm vào một bờ vai mà không lắng nghe trái tim mình.

Và có lẽ, cũng chênh vênh trong trái tim mà vợ người xe ôm trở thành kẻ lăng loàn trước mắt chồng và trước lồng lộng biển trời.

Rồi, có lẽ cũng vì mất phương hướng và rơi vào tuyệt vọng mà Douglas, ông bạn pha chế rượu cừ khôi của Brian, phải tìm đến cái chết thảm, dù ở New york, vợ anh ta sở hữu hàng chục tòa nhà.

Khi tôi rời khỏi quán café, bước dọc theo vỉa hè, đôi uyên ương hạnh phúc vẫn còn ghi hình bên bờ biển tràn nắng, gió.        

Biển như rộng hơn và thăm thẳm hơn.

Sài Gòn, 6. 12.2011

 

ĐÊM DÀI QUA

Truyện ngắn của Nguyễn Tiến Bình

Nguyễn Tiến Bình

Sinh ngày 10 - 10 - 1954 tại Hà Nội

Quê quán: Thôn Duyên Trường, Xã Duyên Thái: Huyện Thường Tín; Tỉnh Hà Tây (Hà Nội)

Nghề nghiệp: Bác sỹ quân y, hiện đang công tác tại Học viện Quân Y - Bộ Quốc phòng

 

Đêm dài khuya. Con nước đang cạn dòng. Tiếng chim lợn kêu bất chợt, ấy là lúc mùi tử khí bốc lên. Một lát sau, y như rằng một xác chết nằm lép xẹp phủ trùm tấm ga màu trắng ngà ló ra khỏi cửa phòng bệnh nào đó. Xe cáng thương lóc cóc lăn về phía nhà xác. Vài ba người nhà khóc hời ngặt nghẽo theo sau. Đôi khi trong khuya khoắt chỉ có cô y tá vai gầy lưng còng cắm cúi đẩy xe chở tử thi xuống nhà lạnh. Lại thêm một kiếp người nữa giã từ dương thế. 

Thật lạ kỳ! Cùng với tiếng xe cáng thương định mệnh xóc vào tai rờn rợn y như tiếng gõ cửa của thần chết là giọng hát văng vẳng lúc gần lúc xa, buồn da diết. “Đêm dài qua, dưới mưa rơi, em mong chờ anh tới/ Cây cỏ hoa như nói nên lời, em hạnh phúc nhất đời/ Lòng em riêng thắm thiết yêu anh, giữa tình đôi lứa ta/ Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa…” Tiếng đàn ghi ta và giọng ca hồn hậu quen thuộc cất lên bài hát trữ tình “Đôi bờ” một thời rất nổi tiếng của người Nga. Giai điệu tình ca “Đôi bờ” nhẹ nhàng, lắng sâu là tự sự nội tâm man mác của thiếu nữ với mối tình vô vọng. Cô gái yêu và chính cô cũng ý thức không bao giờ nắm bắt được mối tình xa vời ấy. Dù vậy, trong thẳm sâu đáy lòng, cô gái lại không hề muốn tin và vẫn đợi chờ thiết tha, hy vọng.

Có tiếng chuông điện thoại quen thuộc reo. Giáo sư Nguyễn Đình Thành nhận ra tiếng người bệnh quen thuộc.

- Anh Thành ơi! Anh có nghe thấy tiếng gì không?

- Có! “Đêm dần qua, ánh ban mai đang lan tràn dâng tới./ Trên bờ sông, soi bóng em dài, xa xa phía chân trời…”. Tiếng hát thỉnh thoảng lại văng vẳng vọng đến. Giờ thì nghe qua điện thoại của Đường rõ hơn.

- Vâng! Tình khúc “Đôi bờ” đấy. Tôi đã hát từ dạo anh mổ cho tôi ở trạm phẫu tiền phương. Anh nhớ không?

- Nhớ. Mổ chay. Dạo ấy, anh cắt bỏ hai chân dập nát của chú trong tình thế chỉ còn ít thuốc mê tĩnh mạch. Chú gan lì lắm.

- Tôi chưa muốn chết, giáo sư ạ. Đêm nay, tự nhiên tôi rất muốn gặp giáo sư. Chuyện dài lắm...

Chuyện dài lắm! Chắc không phải là chuyện bệnh tật. Căn bệnh ung thư đã ngã ngũ, và Đường đang kiên cường chống trả với thần chết. Linh cảm mách bảo giáo sư Thành rằng: đang có chuyện rất hệ trọng với người thương binh thân thiết đã nhiều lần qua bàn tay phẫu thuật của ông. Chưa đêm trực bệnh viện nào dài như đêm nay. Chưa đêm nào tiếng chim lợn kêu éc éc sực mùi tử khí với thanh âm lãng mạn yêu da diết trộn lẫn đến mức vô lí như đêm nay.    

*

Đột ngột hiện ra, như một dấu chấm than, Hiên tần ngần đứng trước cửa phòng trực viện. Giáo sư Nguyễn Đình Thành hơi một chút ngỡ ngàng. Đôi vai gầy và hai mắt hốc hác của người đàn bà thức khuya chăm chồng ốm nặng, khiến ông thực sự ái ngại.

- Cô Hiên vào đi. Lại mở “Đôi bờ” nghe à?

- Vâng! Từ hôm vào viện, cứ đêm đêm không ngủ được là chồng em lại mở băng cát xét nghe bài hát ấy. Cũng vì lẽ thế mà đêm hôm khuya khoắt thế này, em liều đường đột đến gõ cửa phòng anh.

- Có việc gì nữa cô Hiên cứ nói. Chúng ta đã là người nhà của nhau từ lâu rồi.

Hiên vẫn ngập ngừng và rụt rè. Tuần trước, Hiên choáng váng khi biết chồng ung thư ở giai đoạn cuối. Tin dữ như tiếng sét giữa trời quang mây tạnh khiến chị tối tăm mặt mũi và vô vọng. Giáo sư Thành căn dặn chị phải tuyệt đối giấu, không cho Đường biết. Còn nước còn tát, bệnh viện sẽ làm mọi cách để kéo dài sự sống cho chồng chị. Vợ chồng ăn ở với nhau như bát nước đầy, đến nước này thì Hiên phải tự thú tội với Đường. Chị cũng định thú thật chuyện riêng của mình cho giáo sư Thành nghe, song cứ đắn đo mãi, rồi lại thôi. Đường là thương binh nặng, nhưng vẫn là chỗ dựa, là trụ cột của cái gia đình bé nhỏ có đứa con gái duy nhất. Hai chục năm sống bên nhau, Hiên vừa sợ, vừa nể chồng, cô thầm biết ơn anh suốt cuộc đời.

- Anh Thành ạ! Bé Tâm không phải con của chồng em. Anh có nghĩ em là con đàn bà hư hỏng?

Giáo sư Thành không ngạc nhiên, chỉ hơi bất ngờ khi Hiên tìm đến ông và nói vào thời điểm này.

- Cô Hiên cứ nói đi cho nhẹ lòng.

- Vâng! Suốt hai chục năm qua, em chưa một ngày yên ổn. Anh Đường chả sống được bao lâu nữa. Em muốn tự thú tội với chồng em…

Người đàn bà vai gầy kể lại câu chuyện tình yêu của mình đã phong gói bao nhiêu năm. Chị nói rằng: Chị yêu chồng thực sự, đã là vợ chồng nhưng bằng cảm nhận của riêng mình, chị thấy hai người cứ như đôi bờ sông chung một dòng mà không bao giờ gặp nhau. Chẳng lẽ con bé Tâm không đủ là nhịp cầu nối hai bờ?

 Lắng nghe chăm chú, giáo sư Thành chợt hiểu ra vì sao Đường hay mở băng nghe tình khúc “Đôi bờ” nhiều như thế. Ông thực sự cảm thông và chia sẻ: Cái gì qua thì cũng qua rồi. Đường thương yêu con bé Tâm là sự thật không thể phủ nhận. Bây giờ, Hiên nói ra phỏng có ích gì? Sao lại bắt người đàn ông tật nguyền mà mình quá yêu thương phải chịu nỗi đau đường đột này khi sắp phải từ giã cõi trần gian. Con bé Tâm sẽ như thế nào khi biết sự thật người nó hết mực yêu thương kính trọng lại không phải là cha mình. Hãy cứ coi như chưa có chuyện gì xảy ra để người chồng tội nghiệp ra đi nhẹ nhõm và thanh thản.

Người đàn bà ấy đã khóc. Những giọt nước mắt bị kìm nén lâu ngày được dịp tràn ra. Giáo sư Thành biết, chị nói ra điều ấy và khóc được là lòng không trĩu nặng nữa.

Đôi vai gầy lại lẫn vào màn đêm, người đàn bà trở lại phòng bệnh với chồng mình. Tiếng chim lợn vẫn kêu ghê rợn và giai điệu tình ca “Đôi bờ” da diết vẫn văng vẳng xa gần trong đêm dài khuya khoắt…

*

Dạo ấy, tháng ba. Hoa gạo nở rồi rụng đầy dưới gốc những cánh mềm đỏ sậm. Mưa phùn lất phất. ẩm ướt, các mảng tường nước chảy dầm dề. Bệnh viện Chấn thương được lệnh di chuyển sang phía nam bờ sông Hồng, đề phòng nếu đánh nhau to thì đưa thương binh về mạn Hòa Bình cho an toàn.

Gần một tháng trời vất vả, từng đoàn xe chở mấy trăm thương binh, giường tủ, trang thiết bị, chạy vòng xuống Hà Nội rồi lại ngược lên Sơn Tây, đến Bệnh viện quân y 105, nơi ngã ba Sơn Lộc, đường rẽ lên Ba Vì. Những ngày chủ nhật, ngoài đường nhan nhản bộ đội đi lại. Vùng đất đá ong, ngày nắng chói chang khét lẹt; ngày mưa thì nước ào ào, xối xả; tiếng sét đánh chói tai, chớp vạch sáng nhì nhằng. Con người cặm cụi lo âu, ngày đêm nghĩ cách sinh nhai. Đường nổi tiếng là “anh hai” trong số mấy chục thương binh nặng. Cán bộ nhân viên, bệnh nhân không ai dám dây với Đường nghiện. Ông đại tá giám đốc quân y viện, mỗi khi gặp Đường cũng phải dịu giọng, vỗ về. Lúc hết cơn nghiện morphin, Đường lành hiền, dè dặt ôm đàn ghi ta hát những bản tình ca. Vậy mà, khi đói thuốc, anh không kiểm soát được bản thân mình. Trong khoa, Đường chỉ còn nể nhất bác sỹ Thành - người đã trực tiếp mổ cho anh cả chục lần, lấy ra bao nhiêu mảnh gang lớn nhỏ của quả mìn chống tăng. Cơ cực nhất là cái lần nhiễm trùng mỏm cụt đùi sát bẹn, hoại tử lan rộng, nở xoè ra như cái bắp cải, suốt ngày bốc lên mùi thối khăm khẳm. Thành phải trực tiếp thay băng, nhỏ giọt dung dịch pha kháng sinh Penicillin và thuốc tím vào mỏm cụt để những đám thịt thối rụng dần.

Một buổi chiều, vào lúc trời nhá nhem tối, Thành đang ngồi bên giường trò chuyện với Đường thì đột nhiên máu phụt ra từ cái mỏm cụt. Máu chảy xối xả, mạnh như vòi nước. Mặt Đường tái nhợt, vã mồ hôi lạnh. Thành nhanh như cắt dùng đầu ngón tay bịt vào chỗ máu chảy, miệng gọi to mọi người hỗ trợ đưa Đường thật nhanh lên phòng mổ. Đường chỉ nhớ láng máng tiếng bước chân chạy rầm rập, bóng bác sỹ Thành tất tưởi chạy theo, bàn tay vẫn không rời vừa chạy vừa bịt vào chỗ mỏm cụt máu chảy lênh láng, thấm ướt hết cả chiếc quần công tác màu trắng, máu bắn lên cả ngực Đường. Thiêm thiếp rồi mê man, Đường không còn biết gì nữa. Nếu hôm ấy không có Thành ngồi bên và xử lý kịp thời, mổ cầm máu ngay thì chắc chắn Đường đã chết... 

Giáo sư Thành vẫn nhớ, khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc thì các vết thương chằng chịt trên cơ thể bệnh nhân cũng lành sẹo và bắt đầu ăn da non. Cái gì mất đã mất rồi, mới biết cái gì còn quý giá biết chừng nào. Nhưng cũng có lúc họ bất chợt nhìn thân hình co dúm tật nguyền của mình và của bạn, lòng dạ ai cũng trĩu nặng, hoang hoải. Cơ thể tàn phế thê thảm, đến mình ngắm mình còn sợ hãi, còn ái ngại thì ai thương? Người bị vết thương gãy cột sống liệt tủy, từ rốn trở xuống không còn cảm giác và khả năng vận động. Cứ năm bảy ngày lại tự đeo găng móc phân ra. Nước tiểu thì chảy theo ống dẫn lưu nối với bao cao su buộc vào dương vật, lúc nào túi nilon cũng treo ở cạnh sườn hay bên thành giường. Khi túi gần đầy thì tháo vòi cho chảy xuống cống. Người thì mù đôi mắt, mất hai chân, may mắn còn sót đôi tay, mặt xám xịt nham nhở những sẹo là sẹo như người bị rỗ hoa…

Nhìn thấy họ, người bất hạnh đồng cảm, chia sẻ; người may mắn thì xót xa, ái ngại. Vậy mà, đôi khi Thành vẫn thấy họ ngồi trên xe lăn cầm đàn ghi ta nghêu ngao hát nhạc đỏ, nhạc xanh và cả nhạc vàng, thậm chí lúc cao hứng còn lẩy một vài câu vọng cổ. Thường là họ hát liền tù tì một liên khúc: Hành quân đêm, Cuộc đời vẫn đẹp sao đến bài Nỗi buồn hoa phượng... Nôn nao, xốn xang nhất là mỗi khi chàng thương binh Đường cất giọng hát tình khúc “Đôi bờ” lời Grigori Mikhailovich Pozhenyan do Andrey Yakovlevich Eshpai phổ nhạc: “Trên dòng sông, sóng đôi nhau, thiên nga đùa trên sóng/ Bên bờ sông vai sánh vai nhau, đôi đôi bước theo dòng / Mình em riêng đứng ngóng trông anh, với tình yêu thiết tha/ Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa...” Bài hát Nga lãng mạn man mác buồn, Đường thuộc lòng từ dạo chưa đi bộ đội, xem bộ phim Khát ở bãi cỏ làng. Hình ảnh những con thiên nga trắng cặp đôi nhởn nhơ bơi cạnh nhau bình yên trên dòng sông và các bạn gái ríu rít bên người yêu làm thiếu nữ chợt chạnh lòng. Nàng nghĩ đến tình cảnh đơn lẻ của mình và người con trai cứ như hai bờ của dòng sông chẳng bao giờ gặp nhau. Dù vậy, thiếu nữ vẫn nuôi hi vọng thiết tha chờ đợi.

*

Hồi ấy, Thành cũng chưa vợ, mỗi năm vài lần cùng đoàn công tác Quân y viện lên khám bệnh điều trị cho Trại an dưỡng. Chợt nghe thương binh nghêu ngao hát, Thành lại thấy xót xa. Tâm trạng Thành luôn bất yên, nôn nao không chịu đựng nổi mỗi khi nghe Đường hát “Đôi bờ”. Đường hát cho mình, cho đồng đội hay hát cho đời? Nhưng, cô hộ lý Hiên lại rất thích nghe “Đôi bờ”, và thuộc lúc nào chẳng biết. Đôi khi, Thành bắt gặp Hiên chìm đắm vào thanh âm ghi ta bập bùng, xốn xang và lời bài hát da diết. Anh cảm giác như Hiên đang chìm vào khát vọng yêu bởi không gian âm thanh mê dụ. Hiên chưa yêu ai và cũng chưa có ai yêu. Dường như tình ca “Đôi bờ” đang nói hộ nỗi lòng của Hiên.

Dạo đó, lên mạn Tây Bắc còn thấy hoa anh túc nở rợp trời. Hầu như cả nhóm thương binh nặng ở trại Thuận An đều hút thuốc phiện. Đầu giường anh chàng nào cũng có ống bơ sữa bò đựng thứ keo đen xì như nhựa đường. Ai có nhu cầu hút thì hút. Hút cho đỡ đau, không có thuốc thì ngủ sao được. Mỗi khi nhắm mắt lại thấy cái đau ở đâu đó trồi lên hành hạ. Cái chân bị cắt bỏ vứt đi, chôn ở chiến trường nhiều năm rồi mà Đường vẫn thấy còn nguyên cảm giác đau nhức vừa cụ thể vừa mơ hồ. Thành phải đem kiến thức y học ra giải thích, đấy là cảm giác “chi ma”. Thương binh cảm thấy cái chân vẫn còn, dù đã bị cắt cụt. Cảm giác “chi ma” luôn đeo đẳng hành hạ Đường. Thỉnh thoảng, anh vẫn thấy như muỗi đang đốt nhoi nhói dưới bàn chân, quờ tay xuống gãi, hoặc đập hụt vào không khí, giật mình mới biết cẳng không còn.

 Thương binh nặng, di chuyển trên những chiếc xe lăn, tiêu chuẩn được riêng một hộ lý chăm sóc. Chín mươi phần trăm cô gái hộ lý quá lứa nhỡ thì, họ chăm sóc thương binh, ngoài trách nhiệm và tình thương còn vì mưu sinh. Cũng là một nghề ổn định được lĩnh lương, hết tuổi lao động được nghỉ hưu. Nhưng, suốt tháng này qua năm khác, âm u miên man trong bốn bức tường rào. Đêm ngủ không tròn giấc, thảng thốt giật mình bởi tiếng thương binh đau đớn kêu rên. Sáng, mở mắt ra đã thấy người cụt người què, người không lành lặn. Nếu không có tình thương thì chẳng ai chịu nổi vài tuần.

Thời gian trôi nhanh như bóng câu chớp qua cửa sổ. Lúc vào nghề cô hộ lý nào mặt cũng non choẹt, má hồng, ngực vun đầy căng ních áo; ngoảnh đi ngoảnh lại giật mình thấy mắt rạn chân chim, ngực lép, hết thì quá đát. Dĩ nhiên, thời gian và đau đớn cũng kịp biến các chàng thương binh trẻ măng thành các ông trung niên tật nguyền. Thời gian tàn phá con người cũng khắc nghiệt y như chiến tranh. Chiến tranh có bao nhiêu chàng trai chết trận, con số là hàng triệu, thì cũng từng ấy người con gái thừa ra. Lúc đầu, Thành có cảm giác các cô gái hộ lý và các chàng trai thương binh tựa hồ như hai bờ sông. Dòng nước thì chung còn đôi bờ thì mãi mãi chẳng bao giờ gặp nhau. Về sau, các cô gái hộ lý và các chàng thương tật ở Trại an dưỡng Thuận An lại khớp nối vào nhau như một lẽ tự nhiên của tạo hóa. “Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo”, người thương yêu thật lòng, kẻ lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, người thấy trách nhiệm với người ra trận; dần dà như đũa có đôi, đâu cũng vào đấy cả. Thương binh được tiêu chuẩn cao, ngoài tình cảm và trách nhiệm thì đằng nào các cô cũng phải phục vụ. Vả lại, cũng là nương tựa lẫn nhau sau những ngày giặc giã, khi tắt lửa tối đèn. 

*

Trại an dưỡng phân công Hiên chăm sóc Đường. Khi ấy, chị đã thuộc gái quá lứa nhỡ thì, hơn Đường mấy tuổi. Căn phòng của Đường vốn ngổn ngang, bừa bộn, thậm chí hơi bẩn và lúc nào cửa sổ cũng đóng âm u tối, bỗng sáng bừng lên bởi sự có mặt của người con gái. Hiên mất một buổi chiều quét dọn, lau rửa, sắp đặt đồ đạc. Cái vỏ chăn bộ đội màu cứt ngựa lâu ngày quá không giặt, bộ quần áo cáu ghét, cái khăn mặt màu cháo lòng… và nước lạnh đầu đông làm tấy đỏ đôi tay Hiên. Ngượng ngùng rồi cũng qua đi. Nụ cười hiền bẽn lẽn và ánh mắt nhìn như biết ơn của chàng trai độc thân thương tật thay cho lời nói. Hiên khuyên Đường bỏ thuốc phiện. Hiên “lôi” Đường ra hồi nhà cắt mái tóc cợp đến tận gáy. Rõ là “có trai có gái mới nên xuân”, các cụ ngày xưa nói chẳng sai. Căn phòng có hình bóng và mùi con gái làm cho Đường bớt cục cằn và anh biết ý tứ, cẩn trọng hơn.

Đường vẫn nhớ một vãn chiều mùa đông. Trời âm u, xám xịt gợi cảm giác buồn, hoang hoải. Bên trong căn phòng cũng mờ mờ tối, heo hắt, bóng đèn điện đỏ quạch, lúc sáng yếu ớt, lúc tắt. Giúp Đường ăn bữa tối xong, Hiên lúi húi dọn dẹp, rửa bát đĩa. Lưng hơi cúi, bờ vai nhỏ nhắn như bị chìm vào màn tối mờ ảo. Cặm cụi và có phần nhẫn nhịn. Thương quá! Đường lại thoáng nghĩ đến thân phận mình lẻ loi: Một đôi đũa. Một cái thìa. Một bát con. Một cái chậu. Một cái đĩa...

Khi ấy, Đường cũng không hề biết có một ý nghĩ đơn chiếc đang đeo bám Hiên. Chị nhận ra căn phòng Đường ở cái gì cũng lẻ: Một xe lăn. Một giường cá nhân. Một thân một mình. Hiên cũng lẻ loi như Đường. Trống trải tràn ngập trong lòng, Hiên se sắt thèm một bờ vai ấm áp của người đàn ông để gục vào nương tựa. Kéo nhẹ chiếc ghế đẩu, Hiên dịu dàng ngồi xuống cạnh giường. Chị cúi người sẽ sàng kéo tấm chăn dạ ở phía bên trong tường để vuốt lại tấm ga trải giường cho phẳng. Có một hòn than đỏ dần trong lòng Hiên. Vầng ngực Đường rắn chắc và mùi đàn ông làm Hiên rạo rực. Còn Đường thấy lòng cựa quậy, bổi hổi bồi hồi. Chùm sợi tóc con gái còn ướt buông rủ xuống mặt Đường. Mùi hương thơm bồ kết, hương nhu dìu dịu. Lòng xốn xang, Đường cố nhìn rõ khuôn mặt Hiên đang bị che khuất bởi những sợi tóc trải rộng như tấm rèm nhỏ. Chẳng biết vô tình hay cố ý, Hiên không mặc áo trong, đôi bầu vú trượt ngang qua ngực Đường. Hương thơm và cảm giác đụng chạm làm cho người đàn ông thương tật chưa một lần biết mùi đàn bà, bủn rủn cả chân tay. Máu chảy nhanh rần rật. Khi Hiên kéo tấm chăn phủ lên đến ngực Đường thì bàn tay của hai người như vô tình chạm vào nhau. Có một ngọn lửa bùng lên trong lòng Hiên. Tự nhiên bàn tay giữ chặt lấy bàn tay. ấm áp rồi nóng bỏng! Đường nhớ đã có hẳn một khoảng lặng nhỏ và chút đắn đo do dự.

- Đừng! Hiên đừng... Tôi...

Ngọn lửa trong lòng Hiên chỉ còn le lói cháy:

- Em yêu anh thực lòng mà...

- Đừng! Tôi thân tàn... ma dại...

Ngọn lửa lòng Hiên nguội tắt. Khóc nức lên. Đôi vai nhỏ gầy run run. Tóc mai bết nước mắt. Hiên lao ra ngoài cửa. Đường tì hai tay chống, đỡ người nhỏm dậy. Anh chỉ còn kịp nhìn thấy cái eo thon chìm vào tối chạng vạng đầu đông.

Ngẩn ngơ một lát, Đường nằm vật xuống giường. Cảm giác không hề ân hận trộn lẫn tiếc nuối khiến lòng anh ngổn ngang.

*

Một tuần sau, người được phục vụ và người phục vụ vẫn lặng lẽ khi có việc gần nhau. Đường không chịu nổi không khí trầm lắng, nặng nề và có phần gượng gạo, anh với tay lấy cây đàn ghi ta. Cùi tay đập vào thùng đàn rồi dạo bản nhạc quen thuộc. Từng giọt thanh âm tràn ngập căn phòng và lọt ra ngoài trời đêm. Cái lưng hơi gù cong như dấu hỏi, đôi mắt buồn xa xăm lấp lánh ánh đèn. Nhìn Đường, thương quá! Bất chợt, Hiên lao đến nắm lấy cần đàn. Âm thanh câm lặng. Hiên tức tưởi:

- Đường ơi! Em thương yêu anh thật lòng.

Gỡ tay Hiên khỏi cần đàn, bàn tay khác giới chồng lên bàn tay, Đường ngước gương mặt có đôi mắt buồn nhìn lên. Đuôi tóc con gái lất phất quệt vào mặt vào cổ gã trai khô hạn. Hương thơm dìu dịu của lá chanh lá xả từ mái tóc chưa thật khô thoảng bay vấn vít. Cảm giác xốn xang bởi đụng chạm giữa hai sinh linh tự do, cô quạnh, một đực một cái... đã vít họ lại với nhau. Tình cảm nhất thời bùng phát cộng với bản năng khao khát dài ngày như cánh đồng hạn khô nứt nẻ đợi cơn mưa đầu mùa. Hai bàn tay Đường tự động lùa vào mái tóc dày phía sau gáy Hiên, rồi kéo nhẹ đầu cô về phía ngực mình. Hiên không hề phản ứng, cô để mặc cho bàn tay Đường lúc chậm, lúc vội vàng cuống quýt lùa xuống bầu ngực căng đầy, men sang bờ vai rồi lần xuống phía dưới hông. Bàn tay chắc nịch mơn man, siết mạnh làm cho thân hình Hiên đờ đẫn. Hơi thở dốc và trống ngực gõ gấp gáp thình thịch.

ánh trăng xanh yếu ớt tràn qua khe cửa sổ vào căn phòng nhỏ. Nhấp nhóa hai nét vẽ hình trăng khuyết cong cong neo trên bầu ngực căng đầy; bất ngờ đường cong bị lật lại mất biến để rồi hiện ra đường cong mới uốn mềm mại từ eo hông lượn theo đường viền mông xuống dưới đùi của người con gái. Im lặng gần như tuyệt đối. Chỉ có tiếng thở hào hển của hai kẻ đang cùng khao khát. Dù vất vả, vụng về nhưng Đường cũng làm được cái việc đàn ông đối với đàn bà. Họ cứ để nguyên vậy, nằm bên nhau và ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau, Hiên bần thần nhớ lại chuyện xảy ra trong đêm, rồi gương mặt cô hồng lên rạng rỡ, cố giấu đi nụ cười mãn nguyện. Vậy là, Hiên đã ở lại trên giường của Đường cho tới sáng. Đêm dài qua.

Sau cái đêm đột nhiên vần vũ ấy, Đường và Hiên định cùng nhau mở một quán bán hàng ở chợ cóc, sẽ ở lại trại lâu dài đến hết đời. Nhưng, suy đi tính lại, cả hai cùng xin thanh toán tiêu chuẩn, rồi về quê. Họ hàng mừng rỡ vì Đường về ở hẳn nhà. Anh không nghiện thuốc phiện nữa mà còn đem theo một người rưỡi. Hiên có thai, trông cũng chẳng đến nỗi nào, mà có phần nái nẩm. Cái bụng to tròn của Hiên làm cho bà mẹ Đường vui mừng. Bà cười móm mém, sai mấy đứa cháu họ làm ngay mâm cơm, thắp hương tạ ơn tổ tiên đã phù hộ độ trì. Bà thì thầm khấn khứa, cầu mong linh hồn chồng về nhà gặp con, gặp cháu. 

Bẵng đi hai chục năm, thời gian thoi đưa.

Một dạo, Hiên thấy chồng gầy sút hẳn đi. Đêm ít ngủ. Khuya khoắt vẫn đăm chiêu bên chén rượu. Chị nghĩ Đường uống cho cảm giác đau bớt đi.

Thực ra, đợt điều trị mới nhất ở Quân y viện, Đường đã đọc lén được bệnh án trong một đêm trắng thao thức. Y tá trực ngủ tít, sinh viên cũng vắng bóng. Hồ sơ của bệnh nhân để đầy trên bàn trong buồng hành chính.

Đường choáng váng khi biết mình có khối u ác tính ở hố chậu, phát triển từ vỏ dây thần kinh. Giữa khối u còn nguyên cả mảnh gang từ quả mìn nhãn hiệu USA. Hạch di căn trên hố nách. Hội chẩn phải mổ càng sớm càng tốt, sau mổ phải chạy tia rồi truyền hóa chất. Tiên lượng xấu. Ôi dào! Đường nghĩ thầm và buông tiếng thở dài. Ung thư giai đoạn cuối rồi. Vớt vát làm gì. Thế là hết! Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Thần chết hình như quanh quất đâu đây. Có một thân hình gầy còm, nét mặt nanh ác, khoác chiếc áo đen rộng thùng thình ngồi vắt vẻo trên chạc ba cây gạo già bên kia con đường, vẻ mặt vô cảm, đón đợi. Những con quạ đen mắt hau háu trực sẵn trên cành cây sắp lao xuống con mồi...

*

Gần sáng, giáo sư Nguyễn Đình Thành bước vào phòng bệnh. Đường thò tay vặn nhỏ âm thanh cát xét, nhưng giáo sư vẫn nghe được tình khúc “Đôi bờ”. Hiên ý nhị bước ra ngoài rồi khẽ khàng khép cánh cửa để cho giáo sư Thành và chồng có một không gian riêng.

- Đường có chuyện gì phải không?

Đường không rào đón trước sau, bảo:

- Anh Thành ạ. Con bé Tâm không phải là con tôi. Tôi nghĩ, anh là thầy thuốc, anh rất hiểu và biết bệnh nhân của mình.

- Anh nghĩ, có lẽ điều bí mật duy nhất này, Hiên còn giấu chú. Tôi tin là cô ấy cũng rất dằn vặt và khổ sở. Điều căn bản, chú và cháu Tâm đã là những người yêu thương gần gũi nhất trong cuộc đời cô ấy.

- Anh ạ. Ngay từ ngày đầu, tôi đã biết cháu Tâm không phải là con đẻ của mình.

- Tôi tin Hiên không lừa dối chú. Cô ấy thương yêu chú. Trên thực tế, chú đã yêu thương Hiên và thương con bé Tâm chả khác gì con đẻ của mình.

- Vâng! Nhưng, tôi rất lo cháu Tâm ra trường sẽ không xin được việc làm. Tôi chết thì hai mẹ con cháu sẽ khổ lắm, chả biết trông cậy vào đâu. Cháu cần phải biết bố đẻ cháu là ai để đi tìm, để nương cậy. Tôi nhờ anh thuyết phục Hiên trả lại cha đẻ cho cháu…

Đến lúc này, giáo sư Thành thực sự bất ngờ. Đường cao cả và sâu sắc hơn những gì Hiên nghĩ. Đường tốt quá và Hiên cũng tốt quá.

- Chú Đường thử nghĩ, đã đến nước này có nên cứ để như chưa có chuyện gì xảy ra? Cuộc đời lúc nào cũng trần trụi, rõ ràng quá… chưa chắc đã tốt đâu. Còn công việc cháu Tâm, để anh lo. Chú Đường cứ yên tâm điều trị.

Đường cố kiềm chế xúc động, không để nước mắt trào ra. Anh miên man nghĩ: Có thể Hiên đã cho rằng anh tuệch toạc không biết là mình mất quyền làm cha. Hiên chủ động đi kiếm đứa con, để anh cứ nghĩ mình đã sinh ra nó, yêu thương nó bằng tình phụ tử với con đẻ chứ không phải là con nuôi. Thực ra, Hiên không lừa dối anh, mà hành động rất nhân văn như là một cách mang hạnh phúc đến cho anh… Đường rất muốn nói với giáo sư Thành như thế mà không cất nổi lời.

Trời rạng sáng. Đêm dài qua.

Con bé Tâm ào vào phòng. Tíu tít mừng rỡ chào giáo sư Thành, chào bố. Tay cầm cặp lồng đựng đồ ăn sáng, tay cầm bó hoa tươi, con bé chụm miệng hôn đánh chụt một cái lên trán bố. Hiên bước theo vào, rưng rưng nhìn chồng và con. Cái cách âu yếm tinh nghịch, thân mật của đứa con gái mới lớn với người cha thương tật khiến giáo sư Thành xúc động và yên tâm. Cuộc đời rõ ràng quá đôi khi lại khiến cho người ta đau lòng. Có những sự thật của người lớn cần phải cất giấu để không làm đổ vỡ tình thương yêu của con trẻ.

Con bé Tâm sà xuống cạnh giường bệnh, đấm bóp xoa nhẹ lưng cho người cha thương tật. Như một thói quen, nó vặn núm điều chỉnh cát xét cho âm thanh to lên một chút và se sẽ hát theo: “Đêm dài qua, ánh ban mai đang lan tràn dâng tới…

Lời bình:

Thêm một câu chuyện về nỗi đau của thời hậu chiến. Anh là thương binh nặng, có chế độ được người chăm sóc. Chị là hộ lý đã đứng tuổi, tình nguyện nâng giấc và yêu thương anh. Khi biết anh còn thêm bệnh hiểm nghèo và vô sinh, chị đã đi kiếm một đứa con như chính vợ chồng mình sinh ra để làm chỗ nương tựa cuộc đời. Tưởng đã yên, nhưng dần dà chị thấy mình thêm một vết thương nữa: ấy là mình đã trở thành kẻ lừa dối! Chị muốn thú nhận. Nhưng, những đêm thanh vắng, chị muốn giãi bày việc ấy, anh lại nâng cây đàn ghi ta dạo bản tình ca “Đôi bờ”, một bài hát Nga mà anh yêu thích từ tuổi thiếu thời. Sự thực là anh đã biết hết! Bên cạnh cặp vợ chồng rất “hoàn cảnh” này còn có thêm một nhân vật là ông bác sĩ đã tận tâm, tận lòng như một người anh ruột. Ông đã khuyên anh thương binh thế nào? Lời khuyên không mới, và cả câu chuyện cũng không mới phải không các bạn? Nhưng, đây vẫn là một truyện ngắn vững và ám ảnh; ấy bởi cái tình của người viết. Không cần những thủ pháp, ngón nghề cao siêu, tác giả cứ thì thầm, dung dị và rất thực lòng kể một câu chuyện đời cảm động khiến người đọc lắng nghe và tin cậy.

Nguyễn Tiến Bình hiện đang công tác ở ngành Quân y. Ta có thể hiểu giáo sư Nguyễn Đình Thành trong “Đêm dài qua” chính là tác giả. Hẳn người đọc sẽ còn muốn được biết nhiều chuyện trong chốn “lương y như từ mẫu” của Nguyễn Tiến Bình?!

Nhà văn Nguyễn Khắc Trường

 

 

GIA PHẢ MÙI RƠM RẠ

Truyện ngắn của Thu Trân

Nhà văn Thu Trân (Nguyễn Thu Trân)

- Người gốc Biên Hoà (Đồng Nai).

- Tác phẩm đã xuất bản: Đường bong bóng bay (1993), Con mèo lửa (1995), Những dòng sông búp bê (1998), áo đen viền trắng (2001), ông thầy cũ kỹ (2002), Bốn người nhẹ như chiếc lá (2005), Hồ thiêng (2007), Chông chênh ngọn gió trở về (2008), Hộc bàn không còn muối ớt (2009), Xanh đỏ dịu dàng (2011)...

- Hiện là biên tập viên tạp chí Đương Thời (TP.HCM).

 

Bà đứng tần ngần giữa nghĩa trang quê nhà mùa nước nổi, nước lấp xấp dưới chân, tiếng ếch nhái à uôm buồn da diết. Mùa này ở quê bà, gió tràn đồng se sắt, từng cơn từng cơn, lạnh đến tê người. Ngoài kia, lé đé bờ con kinh Xáng, bông điên điển rụng vàng mặt nước. Cô cháu gái nắm chặt tay bà nhắc lại:

- Về thôi, nội! Trời tối rồi!

Bà giật mình như sắp sửa mất một cái gì vĩnh viễn:

- ừ, để nội, chờ một chút. Con đốt dùm nội thêm nắm nhang!

- Hồi nãy giờ nội đốt nhang mấy lần nhớ không?

- Cứ đốt, nội đâu có nhớ, con! Lần này chắc là không nữa…

Nói vậy nhưng cô cháu vẫn chiều lòng bà. Trước khi đưa bà về quê, cha cô đã dặn: “Kệ, ráng chiều bà nội, năm nay bà tám mươi tám tuổi rồi, yếu lắm, về lần này biết còn có sức để lần sau”. Nắm nhang được đốt lên, bà lại run run cầm và cắm trên ba ngôi mộ liền nhau: mộ ông năm Sọc, mộ ông sáu Ngàn, mộ dì hai Nghĩa. Mộ mẹ bà nằm xa hơn đó một chút, phải lội nước bước qua. Gió cũng hanh hao nhắc bà nhớ mộ này chỉ là ngôi mộ gió. Qua những chuyện đau buồn thật lâu bà mới trở về làng. Mọi người bảo sau khi ông năm Sọc bị Việt Minh xử tội, mẹ bà được mọi người thả ra, rồi sau đó bỏ nhà đi biệt tích. Biết sao được, bà đành làm ngôi mộ gió, mộ không có phần xác, chỉ những mong có phần hồn mẹ trở về chứng giám cho lòng đứa con khổ đau và lưu lạc. Cô cháu hỏi loanh quanh:

- Nội ơi, con phải gọi ông năm Sọc là ông gì? Ông cố hay ông sơ?

Bà ậm ừ như mơ:

- Không là ông gì cả…

- Vậy sao nội bảo ổng trong họ hàng gia tộc?

- Không lẽ bỏ ổng rồi bỏ luôn ông sáu Ngàn…

Làn gió lạc thổi qua làm bà rùng mình ớn lạnh sau câu nói chỉ như lấp lửng cho riêng mình. Mặc cho cô cháu đứng ngây người bảo nội thật là khó hiểu, ký ức hơn bảy mươi năm của cô thôn nữ tên Hận là bà ngày nào ào ạt tràn về… Hành lang dài, tối hun hút với những song tre hai bên ngày ấy như mãi kẽo kẹt trôi theo đời bà. Người ta gọi đấy là nỗi buồn truyền kiếp mà trong ký ức già nua, nhoè nhoẹt của bà lúc có lúc không…

*

Làng quê xa mờ ngày ấy như yên tĩnh lắm với những cánh đồng cò bay thẳng cánh của nhà ông năm Sọc. Ông là chủ điền nhưng không mấy gieo tiếng oán cho lớp người bần nông trong làng; thứ nhất không hiếp con gái tân của tá điền như cha ông đã từng hiếp, thứ hai lúa tô đong mùa nào thu mùa đó; không cấn trừ để phết phẩy lung tung, nhưng phải đủ, không được thiếu hay thừa một hột. Bọn trẻ trong làng mê mải nhà ông với vườn trái cây trĩu quả quanh nhà. Xoài, mận, ổi treo lúc lỉu bốn mùa ngàn ngạt gió sông. Thú vị hơn với bọn chúng còn có ông sáu Ngàn tuổi đã trung niên nhưng cứ dài dại, không bao giờ chịu lớn. To con, bảnh trai, sáu Ngàn vận đồ Tây thắt cra-vát kéo mấy lon sữa bò giả làm xe chạy pin pin suốt ngày quanh chợ quê. Có lúc bọn trẻ phát hiện sáu Ngàn ngoẹo đầu ngoẹo cổ ngủ gà ngủ gật trong xó chợ. Thế là đánh thức ông ta dậy, chúng hò reo áp tải ông ta về, cả bọn được ông năm Sọc thưởng cho một rổ mận rụng tơi bời bên sông. Với các bà các chị trong làng, chuyện nhà ông chủ điền quả thật đáng tội quanh mấy cái quần xì-líp đủ màu của bà chủ phơi mút cuối vườn. Ngoại trừ sáu Ngàn được “đặc cách” cho đi lung tung, còn lại không ai được bước chân ra khỏi nhà nếu không được sự đồng ý của ông chủ. Mỗi lần bà chủ đi đâu đó về lại oằn mình với ông chủ bởi những thủ tục kỳ quái và nghiêm nhặt. Chuyện này có quỷ thần hai bên vai chứng giám, thằng Ca thọt, người ăn kẻ ở duy nhất trong nhà năm Sọc thề bán sống bán chết kể lại với người làng. Đầu tiên là bà năm phải leo lên giường nằm, tự tay ông năm cởi quần lót của bà ra kiểm tra, săm soi đến đầu đến đũa rồi cũng tự tay ông đi giặt và phơi ở hàng ranh cuối vườn. Xong ông trở vào hành sự, bà năm miễn cưỡng chiều chồng, nước mắt ướt đầm áo gối trắng tinh. Trước khi bà ra khỏi nhà vì chuyện chi chi đó thì cũng chính tay ông phải mặc quần lót cho bà. Cô hai Nghĩa, cô con gái đầu có chút chữ của năm Sọc cũng phát cuồng vì cách hành xử kỳ lạ của cha. Những lời đối thoại này do chính các cô các bà trong làng nghe qua hàng ranh chứ không phải từ những điều Ca thọt kể lại:

- Thưa cha, cha làm như vậy có quá đáng với má không?

Một làn roi rít lên:

- Đồ con bất hiếu, áo mặc sao qua khỏi đầu mà bày đặt vặn vẹo?

- Chữ trinh của má còn có trăm đường để gìn giữ với cha, cha làm như vậy là sỉ nhục phụ nữ…

Vút, vút, vút… Tiếng roi quất không thương tiếc… Năm Sọc gầm lên như con thú dữ bị nhốt trong chuồng:

- Tao không điên, tao làm như vậy là để bảo vệ tài sản của tao, nó là mồ hôi nước mắt của ông bà tao để lại, tao không ăn bớt ăn sớt hột lúa của ai nhưng mà con nào thằng nào đó cũng đừng hòng! Mẹ con bây nói đi, đã có bao thằng lăm le ngoài hàng ranh để đấu hót với ba con ngựa cái nhà này, một hột lúa của tao cũng không được chui qua khe cửa đi đâu! Mẹ con nhà mày ra hết đây tao biểu!

Qua kẽ lá của hàng ranh, các cô các bà trong làng thấy ba người đàn bà nhà năm Sọc bị bắt đứng xếp hàng không quần không áo dưới những làn roi của người cha người chồng thô bạo. Thấy bất bình và tội nghiệp cho họ nhưng các cô các bà vẫn xuýt xoa khi tan hàng, đẹp thiệt, công nhận đàn bà nhà giàu đẹp thiệt, trắng như bông bưởi từ trong tới ngoài, nõn nà như hình mẫu, nhứt là cái thân hình ngọc ngà của cô ba én…

Sáng hôm sau, hôm sau nữa thì nhà năm Sọc mở cửa làm ma, cô hai Nghĩa treo cổ chết tức tưởi. Được một thời gian thì các cô các bà trong làng cũng thấy mất hút hàng quần xì-líp đủ thứ màu của bà chủ sau hàng ranh. Thằng Ca thọt đứng chạng chân giữa chợ vừa xước mía vừa ba hoa, đi rồi, bà năm chịu không nổi, trốn mẹ nó đi rồi, để dễ bề hành sự với cô ba én, thằng cha già đã đuổi tui ra khỏi nhà, ở đợ cho nó mười năm, không cho thêm một cắc… Bà tám Xô bán khoai lang ngồi gần đó cũng thở dài: “Mẹ cha cái thằng cha nhà giàu nứt đố đổ vách mà ăn ở vô nhân, nhớ hồi đó nó mướn ông hai Bảnh coi vườn được đâu đó cũng chục năm, đến lúc cây ra trái sum suê thì nó cũng đuổi, không cho thêm một cắc lận lưng làm vốn. Nghe đâu sau này hai Bảnh chết bất đắc kỳ tử thì nó cũng chớ hề tới nhà thắp cho cây nhang!”. Sáu Ngàn đứng lẫn trong đám đông nghe Ca thọt kể chuyện nhà mình, giữa mọi người nhí nhố nói cười chuyện tục tĩu, ông ta cũng cúi đầu cười lỏn lẻn như vô can rồi khoát tay chui ra khỏi đám đông, đoàn xe nối dài bằng mấy lon sữa bò lại sục xào chuyển động:

- Tránh dzô, tránh dzô, xe tui đi Vàm Cống, Cái Tàu hạ nè, mại dzô, mại dzô! Pin pin pin…

Chuyện nhà tan hoang, cô ba én cũng muốn trốn đi theo mẹ nhưng không có cách nào, đành ở lại với gương mặt buồn như đưa ma. Ca thọt bị cho nghỉ, cô phải cáng đáng hết mọi việc trong nhà; từ thu lúa của tá điền đến cơm nước, quét tước và chăm sóc người chú ngây dại. Đến một ngày, cô thấy cha gọi người bán hết ruộng. Ông ngồi đếm đếm tỉ mẩn trước đống tiền to đùng, cô đánh bạo thưa:

- Bán hết ruộng rồi lấy gì sống, cha?

- Tiền này cha con mình sống tới chết cũng không hết!

- Còn chú sáu Ngàn?

- Ôi xời cái thằng khùng đó lớn bằng cơm đường cháo chợ, hơi đâu mà lo!

- Để ruộng vẫn đỡ lo hơn cha à…

Hàm năm Sọc bạnh ra:

- Không hỏi lung tung nữa, tao chán lắm rồi cái miệng đen ngòm của thế gian; ghê tởm lắm rồi ánh mắt hám của của mấy thằng đàn ông khi nhìn má mày, chị mày; tao muốn thế gian này vĩnh viễn khép lại, mặt trời này tắt đi, kể từ ngày mai, không một ai ngoài hai cha con mình được bước vào ngôi nhà này, biết chưa?

- Còn chú sáu Ngàn, cha?

- Đời cha ăn mặn đời con khát nước, thằng khùng này có cũng như không!

Cô ba én lờ mờ nhớ má kể chuyện họ hàng nhà nội nghe như mơ hồ lắm, đến cái tên cúng cơm của ông nội, cha cũng không buồn cho má biết. Má là con tá điền, nhờ nhan sắc nên được lấy con trai chủ điền trừ nợ, biết vậy thôi, biết nhiều hơn cũng chẳng để làm gì.

Một đêm mưa dầm rả rích, năm Sọc vén rèm bước vào khi cô ba én đang nằm co ro vì lạnh trên giường. Ông ngồi xuống nắm lấy tay cô.

- Có chuyện gì vậy cha?

Ông luồn tay vào bầu ngực trinh nữ người con gái, ba én hốt hoảng vùng dậy:

- Không được! Không được làm vậy, cha!

Bằng sức mạnh của người đàn ông tuổi bốn mươi, năm Sọc ghì cô gái xuống:

- Yên nào, cha nói phải nghe, năm nay con mười sáu tuổi rồi!

- Không, không được, cha con không được làm bậy. Chú sáu Ngàn ơi, cứu, cứu con!

- Câm miệng lại, la lối om sòm tao giết chết, tao nuôi mày khôn lớn thì mày phải là của tao, không thằng đàn ông nào được bước qua cửa nhà này với mày đâu!

Sức cùng lực kiệt, quần áo bị xé rách tả tơi, ba én nằm lả người ra bất lực. Năm Sọc trườn dài trên người con gái, mùi trinh nữ khiến hắn ngỡ ngàng rên lên nhè nhẹ, mút chặt đầu vú ba én hồng phơn phớt, toàn thân hắn rung lên bần bật… Bên ngoài gió vẫn rít từng cơn, nơi ổ rơm trong góc nhà, sáu Ngàn ngủ ngoan như một đứa trẻ…

Bị cưỡng bức, giam cầm, phong toả… ba én sống lặng lờ bên năm Sọc như cái bóng đổ dài xuống mặt sông buổi mặt trời sắp tắt. Ngày sáu Ngàn té sông chết đuối, ba én càng lặng lẽ hơn với ngôi nhà từ đường ba gian suốt ngày u u nhang khói. Dù muốn hay không thì cũng có một ngày cô bé Hận chào đời. Kỳ lạ là chuyện chung chạ huyết thống giữa cha và con lại không để lại một khuyết tật nào trên người cô bé. Càng lớn Hận càng xinh đẹp như mẹ ngày xưa. Tuổi mười lăm, bị nhốt kín trong nhà nhưng qua dãy hành lang dài hun hút là những song tre kẽo kè kẽo kẹt, Hận đã nghe mình phải lòng một thầy giáo trẻ. Ông thầy tên Minh mở lớp gõ đầu trẻ bên nhà đối diện, thầy dạy dễ nghe dễ hiểu, toàn những điều hay lẽ phải. Để không lặp lại chuyện đòi hỏi nữ quyền nọ kia như cô hai Nghĩa, năm Sọc không cho Hận học hành. Nhưng nhờ thông minh, thích tìm tòi chịu khó nên cô bé cũng có được mớ chữ học lóm từ lớp học thầy Minh. Cũng qua những song tre kẽo kè kẽo kẹt của nhà năm Sọc, thầy Minh biết có một thiếu nữ mê đắm mình. Đôi mắt đen mượt mà của cô ấy, làn da trắng nõn nà của cô ấy… đã dường như làm cho thầy giảng bài hay hơn, say mê hơn. Một vài mẩu giấy đã được chuyển qua lại giữa họ mà không ai biết… Tình yêu huyền ảo như sương buổi sớm cứ vậy mà lớn lên trong lòng Hận, dù bị giam cầm nhưng cô cũng hiểu chút ít ý nghĩa cuộc đời. Bầu trời cao rộng bên ngoài với tiếng chim chiền chiện hót gọi bạn tình mỗi sáng mỗi chiều luôn là khát vọng tự do của cô. Đã mấy lần Hận và mẹ trốn đi nhân lúc năm Sọc có việc ra ngoài nhưng đều bất thành, bận nào cũng bị lão bắt lại, hai mẹ con đòn roi thâm tím.

… Trời tháng bảy mưa ngâu ngày dài đêm ngắn, có một chiều hai mẹ con lui cui nấu cơm dưới bếp, năm Sọc ngồi cà kê chút rượu kế bên, nhìn vào như một gia đình đầm ấm. Mớ củi tươi nhóm bếp dày đặc khói, Hận khom người thổi mãi lửa không lên, trời lạnh mà hai má cô đỏ phừng phừng… Bỗng dưng năm Sọc e hèm đánh tiếng:

- Má con Hận leo lên xà nhà kho phía sau chuồng heo lấy cho tao chút khô cá sặc nướng ăn chơi.

Ba én bỏ đi chưa đầy năm phút, năm Sọc đã giở trò đồi bại với Hận. Lão kéo cô từ phía sau vật xuống nền nhà, ghì xiết và thở hồng hộc. Hận phản ứng mạnh mẽ như con thú bị dồn vào đường cùng, xô ngã được người cha vô nhân tính, cô vùng đứng dậy chộp gói ớt bột trên kệ bếp tung cái rào. Mặc lão già đê tiện ôm mặt tru tréo, Hận ào tới, đè lão ra, sờ tìm xâu chìa khoá được lão cất như một báu vật trong thắt lưng quần. Cô phóng nhanh ra cổng như một con sóc và xoay ổ khoá… Mưa mặc mưa, Hận bước nhanh trên con đường quê lầy lội mà không biết sẽ đi đâu về đâu, nước mắt cô tuôn ấm mặt nhưng lòng cô nhẹ như chim bay, chỉ thương mẹ còn khốn khổ với lão già đến bao lâu…

*

Tổng khởi nghĩa mùa thu thắng lợi, trong hàng ngũ lực lượng Việt Minh trở về làng làm chủ tình hình còn có cô Hận tuổi mười tám xinh tươi bên cạnh thầy giáo Minh xưa. Lúc này người ta không gọi thầy giáo Minh nữa mà gọi là cán bộ Minh, cán bộ Minh của phong trào Việt Minh. Về làng, bận bịu với biết bao công việc nên Hận cũng chưa đặt chân qua nhà thăm má. Đến một ngày, người ta lôi sềnh sệch lão năm Sọc ra sân đình. Lão bị trói thúc ké hai tay ra sau và bị gô chặt vào gốc cột giữa sân đình. Ngoài việc lớn là nắm giữ chính quyền; mấy ông Việt Minh còn lập lại trật tự làng xã từ những chuyện như tịch thu đất của địa chủ chia cho dân nghèo, bỏ phát canh thu tô… Và cuối cùng là trừng trị những người hủ hoá như năm Sọc với tội lấy con làm vợ. Hận đang sinh hoạt nhóm Phụ nữ cứu quốc mãi tận nơi đầu nguồn con rạch chảy qua làng, nghe báo vội hộc tốc chạy về. Cô rẽ đám đông bước vào, mọi người im thin thít, cán bộ Minh đang hỏi tội năm Sọc:

- Ông có biết tội cha lấy con là tội loạn luân không?

Năm Sọc ngẩng mặt lên trời ú ớ, miệng lão bị nhét một dải khăn rằn mốc thếch. Có ai đó lên tiếng:

- Sao không lấy khăn ra cho ổng trả lời?

Cũng ai đó trong đám đông gọi là đại diện dân làng bu quanh:

- Lấy ra làm mẹ gì, chuyện lão lấy con gái, cả làng cả xã này biết, hỏi cho có vị để mà xử thôi!

Hận quả quyết bước ra giữa vòng người, cô cung kính chắp tay chào khắp lượt:

- Kính thưa cán bộ Minh, kính thưa bà con làng xã, tôi là con gái năm Sọc xin minh oan cho ổng một điều, má tôi, bà ba én không phải là con đẻ của ổng mà chỉ là con vợ, con riêng của vợ ổng thôi…

Đám đông ồ lên:

- Vậy thì chứng cứ, chứng cứ đâu?

- Tôi có thể trình điều này trong vòng hai ngày…

- Nếu không tin được thì sao?

- Thì tôi xin chịu tội, xin trả lại danh hiệu cán bộ Phụ nữ cứu quốc cho Việt Minh!

*

Hận đưa năm Sọc về nhà, đẩy cánh cổng tre bước vào, đứng tần ngần một giây giữa sân, cô bật khóc tấm tức. Khóc chưa hẳn vì điều oan khuất mà vì nhà cô đã thay đổi quá nhiều. Thềm rêu, sân rêu, tất cả xộc lên mùi ẩm mốc khó chịu, tất cả hoang vắng đến rợn người. Vậy còn má đâu? Bỗng cô nghe tiếng cười khùng khục phía sau nhà lúa, bà ba én mình không mảnh vải che thân đang nằm sau những song tre của căn buồng tối sáng nhạt nhoà, bên ngoài cửa buồng là một hàng mấy ống khoá to đùng. Năm Sọc nhốt phạm nhân của mình theo kiểu lấy dao mổ trâu giết gà. Ba én ngây ngây dại dại, cười khùng khục suốt ngày, không còn biết nhận ra con.

Đêm, tiếng chẫu chàng kêu chóc chóc ngoài ao khiến Hận càng thêm nẫu lòng. Cô trăn trở, không tài nào ngủ được. Hận xoè hai bàn tay ra trước mặt như xoè ra những mảnh đời phải chọn. Mảnh đời thoát ly đi làm cách mạng bên cạnh tình yêu đẹp và tự nguyện với thầy giáo Minh - cán bộ Minh. Mảnh đời giam mình trả nghĩa người mẹ tâm thần khốn khổ. Mảnh đời phải chịu tội với mấy ông Việt Minh vì không tìm đâu ra chứng cứ cho sự bịa đặt, rằng năm Sọc không phải là người đẻ ra ba én. Cuối cùng vẫn không nghĩ ra được điều gì cho đến đầu đến đũa, Hận thở dài đánh sượt, nhắm nước liều, mặc cho sự đời ra sao thì ra. Cô chong đèn viết một bức thư dài cho cán bộ Minh, người thầy dạy cô học chữ trước khi là người yêu.

… Anh kêu em làm cách nào để rũ sạch vết nhơ gia đình rồi mình mới lấy nhau được, bây giờ em đang bí lắm đây, làm cách nào để rũ sạch đây anh? Trước mắt là làm cách nào để người cha bất đắc dĩ của em thoát khỏi tội loạn luân? Em không có chứng cứ nào cả, cha là cha chung, ông năm Sọc là cha chung của cả em và má, biết làm sao bây giờ đây anh? Phận làm con, dù cha mình đúng sai thế nào, em cũng đâu nỡ đứng nhìn cha chịu chết, vậy là em đưa cha về nhà, tự nguyện chất thêm một gánh nặng ngàn cân lên vai. Thêm cái gánh nặng tình yêu buộc gia đình phải trong sạch của anh làm em sợ, em có thích chọn cửa làm con gái năm Sọc đâu, má em cũng có thích như vậy đâu, bà ngoại em cũng vậy, dì hai Nghĩa của em cũng vậy, có cách nào để người ta quên chuyện nhà ông năm Sọc không anh…

Nước mắt rơi nhoè nhoẹt trang viết, tâm trí Hận vụt hiện về rõ mồn một cái đêm hôm ấy, đêm đẹp lạ lùng giữa vườn hoang loang loáng ánh bạc của vầng trăng. Hận nằm khoả thân trên thảm lá khô còn thơm mùi nắng ban trưa. Thân thể cô sáng bừng trong đêm, hạnh phúc đợi chờ. Thầy giáo Minh âu yếm hôn dài trên người cô, hôn hai đầu vú căng cứng đỏ dậy mùi con gái, hôn gáy tóc trắng ngần thơm thơm mùi hoa lý, hôn những kẽ ngón tay kẽ ngón chân nõn nà thiên thần như đứa trẻ… Người con gái rạo rực cuộn sóng trào, mầm sống căng lên, tất cả chực vỡ oà… Để rồi thầy giáo Minh chợt dừng lại với động tác xoa xoa làn da mượt mà trên tấm lưng trần thon thả của cô gái và thở dài nói: “Không được, em phải làm sao trở về để làm trong sạch vết nhơ của gia đình em thì mọi thứ mới có thể…”. Hận không hiểu gì cả, tim cô dường như ngừng đập, đầu cô căng ra như muốn nổ cái bùm. Tất cả những âu yếm ngọt ngào, nóng bỏng trước đó và trước đó nữa bỗng đành xa ngái…

Trời phụp tối, bóng lão năm trùm lên ánh đèn hột vịt tù mù trong gian buồng ẩm thấp. Hận lau nước mắt, xẵng giọng:

- Cha vào đây làm gì?

Tiếng trả lời khàn khàn sực mùi rượu:

- Giỏi! Sao mày biết tao không phải cha của ba én?

- Nói dóc vậy cho nên bây giờ mới khó cho tôi đây, cha nhiều tội ác quá!

Năm Sọc khệnh khạng bước lại cây rơm trong góc buồng, rồi đứng áp mũi vào bện rơm hít thật sâu. Là con nhà chủ đất rặt ròng nên lão nghiện mùi rơm như nghiện thân xác đàn bà con gái. Gắn với đời lão là những cây rơm; ngoài sân, trong nhà và cả trong buồng ngủ cũng có rơm. Ngưng hít rơm, lão lầm bầm như đọc kinh rồi chuồi tay vào bụng cây rơm rút ra một quyển sổ to bằng hai bàn tay. Lão cười ha ha, đưa quyển sổ lên cao lắc lắc, những cọng rơm vàng rơi lả tả:

- Làm sao khó, dễ ợt! Mày theo Việt Minh có chữ rồi phải hôn? Vậy thì đọc đi, đọc cái này đi rồi ngày mai ra giữa làng mà nói, thằng cha hai Bảnh làm vườn cho tao mới là ông ngoại của mày, còn tao, tao chỉ là cha của mày, một thằng cha hờ… Ha ha ha…

Nó như cuốn gia phả của dòng họ gia đình Phạm Văn Sọc. Sổ dày, chữ viết thưa thớt, giấy mềm tơi tả, vàng vọt thời gian. Bắt đầu từ ông sơ Phạm Văn Sự với hàng trăm mẫu ruộng bạt ngàn. Sự mê gái đẹp nhưng không vợ, chuyên cưỡng bức con tá điền làm vui, ngủ với đàn bà con gái nhiều nhưng trời hại cho cây chỉ có một trái, đó là ông cố Phạm Văn Sàng. Sàng lấy vợ đàng hoàng nhưng khắt khe, ky bo. Vợ Sàng đẻ mười người con, chín cô con gái khùng cả chín, may còn người con trai Phạm Văn Sùng tỉnh trí coi sóc gia tài. Phạm Văn Sùng lấy một vợ, cưỡng bức hai gái tân là con tá điền, có tổng cộng đến tám con nhưng chết sáu, chỉ nuôi được hai là Phạm Văn Sọc và Phạm Văn Ngàn. Ngàn khùng nặng, còn Sọc thì vô sinh vì đau quai bị nhiều lần hồi nhỏ. Lúc biết nghĩ xa nghĩ gần, cần người giữ của khi mai này khuất núi, Sọc ép vợ ăn nằm với ba Thóc - người làm vườn thuê của gia đình, đẻ ra hai Nghĩa. Hai Nghĩa là con gái, vợ ba Thóc cũng đẻ toàn con gái, mà năm Sọc lại muốn có con trai nên đành phải diệt Thóc để bịt khẩu bằng một buổi nhậu rượu pha thuốc trừ sâu. Sau khi ba Thóc chết vì ngộ độc rượu, hai Bảnh xin vào thay thế. Một lần nữa, Sọc ép vợ ngủ với hai Bảnh để sinh con trai giữ của, vậy mà cô ba én lại ra đời. Để rồi sau đó chợt tỉnh, phát ghen điên ghen khùng, Sọc đuổi việc hai Bảnh, hành hạ vợ con tới số. Còn Hận là kết quả một đêm cô ba én trốn nhà đội mưa ra sông tự vẫn… Lão thuyền chài vớt cô lên và giữ lại cho đến sáng thì trả về cho năm Sọc… Những trang cuối của cuốn sổ nhàu nhĩ; năm Sọc viết cẩu thả, chán chường; có vẻ người viết không buồn viết nữa từ lâu lắm. Anh học trò nhà giàu, bảnh trai nhất trường làng năm xưa chỉ biết dụng chữ để viết gia phả. Còn tính toán tiền bạc, thóc lúa thì chậm như rùa. Có điều chậm mà chắc, nhìn cái kiểu kêu trời của thằng Ca thọt khi lão phát tiền đi chợ thì biết!

... Lão già ngủ ngồi, tiếng ngáy đều đều bên tai Hận, cô đánh thức lão bằng một cái lắc vai thật mạnh:

- Cha, vậy má có biết hai Bảnh là cha ruột của má không?

Mắt mũi nhập nhèm, lim dim, năm Sọc vẫn khề khà hơi rượu:

- Làm sao nó biết được, kể cả hai Nghĩa cũng không biết ba Thóc là cha đẻ ra mình, biết để tụi nó tuồn của ra ngoài cho mấy thằng già đó à? à, cũng có thêm một người nữa biết chuyện này ngoài năm Sọc, nhưng không được phép của tao thì đố nó dám nói với ai, đó là má của con ba én!

- Còn ông hai Bảnh?

- Sau đó không lâu, tao cũng cho thằng chả chết trôi rồi, ha ha ha… Chớ để chả sống chi cho rắc rối cuộc đời!

- Ông ác lắm, Năm Sọc! Đừng hòng lấy tay che mặt trời! Ông đưa tôi xem cuốn sổ này để làm gì?

Lão già cười tuôn nước mắt nước mũi:

- Để có bằng chứng cho tụi Việt Minh không trừng trị tao chứ!

- Ai tin cuốn sổ ông viết nguệch ngoạc…

- Còn thằng bảy Lác em hai Bảnh, nó thấy hết, biết hết, nhưng bằng lòng giả câm giả điếc để đổi lấy mười mẫu ruộng của tao, ha ha ha…

Trống ngực đánh thập thình, máu nóng dồn lên mặt, Hận đưa tay sờ khẩu súng - chiến lợi phẩm cô lấy của mấy thằng quận trong ngày tổng khởi nghĩa, vật bất ly thân lúc nào cũng ấm nóng trong túi áo. Năm Sọc, tội ác mày lút đầu, tao… Nhanh và tinh như cáo, lão già đứng xổm lên rồi nhảy bổ vào người Hận. Cô gái mất thế đập mạnh đầu xuống đất bất tỉnh, khẩu súng trượt ra ngoài. Năm Sọc dùng chân đẩy súng về phía đống rơm trong góc buồng rồi lồng lên như một con thú. Lão cắn xé và làm đủ trò trên thân thể tươi nguyên của người con gái. Phía sau nhà lúa, bà ba én vẫn cười khùng khục, khùng khục suốt đêm…

Hận tỉnh lại lúc nửa đêm với thân thể loã lồ, hai vệt máu khô loang dài hai bên đùi cô như hai sợi chỉ hồng mỏng mảnh. Ngồi định thần một giây, cô hiểu ra tất cả. Lão già cũng không mảnh vải che thân, nằm cạnh đấy ngáy pho pho. Hận trườn về phía góc buồng, quơ tay tìm khẩu súng… Sau đó nhẹ nhàng bò lại chỗ năm Sọc, kê súng sát đầu lão, bóp cò…

Tiếng súng hãm không đủ xé rách màn đêm để làm dậy xóm dậy làng như Hận nghĩ. Đất trời vẫn lặng thinh, trăng sao vẫn vằng vặc, cô đứng lên mặc lại quần áo, thấy bình thản lạ thường, chợt nghe trống rỗng trong lòng, mọi thứ đều vô nghĩa, kể cả lời hứa phải làm một điều gì đó để rửa sạch lý lịch cho một tình yêu. Tình yêu sáng loà lý tưởng với thầy giáo Minh của kiếp nào. Một tay cầm súng, một tay cầm quyển sổ đời của lão năm Sọc, Hận đi dài ra bến sông. Cắp quyển sổ vào nách, cô khẽ khàng mở neo một chiếc xuồng, phải đi đâu đó để sống mà không phải cố gắng một điều gì hết. Cuối cùng thì khẩu súng cũng bị cô vứt tòm xuống sông. Cuốn sổ đời của năm Sọc bị xé vụn ra, rải dài trên mặt nước…

Chiếc xuồng rẽ sóng trôi đi…

Lời bình:

Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, những quan niệm, định ước… bên cạnh luật lệ mang tính pháp chế vốn là căn cốt cho một xã hội tồn tại, phát triển và luôn biến động. Suy cho cùng, nếu không có những điều “con người” tự đặt ra để ràng buộc mình trong quá trình sống thì cuộc đời này phỏng còn có ý nghĩa gì! Riêng những cộng đồng cư dân nông ngiệp Việt Nam với đặc trưng cơ bản là tính đóng kín (bên cạnh yếu tố bảo lưu văn hoá rất tốt) thì những điều trên đã mang đến bao bi hài, nghiệt ngã cho mỗi số phận. “Gia phả mùi rơm rạ” của Thu Trân đã “nhìn” làng quê Việt Nam nói chung và một làng của đồng bằng Nam Bộ nói riêng dưới góc độ này. Cốt truyện lôi cuốn đã đưa độc giả đi qua một chặng đường “mấy thế hệ” của dòng họ Phạm để rồi người đọc không khỏi thốt lên: Giá như không có tài sản, không cần “người đàn ông” để thừa kế thì đâu đến nỗi con người (Năm Sọc) mất hết nhân tính… Cho đến tận hôm nay, những con người của “xã hội mới” - Thầy Minh cũng “tỉnh táo” mà nói rằng: “Em phải trở về làm trong sạch vết nhơ của gia đình em thì mọi thứ mới có thể…”

Truyện viết “luận đề”, nếu tác giả “non tay” dễ dẫn đến nhàm chán. Vốn là tác giả đã xuất hiện nhiều, song đến truyện ngắn này hình như Thu Trân đã mang đến một lối viết khác so với những tác phẩm trước của mình. Phải chăng, đó là sự đổi mới của cây bút này.

Kết truyện Thu Trân viết: “Phải đi đâu đó để sống mà không phải cố gắng một điều gì hết…” Truyện là đời sống, đời sống chính là một câu truyện dài. Điều đơn giản đó không phải người nào (kể cả người viết) cũng dễ dàng vượt qua…

Nhà văn Hà Nguyên Huyến

 

 

 

HOA LÌA CÀNH HƯƠNG MÃI CÒN THƠM

Truyện ngắn của Phạm Thái Quỳnh

(Nghìn năm giai nhân thi sĩ/ Vấn vương như mắc nợ nhau... PMVT)

 

Năm Quý Sửu – 1913 tháng cuối thu, Thứ phi của vua Khải Định là Hoàng Thị Cúc đem đến cho Hoàng tộc niềm vui lớn. ấy là việc nàng sinh hoàng tử đầu tiên. Hơn chục vị túc nho của Kinh đô Phú Xuân được vua truyền vào cung. Mỗi môn đệ Khổng gia được vinh hạnh chọn cho hoàng tử một tên dâng lên vua. Khải Định nâng lên đặt xuống hơn một chục tên dành cho giọt máu của đấng chí tôn, vừa cất tiếng khóc khẳng định nhân gian đã có thêm một sinh linh. Vị vua thứ mười hai của triều Nguyễn đã chọn cho hoàng tử mỹ danh Vĩnh Thuỵ. ý nghĩa sâu xa của hai chữ Vĩnh Thuỵ thể hiện đế nghiệp của vị hoàng tử này sẽ diên trường, thịnh trị...

Năm ất Sửu – 1925 khi cúc phai hương, vua Khải Định lâm trọng bệnh rồi băng. Tháng giêng năm 1926, hoàng tử duy nhất của Khải Định là Vĩnh Thụy đăng quang kế vị, trở thành Hoàng đế Bảo Đại. Ngài tấn phong cho thân mẫu làm Đoan Huy Hoàng Thái hậu.

*

Trải qua những năm làm Khâm sứ Trung Kỳ, Charles đã nhận ra: Muốn ổn định tình hình nước Nam phải dập tắt tư tưởng chống lại “mẫu quốc” của Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân đã gieo ươm trong dân. Tất yếu, “mẫu quốc” phải nhào nặn vị vua niên thiếu thành “Ông Tây An Nam”. Kẻ cầm quốc ấn cai trị dân Nam phải đi đúng quỹ đạo của dị chủng mắt xanh, mũi lõ vạch ra tại Ba Lê, Pháp quốc. Thế là Bảo Đại phải giao công việc triều đình cho Hội đồng phụ chính, khăn gói Tây du, học trường France ngay sau ngày đăng quang. Những năm Bảo Đại “bú dòng sữa lịch sử, chính trị, văn hóa Gôloa”, người đỡ đầu cho “Ông Tây An Nam tương lai” không phải ai khác mà chính là cựu Khâm sứ Charles.

Hơn một năm sau ngày Bảo Đại du học Tây Dương, thiếu nữ Gò Công chào ánh thái dương sau Vĩnh Thụy mười hai lần trăng tròn khuyết cũng đặt chân tới Ba Lê, kiếm tấm bằng Tây học. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hữu Thị Lan, con gái Phước Mỹ Quận công Nguyễn Hữu Hào. Người này là đại điền chủ của lục tỉnh, giàu tới mức “phú gia địch quốc”.

Vua đã được nhào nặn theo khuôn mẫu Pháp thì người nâng khăn sửa túi vua cũng phải được mở mang trí tuệ ở Tây. Đánh hơi ái nữ của Phước Mỹ Quận công học trường Couventdes Oiseaux, Charles đã vi hành ngó mặt giai nhân. Viên cựu Khâm sứ sững sờ trước vẻ kiều diễm của Nguyễn Hữu Thị Lan. Ông ta bèn trình lên Toàn quyền Đông Dương, rằng không ai làm vợ Bảo Đại thích hợp hơn con gái phú hào Phước Mỹ Quận công. Toàn quyền Đông Dương khen: Ngài Khâm sứ quả là tinh mắt. Quận công Hữu Hào là chỗ tri giao của ta. Khi nào thích hợp, ngài khéo léo cho vua và giai nhân gặp nhau. Chỗ Quận công, ta lo liệu.

Sau sáu năm được rèn dũa bên “mẫu quốc”, Bảo Đại trở về nước chính thức chấp chính vào năm 1932. Theo “lời mời” của Charles tháng 3 năm 1933, Bảo Đại lại đi Tây. Đầu mùa hè năm ấy, chiếc tàu thủy sang trọng từ Pháp về Việt Nam. Nữ sinh Nguyễn Hữu Thị Lan đã có tấm bằng Tây học trở về nước trên con tàu này. Khi đã an tọa, Thị Lan mới hay Hoàng đế nước Nam cũng về nước cùng chuyến với cô. Giai nhân đâu có biết, chuyến hồi hương của Hoàng đế và người đẹp có sự dàn dựng của cựu Khâm sứ.

Từ lúc biết Hoàng đế nước Nam cũng ở trên tàu, bà me Ambroise cứ chằm mắt vào cô chủ. Rồi bà thốt lên: Con đẹp lắm! Đức vua mà thấy chắc ngài sẽ chọn con làm bà hoàng. Đôi má tiểu thư bỗng bừng đỏ. Thay cho lời đáp, cô khẽ cười. Bất giác, cô nhớ tới một đồng môn tuấn tú. Người ấy học giỏi, lịch lãm, rất ưng cô. Nhưng có lẽ gia thế chỉ là một tư sản thường thường bậc trung ở Sài Gòn nên chàng ngại ngỏ lời. Hình bóng người ấy cứ chập chờn trong cô.

Vì những lời của bà me, Nguyễn Hữu Thị Lan kín đáo chiêm ngưỡng long nhan và thầm nhận xét: Rất tuấn tú nhưng có vẻ trai lơ. Tuy vậy, ngài là Hoàng đế ắt sẽ biết phải kiềm chế.

Bảo Đại không hề biết có một giai nhân ngó trộm mặt rồng. 

*

Từ ngày Vĩnh Thụy đăng quang, Đoan Huy Hoàng Thái hậu dồn hết tâm lực vào việc chọn vợ cho con. Hàng chục đại thần có ái nữ xinh tươi đã tìm cách lấy lòng Hoàng Thái hậu. Người “trúng số độc đắc” là Thượng thư Nguyễn Đình Tiến. Bởi con gái ngài được Hoàng Thái hậu chọn làm bà hoàng tương lai.

Ngày ấy Bạch Yến được coi là đệ nhất giai nhân của Kinh đô Phú Xuân. Thượng thư đã nhờ quan Thị lang bộ Lễ dạy cô Bạch Yến thi phú, nhã nhạc, đi đứng, nói cười... Những gì thuộc về nghi lễ hậu cung, tiểu thư Bạch Yến phải nuốt cho bằng hết, rồi thể hiện sao cho nhuần thục. Vẫn chưa yên lòng bởi Hoàng đế không chỉ “chi, hồ, giả, dã” như các vị vua trước mà ngài còn có bằng “Tây học thứ thiệt”, quan Thượng thư liền cho con gái học Pháp ngữ. Ông thầy này chính hiệu Gôloa, tùy viên tòa Khâm sứ. Cốt cách của con gái đã tạm ổn, vậy mà quan thượng thư vẫn cảm thấy phân vân. Dù ái nữ là trang giai nhân khó có nữ lưu nào hơn, nhưng ngài còn muốn Bạch Yến kiều diễm thêm nữa. Bởi thế, Nguyễn Thượng thư đã nhờ một thị nữ chuyên chăm lo dung quang Từ Cung (Thái hậu) nhuận sắc cho bà hoàng tương lai. Những thứ quý làm đẹp đàn bà dưới gầm giời chỉ Ba Tư mới có, đắt nhất trần gian, cao giá hơn vàng ngọc cũng được quan Thượng thư nhờ người mua cho ái nữ dùng. Cầu kỳ nhất là giai nhân tẩy trần thường nhật. Nước dành cho Bạch Yến tắm phải là nước mưa hòa với lá dâu non nghiền thành bột. Chưa hết, thứ nước ấy còn được hòa thêm sữa dê tươi. Tắm xong, người đẹp được lau thân ngà bằng lụa tơ tằm rất mỏng. Qua cách thức ươm sắc đẹp của thị nữ cung cấm, dung nhan Bạch Yến càng ngời lên, nhất là làn da luôn như cánh hoa đào gặp nắng xuân vừa ửng.

Dăm bảy tháng nữa, ái nữ trở thành bà hoàng. Thượng thư Nguyễn Đình Tiến mừng vui khôn xiết.

*

Theo chủ ý của Toàn quyền Pasquier, Đốc lý Đarles phải tổ chức một bữa tiệc tại Đà Lạt. Bảo Đại mới ở Pháp về đang nghỉ mát tại thành phố cao nguyên tuyệt mỹ này. Bữa tiệc xuất phát từ lời thỉnh cầu của Charles với Chính phủ Pháp...

Khách của bữa tiệc tại Đà Lạt giữa mùa hè năm 1933 toàn là khách sộp, nổi tiếng giàu có. Quận công phu nhân và con gái là Nguyễn Hữu Thị Lan được đón tiếp như thượng khách. Giai nhân Gò Công như đóa phù dung xuất hiện khiến mọi người sững sờ. ái nữ của đại điền chủ lục tỉnh đẹp tới mức không một ngòi bút tài hoa nào miêu tả nổi. Bảo Đại bàng hoàng trước vẻ kiều diễm của Nguyễn Hữu Thị Lan. Giai nhân đệ nhất Kinh thành Phú Xuân lập tức bị nhòa đi trong tâm thức Hoàng đế đa tình. Bị vẻ ngọc hớp hồn, Hoàng đế triều Nguyễn đã cầu hôn Nguyễn Hữu Thị Lan. Người đẹp không biết trả lời thế nào bèn hỏi mẹ. Quận công phu nhân đáp: Ngài Toàn quyền chọn con cho vua. Ông ấy đã bàn với ba con ...

Trở về Sài Gòn, người đẹp liền hỏi Quận công:

- Thưa ba, việc hôn nhân của con cái theo cách “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” có được coi là hủ tục không?

Hiểu ý con gái, Nguyễn Hữu Hào đáp:

- Hủ tục hay mỹ tục, chuyện ấy bàn sau. Còn với con, ngài Toàn quyền chủ ý chọn cho vua thì ba cưỡng được chăng?

- Hôn nhân tự do là biểu hiện của văn minh. Ba thương con chắc sẽ khước từ ngài Toàn quyền chớ?

Lặng đi giây lát, Quận công đáp:

- Ngài Toàn quyền không cho con kết hôn với ai ngoài Bảo Đại.

ý nghĩ lóe lên trong đầu giai nhân: Phải dựng vật cản khiến Bảo Đại không vượt qua được. Dựa vào “tứ bất lập”(1) trong đó có “ bất lập Hoàng hậu”, cô gái Gò Công đưa ra điều kiện thứ nhất: Phải được làm Hoàng hậu ngay sau ngày cưới. Dựa vào việc triều Nguyễn từng sát Gia tô, người đẹp nêu bật điều kiện thứ hai: Phải được giữ nguyên đạo gốc. Dựa vào việc các vua Nguyễn có hàng trăm Phi Tần, Nguyễn Hữu Thị Lan chốt thêm điều kiện: Phải một vợ một chồng. Thông báo điều kiện của con gái tới Toàn quyền Đông Dương, ông Nguyễn Hữu Hào rất buồn... Nào ngờ, Hoàng đế chấp nhận cả ba điều kiện của giai nhân đề xướng.

Nghe vua bẩm là đã chọn Nguyễn Hữu Thị Lan làm vợ, bà Từ Cung ngỡ sét đánh ngang tai. Triều đình thâm thù Công giáo mà con trai lại kén người bên ấy làm Chính phi, thật là nhục nhã tổ tiên. Hoàng Thái hậu mất mặt với Thượng thư Nguyễn Đình Tiến. Lại còn chuyện phải phong Thị Lan làm Hoàng hậu ngay sau ngày cưới, điều này Thánh Tổ Minh Mệnh đã cấm. Các tiên vương triều Nguyễn không lập Hoàng hậu là vì lẽ đó. Vậy mà hoàng nhi nhắm mắt gật bừa. Từ Cung không tức giận sao được! Các Hoàng đế có quyền nạp nhiều Phi để đông con nhiều cháu. Con gái trọc phú là ai mà dám bắt vua chỉ có một vợ? Vua không đeo thánh giá, cớ chi cưới vợ phải xin phép Tòa thánh? Hoàng Thái hậu nén giận khuyên vua thành hôn ngay với Bạch Yến, nhằm dập tắt ý định của Toàn quyền Đông Dương. Bảo Đại không gật. Bà Từ Cung tuyên bố ráo hoảnh: Không bao giờ chấp nhận Thị Lan làm con dâu. Đến nước ấy, Bảo Đại cũng lật ngửa lá bài: Thà không làm vua chứ không thể không cưới người đẹp Gò Công. Chính phủ Pháp cũng chỉ chấp nhận cuộc hôn nhân này. Hoàng Thái hậu giật mình! Cố lấy lại bình tĩnh suy xét, bà chợt hiểu người Pháp muốn gì ở cuộc hôn nhân này rồi. Vậy là bà không còn quyền chọn vợ cho con. Chính phủ “mẫu quốc” đã vào cuộc, bà còn làm gì được nữa! Hoàng Thái hậu thấm thía, kiếp giây leo không bò ắt phải bám vào cây. Thật tủi nhục! Cùng phận yếm khăn, bà Từ Cung bỗng trào lên niềm cảm thương Bạch Yến.

*

Nghe tin Bảo Đại đã chọn con gái đại điền chủ lục tỉnh làm Chính phi, Thượng thư Nguyễn Đình Tiến rất buồn bực. Hôm ấy, ngài không vào triều vì không có phiên chầu. Quan Thượng thư cứ quanh quẩn trong hoa viên. Khi đầu óc căng thẳng, ngài thường tìm chút thư thái qua hoa cỏ. Chợt lính gác cổng bước tới sau ngài:

- Bẩm tướng công, con gái Phước Mỹ Quận Công từ Sài Gòn ra xin phép được vô chúc phúc ngài.

Nghĩ ngợi giây lát, quan Thượng thư chợt hiểu, nói:

- Cho người ta vô.

Thượng thư Nguyễn Đình Tiến vừa an tọa ở phòng khách thì Nguyễn Hữu Thị Lan bước vào cúi chào. Quan Thượng thư đáp lễ, thầm khen vẻ kiều diễm của Thị Lan rồi sai gia nhân pha trà mời khách. Để quan Thượng thư không phải suy đoán, Nguyễn Hữu Thị Lan cất lời :

- Thưa quan Thượng, cháu tên là Lan giấu cha mạo muội tới thăm ngài, xin ngài thứ lỗi. Nếu ngài cho phép, cháu xin được thưa đôi điều.

Thượng thư Nguyễn Đình Tiến thầm nghĩ: Người đã đẹp, nói năng lại phải phép khiến Bảo Đại mê mụ răng có chi lạ cả. Rồi ngài ôn tồn:

- Cháu có điều chi muốn nói, ta sẵn sàng nghe.

- Thưa ngài, nếu cháu được phép chọn hẳn là cháu không chọn vua. Nhưng vua chọn rồi Toàn quyền ủng hộ, cháu đã từ chối bằng cách đưa ra những điều kiện khắt khe. Nào ngờ, vua chấp nhận các điều kiện ấy. Ngài có cách gì để vua nghe theo sự sắp xếp của đức Từ Hoàng Thái hậu không, thưa ngài.

- Cảm ơn cháu, nỏ có cách chi mô!

- Tạ quan Thượng đã thông cảm. Nếu quan Thượng thương, ngài cho phép cháu được gặp tiểu thơ.

Nhận ra con gái Quận công thành ý, Nguyễn Thượng thư gọi con gái ra, nói: Đây là ái nữ của đại điền chủ lục tỉnh giàu có. Con hãy tiếp khách thay cha.

Dứt lời, quan Thượng thư nhẹ bước ra hoa viên.

Nghe cha giới thiệu, Bạch Yến biết khách không mời mà đến chính là người mà Bảo Đại đã chọn. Vậy ý trung nhân của Bảo Đại tới với mục đích gì? Câu hỏi đang lơ lửng trong đầu Bạch Yến thì người đẹp Gò Công đã thỏ thẻ:

- Hẳn là tiểu thơ đã hay tin. Tuy vậy, tôi vẫn phải nói. Người mà vua đã chọn là tôi. Dù gì thì gì, tôi cũng đã làm tiểu thơ phải đau lòng. Hữu thức hay vô thức, tôi vẫn có lỗi, mong cô thứ cho.

Sự thành tâm của Nguyễn Hữu Thị Lan khiến Bạch Yến có cảm tình với “địch thủ”. Là tiểu thư dòng trâm anh thông nhuần lễ giáo, Bạch Yến đáp:

- Đức Từ Cung nói cả với tôi rồi. Nếu có trách thì tôi trách vua chứ răng lại trách o. Cùng phận yếm khăn, tôi chúc phúc cho hai người.

Phẩm hạnh cao thượng của Bạch Yến khiến Thị Lan chỉ còn biết nể trọng.

- Cảm tạ tiểu thơ, lòng tôi đã có một người. Nhưng vua chen vào khiến tôi và người ấy phải chia lìa. Nếu tiểu thơ cho phép, tôi mạo muội có đôi lời dành cho tiểu thơ.

- Tôi vinh hạnh được đón những lời vàng ngọc.

- Không phải làm vợ vua, tiểu thơ là người may mắn. Trong số bằng hữu của tôi, có người rất ngưỡng mộ tiểu thơ. Đã kiều diễm lại đức hạnh, tiểu thơ sẽ có một bến neo đời xứng đáng và chắc chắn sẽ hạnh phúc hơn tôi.

Bạch Yến ôm lấy Thị Lan, rồi hai người cùng khóc.

*

Ông vua An Nam lấy gái nước Nam làm vợ mà phải xin phép Tòa thánh mãi tận Rôma thì thật là rắc rối và phiền toái. Nhưng Bảo Đại đâu phải bận tâm. Việc ấy “mẫu quốc” lo dễ như trò đùa.

Đám cưới được cử hành ngày 20 tháng 3 năm 1934. “Quân vô hí ngôn”,  Bảo Đại đã phong Nguyễn Hữu Thị Lan làm Nam Phương Hoàng hậu. “Hương thơm phương nam” trở thành Hoàng hậu ngay sau ngày cưới. Cô gái Gò Công là người duy nhất được hưởng vinh hạnh vô tiền khoáng hậu mà triều Nguyễn dành cho. Trước Nguyễn Hữu Thị Lan, vương phi nào có con làm vua chỉ được phong Hoàng Thái hậu khi Hoàng đế phu quân đã băng.

Trước mấy ngày “địch thủ” trở thành Hoàng hậu, lệnh nữ của quan Thượng thư đã lên xe hoa. Người được Bạch Yến chấp nhận làm chồng là Cử nhân hóa học Phạm Đình ái, du học bên Tây trước Nguyễn Hữu Thị Lan bốn năm. Hai người sống rất hạnh phúc. Khi họ có con với nhau, Bạch Yến mới vỡ lẽ. Thông qua một người bạn, Nguyễn Hữu Thị Lan đã tác hợp cho tiểu thư khuê các với chàng Cử nhân Tây học nên duyên. Ký ức trỗi dậy, Bạch Yến mới chợt nhớ hôm “địch thủ” tới thăm nhà hai năm trước đã nói: “Trong số bằng hữu của tôi, có người rất ngưỡng mộ tiểu thơ”. Từ thẳm sâu tâm thức, Bạch Yến trào lên sự cảm phục và tri ân Nam Phương Hoàng hậu.

Nam Phương Hoàng hậu đang sống yên ấm bên năm đứa con bỗng bão thu nổi, xô nhào ngai vàng 143 năm. Cựu Hoàng hậu bình tĩnh suy xét. Điều tiên đoán của bà từ ngày Nhật vào Đông Dương đã xảy ra. Một triều đình tháng tháng khắc khoải chờ “mẫu quốc” phát lương, đó là triều đình gì? Những đồng tiền bố thí tới chậm, người đứng đầu triều đình phải nhờ gã dược sĩ cơ hội, từng tước đoạt trinh tiết của không ít thiếu nữ vay hộ tiền, thì triều đình ấy tồn tại sao được!

Nghe tin cựu Hoàng được Cụ Hồ bổ làm Cố vấn Chính phủ nước Việt Nam mới, cựu Hoàng hậu thấy nhẹ cả lòng. Ngày rời Huế ra Hà Nội, Vĩnh Thụy buồn rười rượi. Với ánh mắt tự tin, cựu Hoàng hậu nói:

- Hôm thoái vị, ngài đã nói: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua của một nước nô lệ”. Nay chẳng những ngài là công dân của nước Việt Nam độc lập mà còn là Cố vấn đặc biệt của Chính phủ Cụ Hồ. Vậy ngài phải vui chớ. Ngài ra ngoài đó, tháng tháng em sẽ gởi tiền ra cho ngài ...

Bần thần một lúc, Vĩnh Thụy mới cất được lời:

- Cảm ơn em! Ta làm vua mà em vẫn phải tiêu tiền của Quận công. Vô lý quá... Nay ta ra Hà Nội làm Cố vấn Chính phủ, em vẫn phải lo cho ta, tủi cho ta lắm!

- Thôi mà! Là vợ chồng, xin chớ rạch ròi. Em nói mong ngài đừng giận. Gần hai mươi năm ngài ngự ngai rồng không bằng một thoáng trao ấn rời ngôi. Chúng dân nhớ ngài là nhớ khoảnh khắc lịch sử ấy. Em ước ao ngài giữ gìn để khoảnh khắc ấy sáng mãi trong tâm thức dân Nam.

Vĩnh Thụy nhận ra ý tứ sâu xa của cựu Hoàng hậu giấu trong mẫy chữ: “ao ước ngài giữ gìn”. Chuyện xảy ra thời “Nội các 5 tháng” (từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1945). Vì áp lực của Nhật, Bảo Đại phải giải tán Hội đồng Cơ mật lập Nội các bù nhìn do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng. Cô đầm lai khá đẹp là vợ Yokohama - Đại sứ Nhật tại Đông Dương – lọt vào mắt Bảo Đại. Hai người lén hẹn nhau ngự du thuyền chơi sông Hương. Chẳng may du thuyền bị lật, Bảo Đại phải đánh vật với sóng gió dìu cô đầm lai vào bờ. Nội các thì thầm bàn tán. Giữ danh giá cho vua chồng, Nam Phương Hoàng hậu phải nói với Chánh văn phòng Nội các: Đại sứ rất sợ vợ. Ta xui vua đi chơi với vợ ông ta là có mục đích. Ngài phải dẹp dư luận ngay.

Tối hôm ấy, Nam Phương nói với Bảo Đại:

- Ngài có ong bướm thì phải ong bướm với ả nào cao giá chớ con đầm lai thì chưa xứng lau giày cho ngài.

Bảo Đại chữa thẹn:

- Nội các có nhiều việc tệ quá. Ta tìm kiếm sự tháo gỡ qua ả ấy.

Bà Nam Phương thốt lên :

- Lạy Chúa! Thủ tướng cùng một đống Bộ trưởng là củi mục chăng khiến vua phải cầu cứu con đầm lai, vợ bé của gã lùn.

Bảo Đại đuột mặt ra. Hoàng hậu mới chốt một câu:

- Xin ngài nhớ cho, ngài là Hoàng đế nước Nam.

Nhớ lại chuyện cũ, Bảo Đại thoáng buồn. Lúc chia tay vợ con lên xe ra bắc, cựu Hoàng mới tin mười ba đời vua Nguyễn đã chìm vào hoài niệm!

*

Sau mấy ngày mưa tầm tã, trận heo may đầu mùa quét sạch mây mưa. Vòm trời bỗng bổng lên. Ngày 17 tháng 9, các ngả đường cố Đô người đông nườm nượp hướng quảng trường trước Ngọ Môn cất bước. Đây là sự kiện một đi không trở lại diễn ra ở Huế trong chế độ dân chủ cộng hòa: “Tuần lễ vàng” khai mạc. Chính phủ lâm thời rất khó khăn về tài chính. Tổ quốc kêu gọi những công dân hữu sản hằng tâm ủng hộ vàng cho Chính phủ kiến thiết và bảo vệ đất nước.

Hôm ấy từ cung An Định đi ra, cựu Hoàng hậu Nam Phương đầy mình vàng. Nhiều người ngạc nhiên. Từ ngày đăng ngôi Hoàng hậu, ái nữ của “phú gia địch quốc” không hề trưng diện vàng ngọc, dù chỉ là một chiếc nhẫn. Không cần đến vàng ngọc, vẻ đẹp của bà cũng đã khiến các loài hoa phải ghen tị. Vậy sao hôm nay cựu Hoàng hậu lại khoác vào người nhiều vàng thế? Đâu đó có tiếng xì xèo: Thời buổi này trưng diện là không hợp. Giai nhân Gò Công nghe rõ những lời xì xèo ấy. Bà thản nhiên coi như không có chuyện gì, khoan thai bước tới chiếc bàn phủ vải đỏ, gỡ hết dây, xuyến, nhẫn, bông tai đặt vào cái khay khảm trai. Cựu Hoàng hậu là công dân Huế đầu tiên hiến vàng cho Chính phủ Cụ Hồ. Người Thư ký biên nhận, ông Trưởng ban Tài chính tỉnh, trao cho bà huy hiệu có hình cờ Tổ quốc. Thay mặt Chính quyền Trung ương, ông Trần Hữu Dực mời cựu Hoàng hậu Chủ tọa “Tuần lễ vàng” ở Phú Xuân. Bà Nam Phương niềm nở nhận lời. Cựu Hoàng hậu dung nhan như hoa, đức hạnh như ngọc được thần dân kính mến làm Chủ tọa “Sự kiện đặc biệt” khiến những người dân Phú Xuân yêu nước cảm kích hiến vàng cho Chính phủ.

Kết thúc “Tuần lễ vàng”, bà Chủ tọa ký biên bản bàn giao cho ông Trưởng ban Tài chính tỉnh 925 lượng vàng. Trong tiếng vỗ tay không ngớt của dân chúng, cựu Hoàng hậu đáp lại bằng một nụ cười như hoa nở.

*

Nước Việt Nam mới chưa tròn một tuổi như ngọn đèn ngắn bấc cạn dầu giữa bốn bề bão xoáy. Thừa cơ, bọn phản động trong và ngoài nước chống phá điên cuồng nhằm bóp chết Chính phủ Cụ Hồ. Chúng âm mưu thủ tiêu Vĩnh Thụy rồi vu tội cho Việt Minh... Đi guốc vào bụng chúng, Cụ Hồ cử Cố vấn Vĩnh Thụy sang Trùng Khánh, xứ Tàu “công tác”. Đó là cách giữ mạng cho Vĩnh Thụy. Nhóm “ái quốc bàn đèn” gồm Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh sống nhờ bên đó lôi kéo Vĩnh Thụy đi theo Tưởng. Nhưng Pháp cao tay hơn nên đã dụ được Vĩnh Thụy tới Hồng Kông o bế, dựng nên chế độ quân chủ lập hiến vào năm 1949, theo kịch bản của Pari. Điều này cựu Hoàng hậu không hề muốn. Bà đau lòng thấy bỗng dưng trở thành người không cùng đường với dân tộc.

Dù chồng là “Quốc trưởng” nhưng cựu Hoàng hậu không cộng tác với Pháp. Cảm thấy ở lại Việt Nam chẳng những bất lợi mà tính mạng còn bị đe dọa, bà đành phải sang Pháp định cư. Ngài Quận công siêu phú, hiểu thời cuộc đã chuẩn bị cho con gái cơ ngơi sang trọng trên lô đất 160 mẫu Tây, tại làng Chabrinac – một vùng quê thanh bình của nước Pháp. Vĩnh Thụy là Hoàng đế lúc nào cũng thèm tiền. Cựu Hoàng hậu lại sở hữu một tài sản kếch sù. Ngoài vàng ngọc và ngà voi vô giá, bà còn có nhiều điền trang cao su, hồ tiêu tại Marốc và Cônggô. Nhưng của cải đối với bà không còn ý nghĩa gì nữa. Điều làm bà thất vọng và đau lòng  là Vĩnh Thụy đã phản bội lời thề “một vợ một chồng”(2) trước ngày cưới, mặc dù các vua hằng nói “Quân vô hý ngôn”. ở Hà Nội, Vĩnh Thụy mèo chuột với Mộng Điệp. Tới Sầm Sơn, cựu Hoàng dan díu với Lý Lệ Hà. Sang Trùng Khánh, Cố vấn đầu mày cuối mắt với cô gái “nỉ hảo” là Hoàng Tiểu Lan, Trở về Đà Lạt, “Quốc trưởng” được bợm gái Phan Văn Giáo lén lút “tặng” thiếu nữ Phi ánh...

*

Mùa thu năm 1952, Bảo Đại bay sang Pháp. Ông ta không thể không dành cho bà Nam Phương dăm bảy ngày, vì đã “nợ” giai nhân quá nhiều rồi. Cựu Hoàng hậu mời “Quốc trưởng” sang Marốc thăm đồn điền cao su.

Năm 1982, một Việt kiều tuổi ngoại lục tuần từng tri giao với cựu Hoàng hậu về thăm Hà Nội nói cho tôi hay. Chuyến đi ấy bà Nam Phương bộc bạch với Quốc trưởng: Em không thể chung canh bạc chính trị với ngài được, phiêu lưu lắm. Còn sống ngày nào, em phải lo cho tương lai của các con. Chúng trông vào mấy đồn điền để sống, không được trông vào nguồn nào khác. Sau ngày ngài thoái vị, em muốn có thêm một con nữa để kỷ niệm. Dù trai hay gái, tên của đứa trẻ ấy sẽ là Nguyễn Phúc Tự Do. Rủi thay, ngài đi biền biệt... Chuyến đi này nếu Chúa thương được con trai thì em đặt là Hoài Quốc, được con gái thì em đặt là Hoài Hương.

Bảo Đại cảm động ứa nước mắt, nói:

- Ta có nhiều lỗi với Hoàng hậu. Là vợ chồng mong em thứ cho.

- Trách ngài nào có ích gì? Em chỉ tiếc cho ngài thôi.

- Hoàng hậu tiếc cho ta! Điều chi vậy?

- Ngày Cụ Hồ thăm Pháp, Chính phủ Pháp cắt tấm séc ba mươi tỷ Fran “mua Cụ”.  Nhưng Cụ không gật không lắc  mà thản nhiên trở về nước. Trước khi bước xuống tàu, Cụ không quên xòe bàn tay bịt nòng đại bác.

- Khi đã trở thành “Quốc trưởng”, ta mới biết chuyện này...

- Ngày Cụ Hồ kết thúc chuyến ngoại giao trở về, ngài đã bỏ Trùng Khánh tới Hồng Kông. Dù chi tiêu cho dân nước phải dè sẻn từng đồng, Cụ vẫn lo liệu gởi cho ngài số tiền tương đương vài chục lượng vàng. Cụ ứng xử thật là cao thượng.

- Chuyện ấy mà Hoàng hậu cũng biết, lạ thiệt!

- Tai to mặt lớn ở Pari nhiều vị nợ tiền ba em. Thông minh như ngài chắc là  sẽ hiểu vì sao em biết chuyện ấy. Lòng Cụ Hồ là lòng dân tộc. Vậy mà ngài ...

- Thôi, thôi! Ta đang đau đầu bởi tướng Giáp. Hoàng hậu răng hiểu nổi nỗi khổ của ta.

Sau ngày ở Marốc về, cựu Hoàng hậu nhận ra là đã có tin vui. Ngay sau đó, bà phải lãnh chuyện tồi tệ. ấy là việc vài ba hoàng thân quốc thích cư trú tại “mẫu quốc” vay chằng nợ đụp, vào hộp đêm mua vui ký sổ lâu ngày không có tiền trả. Các chủ nợ, chủ hộp đêm rủ nhau đến “ăn vạ” cựu Hoàng hậu. Giữ danh cho hoàng tộc, bà Nam Phương phải bỏ tiền riêng trả nợ đậy. Chuyện phiền toái ấy qua đi được vài ba tháng lại có hung tin từ cố quốc bay sang. Từ Cung biết năm nào cựu Hoàng hậu cũng sang châu Phi kiểm tra đồn điền. Bà ấy nói: Xa chồng mà có thai hẳn là rửng mỡ. Cái thai ấy không của thằng Marốc thì cũng của gã Cônggô. Hoàng tộc mà có thêm một đứa da đen tóc xoắn, “Quốc trưởng” hẳn là phải mua mo cau.

Bà Nam Phương ngất đi bởi những lời ác độc ấy, dẫn đến cái thai bị hỏng.

Mộng Điệp có thư ủy nhiệm của “Quốc trưởng” mang hai “bảo vật truyền quốc” là ấn và kiếm sang Pháp trao cho cựu Hoàng hậu bảo quản. Quốc ấn 12, 9 ki lô gam vàng và kiếm thiêng chuôi ngọc, Bảo Đại đã trao cho ông Trần Huy Liệu ngày Hoàng đế thoái vị thì lấy đâu ra ấn kiếm nữa? Nhân gian điều gì cũng có thể xảy ra. ấn kiếm triều Nguyễn mà Chính quyền mới quản lý đã rơi vào tay người Pháp hồi sáu mươi ngày đêm Hà Nội mịt mù khói lửa. Năm 1950, người Pháp trả lại ấn kiếm cho Bảo Đại. Chiến tranh Việt Nam ngày càng quyết liệt, quốc bảo giấu đâu cũng không an toàn.

Biết thân phận, Mộng Điệp chắp tay cúi chào. Cựu Hoàng hậu khẽ gật, hỏi:

- “Thứ phi” vâng lệnh Từ Cung sang đây dò xét phải không? Nếu nó thành người, bà mới biết nó da đen hay da trắng. Đáng thương, nó không được khóc chào đời.

Mộng Điệp lễ phép:

- Bẩm Hoàng hậu, em sang đây do “Quốc trưởng” ủy thác trao cho bà ấn kiếm.

Bà Nam Phương xem thư, nhận ấn kiếm thốt lên:

- Hồn triều đình cũng phải trốn sang đây thì mấy người chống sao được Cụ Hồ.

Nhìn thẳng vào cựu Hoàng hậu, Mộng Điệp chân thành tỏ bày:

- Em có lỗi với Hoàng hậu, xin người bao dung. Thề với trời đất, em biết trước sau Hoàng hậu là người đoan chính. Vì sự trong sáng và tôn nghiêm của người, em sẽ thưa với “Quốc trưởng”.

Quay về nước, Mộng Điệp thưa ngay chuyện đau lòng của Hoàng hậu với “Quốc trưởng”. Bảo Đại vội vàng bay từ Đà Lạt về Huế, đưa cho bà Từ Cung tấm ảnh chụp chung với bà Nam Phương trong chuyến đi thăm đồn điền cao su tại Marốc, nói:

- Nếu Hoàng Thái hậu là Nam Phương, người có nuốt trôi những lời độc địa ấy không?

Bà Từ Cung lí nhí:

- Ông Hoàng chuyển giùm lời của ta xin lỗi bà Hoàng.

*

Tiền của Pháp chuyển sang, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ngoạm mất non một nửa. Đánh hơi Xuân sắp nhào, nguyên Tri huyện triều Nguyễn là Ngô Đình Diệm được Mỹ o bế “tình nguyện” ngồi vào ghế xôi thịt đó. Biết Bảo Đại rất nể trọng Hoàng hậu, Diệm mời Tôn Thất Cẩn cùng bay sang Pháp xin tiếng nói của bà hoàng vào cuối tháng 5 năm 1954. Bà Nam Phương rất nể Tôn Thất Cẩn. Bởi lẽ, ông Cẩn là con trai trọng thần Phụ chính Tôn Thất Hân, thời vua Khải Định.

Diệm khẩn khoản thỉnh cầu. Bà Nam Phương tỏ ra phân vân, vì không ưa Diệm. Gián tiếp mách nước cho Diệm, Tôn Thất Cẩn cất lời:

- Thưa Hoàng hậu, ông Diệm là bổn đạo hẳn sẽ không làm “Quốc trưởng” và Hoàng hậu thất vọng.

Hiểu ý Tôn Thất Cẩn, Diệm bước tới trước tượng Chúa quỳ xuống :

- Thần là con chiên trung thành xin thề với Chúa: Trước sau một lòng phụng sự “Quốc trưởng” và hoàng tử Bảo Long.

Bị điểm trúng “tử huyệt”, cựu Hoàng hậu mềm lòng đã tác động đến “Quốc trưởng”. Ngày 16 tháng 6 năm 1954, Bảo Đại bổ nhiệm Diệm vào ghế Thủ tướng. Một thoáng nhẹ dạ, cựu Hoàng hậu tin lời Ngô “ngũ đoản”(3) khiến “Quốc trưởng” phu quân nuốt hận mãn đời. ấy là việc đầu năm 1955, Diệm đã lật đổ Bảo Đại, lập “triều đình” mới là “Việt Nam Cộng Hòa” theo kịch bản của Mỹ.

Biến cố chính trị này đã đánh quỵ cựu Hoàng hậu... Nhầm tin quỷ sa tăng, bà rất ân hận! Cú xốc quá lớn gây cho bà mắc bệnh trầm cảm. Còn cựu Hoàng, ngài lang thang khắp “mẫu quốc” tìm “thú vui” cho quên cay đắng khiến bà Nam Phương càng đau lòng.

Ngày 14 tháng 9 năm 1963, cựu Hoàng hậu bị cảm đột ngột rồi qua đời ở tuổi năm mươi, theo nguyệt lịch. Thương cảm biết bao, bà về với Chúa xung quanh chỉ có những người giúp việc, không bóng dáng người thân. Đám tang cũng vắng bóng cựu Hoàng!

*

Hoàng hậu đầu tiên và cuối cùng của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam đã hòa vào vĩnh viễn cách nay gần năm mươi năm. Công đức của bà dành cho thức giả cảm nhận. Còn với người viết thiên truyện này, Nam Phương Hoàng hậu dù Tây học nhưng bà vẫn là một phụ nữ ngời ngời công dung ngôn hạnh, rất truyền thống và yêu nước. Sau ngày 23 tháng 9 năm 1945 Pháp gây hấn ở Nam Bộ, bà là người đầu tiên thay mặt mười ba triệu phụ nữ Việt Nam gửi Thông điệp tới bè bạn năm châu, kêu gọi những người đã từng là nạn nhân của chiến tranh hãy khẩn cấp hành động để bênh vực và bảo vệ hoà bình, tự do của mảnh đất mà bà gọi là Tổ quốc. Ngàn sau ai đó đọc Thông điệp ấy chắc cũng như tôi, tâm tưởng hẳn sẽ dâng lên niềm cảm thương, tự hào và tôn kính Hoàng hậu.

Nam Phương Hoàng hậu không chỉ là hương thơm phương nam. Hương thơm ấy là hương của loài hoa quý. Bất giác tôi cảm thấy: Hoa lìa cành hương mãi còn thơm...

________

1. “Tứ bất lập” nghĩa là không lập Thái tử, không lập Hoàng hậu, không chức Tể tướng, không tuyên Trạng nguyên.

2. Trước khi cưới, Bảo Đại hứa với Nguyễn Hữu Thị Lan chỉ “một vợ một chồng”. Kết cục, Bảo Đại có tới 7 Thứ phi bất hợp pháp (có 3 người Tây). Hai Thứ phi Việt Nam và một Thứ phi Trung Hoa đã sinh cho Bảo Đại 7 con.

3. “Ngũ đoản” nghĩa là năm ngắn: thân ngắn, hai tay ngắn, hai chân ngắn. Ngũ đoản ở đây hiểu theo nghĩa tiểu nhân, phản chủ.

 

 

PHÁO NỔ PHÁO NANG

Truyện ngắn của Hồ Anh Thái

Cái đôi ấy chuyến ấy rủ nhau đi về thành phố ấy. Vũng Tàu thì phải. Những phố thị ngoại vi như Vũng Tàu Đà Lạt có khi được cánh sành sỏi gọi là thành phố ngoại tình. Phía bắc thì Đồ Sơn, Tam Đảo, Đại Lải, Sa Pa. Người ở xa đến với nó chỉ là du khách, chơi bời tạm bợ chút ít rồi phắn, ai trở về nhà nấy, không ai ăn đời ở kiếp ở cái chỗ chỉ đến nghỉ dưỡng vui chơi. Chuồn chuồn đạp nước khơi khơi mà thôi. Cũng còn có nghĩa là những phố thị ngoại vi đô thị ấy là điểm hẹn cho những cặp những đôi không được gán ghép pháp lý, chỉ là trốn cơm đi ăn phở.

Nhưng cũng còn một loại du khách khác, cái đôi mà ta đang nói đến ở đây. Mười tám đôi mươi. Mới yêu nhau một thời gian, họ quyết định chấm dứt tình trạng nằm mộng ăn chay, không chọn nhà nghỉ ở đô thị đồng bằng mà rủ nhau xuống Vũng Tàu. Một trăm hai mươi cây số. Lúc đi có đủ hai người. Lúc về chỉ có một mình nàng. Xong việc, chàng lập tức biến mất không tăm tích, bốc hơi, đúng kiểu Sở Khanh quất ngựa truy phong. Lúc đi xe khách đủ cả hai người. Lúc về về tàu thủy cao tốc chỉ có một mình nàng.

Mất tích luôn, không một lời nhắn, không một lời giải thích. Nàng đi tìm chàng. Cả năm trời sau đó. Nghĩ rằng mình đã gặp Sở Khanh, đâm cành bẻ hoa xong thì biến. Suốt đêm ấy họ đã ở với nhau, một góc khuất ngoài bãi biển. Gần sáng, chàng lần mò đi ra phía sau một ghềnh đá, như là đi vệ sinh, rồi không thấy trở lại. Tìm khắp bãi biển, tìm khắp khu nhà nghỉ, tìm khắp thành phố, tìm suốt cả ngày.

Không bao giờ gặp lại nữa.

*

Chẳng ai ngờ chỉ một cú đi ra sau ghềnh đá, anh chàng đã đi luôn một mạch sang bên kia đại dương. Nước Mỹ.

Phía sau rặng đá che chắn, anh gặp một nhóm người đang hí húi với một con tàu nhỏ. Nhập bọn. Nhận ra giọng cầu tõm quê em ở ngoài Bắc, nhận đồng hương đồng khói. Xin điếu thuốc hút. Hút hết điếu thuốc thì cả bọn kèm ép anh chàng lên tàu đi luôn. Họ vượt biên. Thằng cha này mà ở lại, nó vào báo công an thì tàu không kịp ra đến phao số không. Cẩn tắc vô áy náy, bắt nó theo, cùng cả bọn vượt biển luôn.

Vài năm trời lang thang trong những trại tỵ nạn vùng Đông Nam á, cuối cùng anh chàng đến được nước Mỹ. Đang tuổi sinh viên, anh được thu xếp cho vào một trường đại học. Trường đại học tổng hợp lãnh thổ tương đương một quận trong thành phố, trong trường có cả nhà thờ, siêu thị, nhà hát, rạp phim, sân vận động. Trong trường có vài chục trường con. Thư viện hơn một triệu cuốn sách mở cửa suốt đêm, có thể ngồi đấy đọc sách qua đêm. Khuôn viên trường Mỹ thuật có một cái vườn tượng. Toàn bộ là tượng của Rodin. Những phiên bản bằng đồng đen, cỡ người thật, phần lớn là những vóc dáng đàn ông những tư thế đàn ông. Khom người, cong người, cúi người hoặc ngồi tay chống cằm suy tư hoặc bật đứng dậy ngơ ngác. Ai đã thấy cái vườn tượng trong trường Đại học Tổng hợp Standford thì đấy, trong khuôn viên cái trường ít danh tiếng này cũng có một vườn tượng như thế.

Chàng được trường cho đi rửa tượng. Hàng trăm sinh viên chỉ một người được giải quyết cho làm cái công việc ấy. Hỗ trợ thu nhập cho sinh viên nghèo. Vài ba ngày một lần mang vòi nước vào vườn, phun nước rửa sạch bụi cho mấy chục pho tượng. Xèèèèèèèo. Rửa từ đầu đến chân. Xèèèèèèèo. Từ cổ xuống lưng xuống mông. Xèèèèèèèo. Từ ngực xuống bụng xuống trym xuống đầu gối mắt cá. Xèèèèèèèo. Tắm cho tượng. Ông Rodin ở nước Pháp từ cuối thế kỷ mười chín có ý hướng không mặc quần áo cho tượng. Anh chàng ở cuối thế kỷ hai mươi phải sục vào các hang hốc ngóc ngách mà ông tạo ra để phun nước. Xèèèèèèèo. Xèèèèèèèo. Xèèèèèèèo. Phun nước xong thì xì hơi cho sạch, để nước bám vào nách vào háng sẽ tạo gỉ xanh. Xììììììì. Xììììììì. Xììììììì. Anh thuộc hết từng đường gân thớ thịt, đúng kiểu nhà điêu khắc nghiên cứu cơ thể người, những cơ bắp chỗ nào thả lỏng chỗ nào gồng lên chỗ nào săn chắc chỗ nào đã nhão. Anh thuộc hết. Người đứng người nằm người ngồi trong cái cánh cổng địa ngục mà Rodin lấy cảm hứng từ Thần khúc của nhà thơ ý Dante. The gates of hell. Xèèèèèèèo. Xììììììì. Cái thế ngồi của pho tượng người suy tư, tay chống cằm ngồi khom lưng, ngồi tư duy mà thế thì giống dáng ngồi bệ xí bệt. Anh phát hiện ra vậy sau cả năm trời phun rửa xì xèo.

Anh gặp người mà anh lấy làm vợ cũng ở trong cái vườn tượng này. Một cô gái Mỹ tóc vàng mắt xanh da trắng. Anh mang đồ ra chuẩn bị rửa tượng thì thấy hai cô gái tung tăng chụp ảnh trước những pho tượng. Anh đành đứng chờ. Cô tóc vàng làm đủ động tác ngả người nghiêng người, ôm vai bá cổ ôm lưng những tượng đàn ông không manh quần. Cười toe cười toét. Mấy bà già đi tập thể dục ngang qua, một bà hỏi, con đĩ kia nó làm cái trò gì đấy hở bà, bà kia bảo nó đang cầm trym Rodin để chụp ảnh đấy. Con đĩ kia. Anh nghe rõ. That slut. Không hiểu sao lúc ấy anh lại muốn nhắc hai bà kia cẩn thận cái mồm. Muốn đe, tôi mà ghi âm được lời xúc phạm thì hai bà ra tòa.

Sự thể xoay ra đến độ anh lại mê con đĩ kia. Mà cô kia cũng mê anh, một chàng đầu đen mũi tẹt da vàng đặc sản Đông á. Mê nhau thì lấy nhau. Đẻ toèn toẹt ra. Liền một mạch ba đứa con gái trong tám năm trời. Đẻ tuồn tuột như mấy mẹ sề vùng cầu tõm quê cháu. Cô còn An Nam Mít hơn anh. Cười sướng, cô cứ khà khà khà như đang ngồi giữa chiếu bạc hút thuốc lào vặt ở vùng đồng chiêm trũng quê cháu. Khà khà khà. Bao nhiêu lần anh giật nảy người vì cái khà khà khà ấy. Anh cũng đã giật nảy người vì cái cách lái xe hơi của cô. Lùi xe, cô cua một đường vòng cung như tên bắn suýt nữa đâm sang vỉa hè bên kia đường. Đám mèo chó hoảng hồn chạy dạt. Cô rồ máy thật rền phóng đi. Mấy bà hàng xóm lại được dịp lẩm bẩm con đĩ kia. Đám bạn bè thì bảo kiếp trước chắc anh ta ăn cắp cái tivi của nhà cô cho nên kiếp này anh phải bỏ xứ sang đây để trả nợ. Vợ da trắng chồng da vàng. Nô lệ da vàng. Đẻ ra mấy đứa con, cô không chịu đi làm. Giục năm lần bảy lượt, xin được mấy lần phỏng vấn vào nơi này nơi khác, cô đều không chịu đi. Phụ nữ xứ này hiếm ai không chịu đi làm. Kỳ quặc khác người lập dị. Lại đám bạn anh bảo nó lập dị không ai lấy nó nó mới phải lấy người nước ngoài. Nó bình thường lành lặn thì đàn ông bản địa đã lấy nó rồi. 

Anh sinh viên mỹ thuật phải đi rửa bát nhà hàng, thu gom xe đẩy ở siêu thị, sắp xếp xe vào bãi để xe. Còng lưng nuôi vợ và một lũ lĩ con gái. Rồi tốt nghiệp đi làm công ty nội thất, sáng sớm đã đi làm tối mịt mới trở về, lúc đi con còn ngủ, lúc về con đã ngủ, cả tháng không được nói chuyện với con. Chỉ có cô vợ như cái loa phường. Đúng như cái câu đố của người Việt: con gì ăn lắm nói nhiều, mau già lâu chết, miệng kêu tiền tiền? Đố là con gì? Khu phố anh đang ở, trị an vừa phải, hễ cả nhà đi vắng, người ta phải để có tiếng đài ở trong nhà, làm như trong nhà có người, trộm cắp ngại. Cô vợ nói nhiều của anh ở nhà là thay cho cái đài an ninh. Suốt ngày than thân trách phận lấy phải chồng đụt. Than thân trách phận đau đầu đau lưng. Nhức răng nhức xương. Không chịu đi làm chỉ ngồi than. Người Mỹ như thế là hiếm.

Gần một cái Tết á Đông, anh mua hương hoa đèn nến về sắp xếp cái bàn thờ thì cô bỏ đi. Mang theo ba đứa con về nhà mẹ đẻ. Từ bờ Tây nam Thái Bình Dương, cô đưa ba đứa con đi tuốt lên Tây bắc. Mẹ cô sống một mình ở bang Oregon, thỉnh thoảng bà vẫn lái xe xuống thăm con thăm cháu. Lúc cao hứng lên cô vẫn thường lái xe chở con đi mấy trăm dặm lên ở nhà mẹ. Lúc chán chường cô cũng lái xe về với mẹ. Lần này thì cả bốn mẹ con đi xe khách lên nhà bà ngoại. Được ăn ở miễn phí nhiều ngày, đỡ được một số khoản phải lo.

Ngày Tết, ngồi nhà một mình, anh lấy đất sét nguyên liệu làm tượng ra, nặn những miếng tròn dẹt như quả mứt hồng. Đưa lên miệng hà hơi một cái rồi quật miếng đất sét xuống nền nhà. Phẹt một cái. Ném cái nữa. Phẹt. Mấy cái nữa. Phẹt phẹt phẹt. Trò chơi thời trẻ con. Pháo nổ pháo nang. Những miếng đất đập bẹp xuống nền gạch, nứt toét ra ở chính giữa. Mỗi miếng đất hình tròn vỡ toác ra một lỗ. Nổ to được coi là tài. Nứt to được coi là lợi. Cái đứa chơi sau phải lấy đất của nó dán bù vào chỗ nứt toác rồi mới đến lượt quật miếng đất của nó xuống. Pháo nổ pháo nang, cả làng chịu chửa? Bán nhà bán cửa, mà đền pháo tôi.

Anh nhặt những miếng đất hình tròn, mỗi miếng bị toét một lỗ ở giữa, gắn vào mấy tấm gỗ dán, đem hong khô ngoài vườn. Rồi anh dựng những tấm gỗ lên, đặt ngay trước hiên nhà. Một triển lãm sắp đặt. Nguyên liệu đất sét trên nền gỗ. Những tác phẩm mỹ thuật mới của họa sĩ á Đông trong ngày Tết nhớ nhà.

Những cái pháo nổ pháo nang bây giờ mới thực sự lộ hình dạng. Những cái rắm. Nổ bung ra không kiềm chế. Nổ toét mông đít sảng khoái tự do. Pháo nổ pháo nang sao người Việt không ai thấy nó là tượng hình của những cái trung tiện không kìm giữ. Ngày Tết ở đây phải vào phố Tàu mới có thể nghe đôi ba tiếng pháo tép thách thức cớm. Anh ngồi nhà có cái pháo nổ pháo nang của riêng mình. Anh đã tìm ra ý tưởng cho cuộc triển lãm sắp tới. Sẽ toàn là pháo nổ pháo nang, trên mỗi bảng gỗ sẽ là những sắp xếp bố cục khác nhau. Vài chục cái bảng gỗ pháo nổ pháo nang như vậy. Người ta sẽ đọc tờ rơi giới thiệu triển lãm về một trò chơi ở vùng cầu tõm xa xôi. Người ta sẽ đọc lời bình của một số họa sĩ tên tuổi, tán tụng tác phẩm độc đáo. Những miếng đất hình cầu nứt toác ra ở chính giữa là những con mắt vỡ. Hàng chục con mắt thao láo đã đánh mất điểm nhìn. Hàng chục cái bát á Đông vỡ ngay từ trong lò gốm chưa ra được với đời. Hàng chục khát vọng tròn đầy viên mãn còn dang dở.

Mặc. Nói gì thì nói. Anh biết chỉ có anh mới biết nó thực sự là cái gì.

Vợ đi được dăm ba ngày thì mẹ vợ gọi điện lên. Anh bảo chúng nó về đi chứ. Không thì anh xuống mà đón chúng nó về chứ. Tôi chỉ có lương hưu. Tôi nuôi nó đến mười tám tuổi là tôi tròn trách nhiệm, sau đó nếu bù chì thêm được tí nào là phần lãi suất may mắn của nó mà thôi, lời ăn lỗ chịu. Vợ không chịu đi làm là cái lẽ làm sao. Chồng không bảo được vợ đi làm là cái lẽ làm sao. Chồng không lo được tài chính cho gia đình là cái lẽ làm sao. Lâu lâu chúng nó lại kéo nhau đến nhà bà, bày bừa cả ra. Ba đứa con gái lôi hết xống áo khăn quàng của bà ra bện thành búp bê. Chúng giày xéo vườn hoa nhà bà. Chúng lấy kéo cắt đuôi con lợn cảnh mà bà vẫn dắt đi dạo chơi. Nòi nhà nó, thế nào rồi ba đứa con gái cũng có đứa lên xe là rồ máy rú máy như mẹ nó. Nghe bà nói một lúc mới càng hiểu tại sao người Âu Mỹ chuyên đời có chuyện tiếu lâm xung đột mẹ vợ chàng rể. Như là chuyện mẹ chồng nàng dâu ở quê anh.

Vài ngày sau, bà mẹ vợ tự tay lái xe chở cả lũ con gái cháu gái về nhà trả cho anh. Nói cho chính xác thì bà chỉ có ý định chở chúng nó ra bến xe khách. Nhưng đến bến xe bà lại nghĩ, nhỡ đâu chúng nó đi được một chặng rồi tự nhiên lại lên cơn thích nhà bà, chúng nó rủ nhau quay lại lần nữa. Chúng nó sẽ giẫm nát vườn hoa và lấy kéo cắt đuôi con lợn của bà. Thế là bà tặc lưỡi tiện tay chở chúng nó về nhà luôn, mấy trăm dặm chẳng mùi gì. Ăn chắc.

Anh nghe bà già nói chuyện trên trời dưới đất về thời tiết cỏ cây để bà lảng cái chuyện thực chất. Anh ừ anh hữ. Rồi anh ngồi thần ra một lúc. Rồi như phản ứng máy móc, anh ra dựng lại mấy tấm sắp đặt pháo nổ pháo nang. Chĩa tất cả ra trước cửa nhà. Như chổng mông phô trương. Như thách thức. Pháo nổ pháo nang.

 

 

PHƯƠNG NAM

Truyện ngắn của PHÙNG HI

(Huyền thoại: Năm 499 trước công nguyên, nhà Chu suy thoái, Lão Tử cưỡi trâu xanh đi về phía tây. Kết cục ra sao không ai biết)

Phùng Hi.

tên thật là Nguyễn Phi Hùng

Sinh ngày 13 - 6 - 1964 tại xứ Nẫu

Quê quán: huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Bắt đầu thử sức ở lĩnh vực văn chương cũng gần mười năm

Hiện là Giáo viên dạy Toán, trường THPT Trần Quốc Tuấn - Phú Yên

 

Mùa xuân năm 499 trước công nguyên. Cỏ cây dưới đất đâm chồi, nảy lộc, đơm hoa. Mây trắng trên trời rủ nhau bay từng đàn về phương nam. Khí trời dịu lạnh. Nắng vàng tươi như mật rót. Đất trời đẹp vậy nhưng lòng người nhà Chu tao loạn.

Lão Tử 81 tuổi. Cuộc đời trần thế của Lão vừa đúng thời gian Lão nằm trong bụng mẹ. Kỳ lạ, Lão thấy mình chưa già. Sống dài, trông mãi, nghĩ hoài cũng chán, Lão lo mình thọ hơn Bành Tổ. Nửa đêm nọ Thượng Đế cưỡi mây vàng sáng lòa, ghé tệ xá lệnh cho Lão đầu thai kiếp nữa để độ thế chúng sinh. Lão Tử mỏi, có ý chống:

- Chúng sinh có cần đến Nhĩ này đâu? Làm cho dân ở Chu thuần phác, sống cõi đời thật, quá sức ta rồi.

Thực lòng Lão chẳng muốn về trời với đám thần tiên nhàn cư vô vị, cũng không muốn hóa nhi bằng cách đầu thai. Cần phải làm một điều gì đó! Lão Tử bèn nhuộm đen cả tóc và râu, búi tó ra sau, trông như một nông phu cường tráng ở tuổi trung niên. Sáng ngày kia Lão mắc Thanh Ngưu vào cỗ xe, chạy như trốn về phía tây của Chu. Quan cửa khẩu chặn lại soát, nói:

- Luật nhà Chu không cho mang sách ra khỏi nước.

Lão Tử vui vẻ bỏ lại bản thảo cuốn Đạo đức kinh, viết trên năm ngàn thẻ tre. Lão tháo cả xe quăng, cưỡi lên lưng Thanh Ngưu phất tay chào tên quan lại cuối cùng của triều đình. Ôi mới thanh thản làm sao. Thanh Ngưu lắc cặp sừng, cất tiếng:

- Ông vừa bỏ đạo?

- ồ thật thú vị, ngươi biết nói sao?

- Tôi nói được khi ra khỏi Chu. Kìa ông trả lời tôi đi chứ.

Lão Tử ngoảnh lại phía sau thoáng buồn, thoáng vui:

- Đạo có khắp nơi. Cái ta bỏ lại không phải đạo, chữ là phương tiện bất đắc dĩ của đạo.

Thanh Ngưu hỏi:

- Tôi sẽ đưa ông đi đâu?

- Xuôi nam theo bóng cánh chim Bằng.        

- Ông thật lạ, lúc đầu sao không đi về nam.

- Ngươi muốn biết nhiều rồi đó. Chim Bằng khi vỗ cánh dời nam thì nó liệng sang tây lấy đà, sải cánh như đám mây che lấp cả mặt trời. Ta thuận cánh chim Bằng, trốn ánh mắt người nhà trời mà đi.

Thanh Ngưu mọc cánh cất mình khỏi mặt đất, nương mây ngàn bay qua Ba Thục, qua những cánh rừng, những bờ bãi, những núi đồi, những dòng sông muôn dặm trùng trùng. Trên cao ngàn trượng nhìn xuống mặt đất bao la, nhớ đến những chiêm nghiệm về vũ trụ, cái lớn cái nhỏ, cái trong cái ngoài qua nhúm chữ đã viết, Lão Tử, thấy cái mình biết chẳng đáng bao nhiêu.

Con Thanh Ngưu hát điệu Nam Xuân rền như sấm động:

Dời nam ...(xang) dời nam.

Theo bóng chim Bằng (xàng)

Trở về... (xê) nguồn cội (liu)...

Hồi cố... (xề) đất xưa (lìu)...

Lão Tử cười vang trên bầu trời, hỏi trâu xanh:

- Tại sao ngươi bảo “trở về nguồn cội”?

- Chẳng phải có lần tôi nghe ông bảo tổ tiên của ông là người Bách Việt từ miền nam lên chinh phục phương Bắc đó ư.

- Ngươi có trí nhớ quá tốt. - Lão Tử khen.

Qua Hồ Động Đình, Thanh Ngưu bay dọc biên cương nước Văn Lang, bờ nam sông Dương Tử, hướng về đông. Đến núi Gấm, Thanh Ngưu thu cánh hạ mình xuống nghỉ chân. Lão Tử gác đầu lên đá trông xa tít biển Đông mù khơi, trời nước hòa một, vô chung vô thủy. Thanh Ngưu gặm cỏ gần đó, hỏi:

- Ông từng nói người thông thái không cần đi mà vẫn nhận thức được. Bây giờ ông thấy sao?

- Vấn đề ở chỗ đi thì biết thêm. Chẳng hạn ta đâu ngờ ngươi biết nói, ngươi có thể bay và còn có thể làm bạn cùng ta nữa.

- Thưa, không dám.

Bỗng thấy toán cướp năm bảy người trói gô một cô gái, vắt ngang lưng ngựa, phi nước đại từ rừng ra. Lão Tử cưỡi thanh ngưu đón đầu, choán cả lối đi, hỏi lớn:

- Cô gái ấy tội gì?

Tên cầm đầu người Hoa Hạ hung hãn, dữ dằn nhưng bỗng chờn. Tại sao con trâu xanh kềnh càng kia lướt nhanh hơn ngựa xích thố của hắn.

- Ta bán cô này. Ngươi có vàng thì đưa đây, bằng không tránh ra, lôi thôi ta chém.

Lão Tử giơ thỏi vàng, ra hiệu cởi trói cô gái. Cô gái phương nam da trắng, tóc dài, mặt mũi thất thần hoảng sợ, sụp lạy ơn cứu mạng. Đẹp quá hóa nguy đây mà, Lão Tử lẩm bẩm đỡ cô gái đứng dậy. Cái đụng chạm xác thịt đàn bà đầu tiên trong đời Lão, rung động đến từng chân lông. Cô gái xưng tên Xuân Hoa. Nàng đi giày đan bằng sợi đay, mặc xiêm điểm hoa vàng, áo chàm ngắn đến bụng, bên trong yếm đỏ che ngực, cổ áo rộng khoe một phần bờ vai trắng ngần. Trông nàng như một con ong xinh xinh nhiều màu sắc. Nàng Hoa khóc nấc, kể chuyện đi vào rừng hái măng thì gặp bọn cướp.

- Thật tệ, cướp cả đàn bà con gái đem bán. Bây giờ nàng đưa ta về nơi nàng ở.

Lão Tử nâng bổng nàng lên lưng Thanh Ngưu. Lão ngồi sau, hai tay choàng tới trước vịn dây cương, ôm trọn bờ vai Xuân Hoa. Thân thể đàn bà kì diệu thế này sao? Mềm - thơm - ấm - dịu dàng. Một vùng thần tiên nơi trần thế, Lão chưa hề biết. Thanh Ngưu bay theo sự chỉ dẫn của cánh tay nàng Hoa thon dài, xinh xắn. Đôi tay nhiều lông măng của nàng còn hằn đỏ vết trói bằng dây da, nhìn xót thương.

Kìa là núi Hồng nơi cha mẹ nàng sinh sống. Trên cao nhìn xuống ngút ngàn màu xanh ruộng lúa, ruộng dâu, ruộng mía. Thấp thoáng những nếp nhà tranh yên bình dưới bóng dừa, bóng cau. Nghe trong gió xuân hương đồng phảng phất. Thanh Ngưu hạ cánh bên bờ sông Lĩnh. Chiều đang buông trên sông, hơi nước bốc lên tụ thành sương như khói. Lão Tử cùng nàng Hoa sánh đôi đi trước, trâu xanh đi sau như vợ chồng vừa thăm đồng về. Trên con đường đất rộng rãi, sạch sẽ, thanh bình của buổi chiều vàng, nhiều phụ nữ mặc váy áo màu sáng, lưng gùi củi khô hay cỏ tươi cho gia súc. Đàn ông tóc búi, áo nâu bỏ vạc bên trái vác cày, dắt trâu. Các cô cậu bé nhảy chân sáo theo cha mẹ, ánh mắt trong veo, nụ cười rực sáng. Họ hoan hỉ mừng Xuân Hoa mất tích nay trở về.

Lão Tử được cha mẹ nàng Hoa gả con gái. Thanh Ngưu nói:

- Ông có ý định trọ nhờ ở ân?

- Ta thích nơi này.

Lão Tử theo đúng thế tục chàng rể Lạc Việt, vô núi Hồng đào sâu xuống lòng núi lấy đất sét trắng xắt mỏng phơi khô thành thứ bánh quí để hỏi vợ.

Trời phương nam xanh hơn, mây phương nam trắng hơn, cây phương nam tốt hơn, nước phương nam trong hơn, người phương nam đẹp, hồn hậu và chan hòa hơn. Ngày ngày Lão Tử cùng trâu xanh cày ruộng, trồng lúa, trồng bông. Nàng Hoa dệt vải, quay tơ, nấu cơm, nấu nước chè xanh chờ chồng. Cuộc đời mới lạ xảy đến, nó chưa hề có trong triết thuyết của Lão. Sự ngây thơ như cây cỏ của nàng Hoa bắc nhịp đạo vô vi của Lão Tử thành lẽ sống giản đơn, an hòa.

Một hôm Thanh Ngưu hỏi ý Lão:

- Ông có nên ra mắt vua Hùng?

Lão Tử vuốt chòm râu cằm được nhuộm đen bằng tinh dầu hà thủ ô:

- Chắc phải đi một chuyến.

Hôm sau, Lão Tử ngồi trên lưng Thanh Ngưu thong thả đến kinh đô Bạch Hạc, thủ phủ nước Văn Lang. Lão Tử lấy làm lạ rằng khá nhiều người dân kinh thành ăn mặc lối nhà nho phương bắc, đầu đội mũ tròn ra vẻ biết trời, chân đi giày vuông tỏ ra hiểu đất, lưng đeo vòng quyết để làm bộ rằng việc đến không từ. Lão rất ghét. Đám hủ nho đã đến đây ư? Quan lễ tân vào báo:

- Tâu bệ hạ, Lão Tử người nước Chu muốn ra mắt.

Vua Hùng Vương Thứ Mười Lăm cười rằng:

- Thầy Già đó sao, lại muốn bày ta trị quốc như Khâu chứ gì. Mời vào.

Vua Hùng cao lớn, mặt vuông cằm bạnh, đầu đội mũ rồng, áo lụa đỏ, quàng cổ dải lông chim phượng, dây lưng da beo tạc chim Lạc chạy quanh, chân đi hia dát đồng sáng choang, ngự triều buổi sáng.

Lão Tử quì trước sân rồng. Hùng Vương nói:

- Quì gối là lễ của kẻ làm tôi. Quan dân nước ta tuyệt không lễ với vua kiểu đó, mong ngài đứng dậy cho.

Lão Tử đứng dậy, cung kính:

- Nhĩ này giờ là thần dân của bệ hạ.

- ồ, ta nghe người ta tả ngài râu tóc trắng xóa, hình hài cổ quái, sao nay trông tráng kiện, đẹp đẽ thế kia. Ngài có điều chi muốn nói với quả nhân?

Lão thưa:

- Hình có lạ nhưng tâm nào có tổn, quên hình là theo được hình. Thần được biết bệ hạ cầm quyền mà thảo dân Văn Lang không để ý đến sự tồn tại của bệ hạ, sống yên vui, hòa hợp cùng thiên nhiên. Bệ hạ là bậc thánh nhân!

Hùng Vương:

- Ngài có quá lời chăng? Thời thầy Khâu bị dồn đuổi ở Ba Thục, sang ta tạm lánh. Khâu cặm cụi làm nhân, dày công làm nghĩa, xong xóc làm danh, sậm sột làm nhạc, khúm núm làm lễ nên quan trong triều ta bắt đầu cạnh khóe, bắt bẻ, thích khôn, tranh lợi, khoe tài, nêu đức. Cái tốt ngài thấy trong dân là nhờ tinh thần Đạo Việt của tộc Lạc Việt ta đó. May mà thói hư của quan chưa kịp lan tới dân.

Lão Tử ngửa mặt than:

- Khâu sinh sau ta nhưng ảnh hưởng trước ta rồi. Dám hỏi tinh thần Đạo Việt bệ hạ vừa nói thế nào?

Hùng Vương cho bãi triều, gọi rượu nếp ủ với mật ong, đàm đạo cùng Lão Tử:

- Đạo Việt của Lạc Việt đó là đạo an vi, không vô vi lánh đời, không hữu vi giành giựt, sống tích cực, tận lực cho mục đích hướng thiện, theo lẽ an nhiên, hợp với sự vận hành của vũ trụ. Đó là tham thiên lưỡng địa, sống là phát triển, vũ trụ vận hành đi lên với ba phần dương, hai phần âm. Đó là nhân chủ, thái hòa, tâm linh; trong quan hệ thiên - địa - nhân này con người là chủ, giữ vị trí tôn quý. Và đó là bình sản, cơ sở tồn tại xã hội.

- Nhĩ này xin mười phần kính phục. Thiên hạ an vui và hạnh phúc biết bao nếu tâm hồn mọi người thấm đẫm tinh thần Đạo Việt. Phải chăng nên gọi là minh triết Việt.

Hùng Vương dò ý Lão Tử:

- Ta làm gì với công hầu khanh tướng của ta đang bị “nhân, nghĩa” của Khâu gây tổn?

Lão Tử thưa:

- Nhốt “nhân nghĩa” của Khâu lại. Bệ hạ tạm lấy của cải làm lồng tất nhốt được kẻ tham giàu, lấy danh vị làm lồng tất nhốt được kẻ tham danh, để chờ ứng biến.

Lão Tử cáo lui. Hùng Vương nhắc:

- Ta thường đi săn ở núi Hồng nơi ngài ở, thuận tiện ta sẽ ghé thăm ngài. Phần ngài, tiện khi nào đều có thể đến với ta. Chắc ngài rõ ta với ngài cùng là con dân Bách Việt?

Lão Tử ra, Thanh Ngưu hỏi:

- Ông bàn gì với vua Hùng?

- Lo gỡ bỏ cách làm đạo của Khâu. Ôi xứ phương nam xa xôi, hiền hòa này mà Khâu cũng đã đến đây gieo họa. Hắn là ai đòi ôm lấy cái lo muôn đời, thiệt là hợm hĩnh. Kể về chỗ dụng tâm, hắn hơn gì kẻ bất nhân tham giàu vậy.

Sau mười ngày, một sáng tinh mơ lều tranh của Lão còn chìm trong sương núi, vua Hùng tách khỏi đám tùy tùng trên đường vô rừng trúc, một mình một ngựa đến thăm Lão. Lão Tử ra ngoài lều tranh nghênh đón, đưa nhà vua ra thăm ruộng dâu khi ánh nắng đầu tiên trong ngày vừa rọi đến. Vua nói: 

- Tổ tiên ta trí tuy trùm thiên hạ mà không tự nghĩ, tài năng tuy cùng trong bể mà không tự làm, công đầy nhân gian mà không tự biết. Khâu đến bày ra nào nhân, nào nghĩa, nào lễ mới có kẻ giả nhân, giả nghĩa, giả lễ.

Lão Tử nói:

- ồ, xảy đến bất nhân, bất nghĩa, bất lễ chỉ còn là tiệm tiến. Cho dẫu có kẻ thật nhân, thật nghĩa, thật lễ mà vô kỷ (không quên mình) đều là đầu mối của loạn.

Hùng Vương nói:

- Quả nhân xử thế nào với đám quan triều đình

- Trở lại cái thường nhiên. Cái vẹo không cần uốn, cái thẳng không cần nảy mực, cái tròn không cần khuôn, cái vuông không cần thước, bó buộc mà không cần dây nhợ.

- Có dễ chăng? - Vua Hùng thở dài.

Đám tùy tùng nhà vua khó chịu khi thấy chủ tỏ ra quí mến và sủng ái Lão Tử, sợ Lão sẽ theo vua về triều đình cản đường lợi danh của chúng. Trong khi vua Hùng và Lão Tử tiêu dao, luận bàn minh triết Việt, chúng bày mưu giết con trâu xanh để bó chân Lão khỏi về với triều đình.

Thanh Ngưu đang ăn cỏ trên bờ sông Lĩnh. Gió bấc đầu thu thổi nhẹ ngược dòng chảy, sông Lĩnh nổi sóng vỗ bờ, ăm ắp nước. Kẻ thủ ác nghe tiếng đồn trâu thần phi nhanh hơn ngựa, sợ không giết được, nguy thân. Chúng bèn tẩm độc các mũi tên, giương cung cùng lúc, hạ thủ xong liền trốn chạy. Thanh Ngưu trúng tên tẩm thuốc, ngã lăn ra trảng cỏ xanh. Lão Tử đến nơi kêu khóc:

- Thanh Ngưu, ngươi bỏ ta sao?

Nó thưa:

- Là người, tôi chưa sống. Là vật, tôi chưa chết. Tôi không còn lo cái ăn cho hình xác, chẳng phải tốt hơn sao. Không cần truy kẻ bắn cung. Ông chẳng từng nói, coi một sống với chết, xem bằng phải với trái. Ông lấy cặp sừng tôi mà đem về.

Lão Tử đem cặp sừng Thanh Ngưu treo ở vách chỗ mình nằm. Cặp sừng nói:

- Ông cần đi xa thì cầm lấy cặp sừng, tôi vẫn có thể bay đi.

Nàng Hoa thấy vua Hùng thường ghé lều cỏ bàn chuyện trị nước với Lão Tử. Nhất là chuyện nhà vua muốn vời Lão ra làm quan, còn nói: “Phu nhân của khanh về kinh thành, khó có ai bì kịp nhan sắc, khanh cũng nên nghĩ cho nàng ấy”. Xuân Hoa nghe cứ xốn xang, rộn ràng trong lòng. Nàng bảo:

- Phu quân sao không nghe vua cho thiếp được nhờ.

Lão Tử hỏi:

- Nàng bảo nhờ gì ta không hiểu? Ta là dân thường, dệt mà mặc, cày mà ăn. Giản dị thì dễ nuôi, không cậy nhờ thì không trả nghĩa.

Nàng Hoa phụng phịu, nhíu mày, xinh xắn lạ thường:

- Chàng thiệt là. Chàng làm quan, thiếp theo về kinh thành được mặc đẹp, ăn cao lương...

- ồ kỳ lạ, nàng ở nơi thâm sơn cùng cốc này nghe ai, theo ai, xem ai mà lòng sậm sột, triết thuyết của ta sai sao? 

Lão Tử nghĩ cho cùng, ước vọng của vợ cũng thường tình. Nghe vợ, Lão nhận chức quan tri huyện Liên Trì, vùng ven phía tây thành Bạch Hạc. Lão cũng muốn thử triết thuyết vô vi xem sao, nên không muốn nhận chức quan Ngự sử túc trực trong triều, can gián việc quan quân. Dân Liên Trì hiền lành, thân thiện cùng thiên nhiên, sống với nhau hòa đồng nhân ái. Lão làm quan mà như không làm.

Nàng Hoa lo lắng:

- Sao phu quân không làm gì cả. Không sổ sách, không xét xử, không họp bàn?

- Ta không làm mà việc gì chẳng làm. Vì không làm trái tự nhiên nên nàng không thấy đó thôi.

Nàng Hoa thường thấy hào kiệt, nhân sĩ đến ra mắt Lão Tử, giữ lễ của kẻ học đạo, kính trọng hết mực. Nàng bảo với phu quân:

- Nghe thiên hạ bảo chàng là thầy của các bậc thầy, sao chàng không mở lớp dạy học?

- Trò của trò ta là trò của ta. Trò ta dạy tức là ta đã dạy. Ta cũng vừa dạy xong và trò đã đi, sao nàng bảo ta không dạy. Có trường lớp, có sách vở thì đâu còn dạy nữa, đó là nơi chỉ cách học, cách làm, chỉ cách sống chung, cách sáng tạo mà thôi.

Xuân Hoa ù tai với Lão Tử. Cái nàng cần giản đơn là danh, phận và lợi. Một hôm nàng dỗi:

- Chàng chết quách đi.

- Sống đó mà chết, chết đó mà sống. Nàng biết gì về lẽ sống chết, sinh diệt trong vũ trụ này?

Xuân Hoa bĩu môi, hờn:

- Thiếp điên mất kiểu lý sự của chàng.

Nàng hờn dỗi lại càng xinh đẹp, đáng yêu lắm. Dễ chừng Lão Tử điên chứ không phải nàng Hoa điên. Xuân Hoa thường cùng gia nhân về kinh thành Bạch Hạc mua sắm, gặp gỡ các mệnh phụ sang trọng, các quan lại hào hoa. Nàng choáng ngợp những lời tán tỉnh, những phỉnh nịnh mỹ miều. Nàng chỉ là vợ quan tri huyện nhưng vua Hùng quí trọng Lão Tử, mến mộ nhan sắc của nàng nên vẫn thường vời nàng vào cung dự tiệc, xem hát.

Ngày kia công tử Thục dẫn quân chinh phạt giặc phương bắc, ca khúc khải hoàn trở về Bạch Hạc. Hắn gặp Xuân Hoa đang thử yếm ở tiệm vải. Hắn xuất hiện hiên ngang, oai vệ. Nàng Hoa thất thần, chết lặng với cái nhìn của hắn. Cô nàng kiều diễm giữa chốn kinh thành này sao hắn chưa biết nhỉ? Hắn quyết tâm ve vãn.

Nàng Hoa bỏ Lão theo công tử Thục, con vị quan tể tướng trong triều. Nàng tưởng rằng sự sung sướng còn có thể tìm thấy nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Quan trong triều hỉ hả trút được cái tức bấy lâu: “Nếu Lão làm Ngự sử trung tán, cận kề nhà vua thì công tử Thục có mọc tám sừng cũng không dám làm càn. Đạo của Lão chưa cao, chưa thâm”. Nói xong họ cùng cười to, nhạo báng.

Tể tướng từng cho Thục theo đòi nhân nghĩa của Khâu nên hắn mới sinh trí trá, khoe công, tự đắc. Hắn quyến rũ nàng Hoa nhưng tự cho mình là trí, là hiệp. Hắn lấy nàng Hoa làm tì thiếp nhưng tự cho mình là nhân, là nghĩa. Ôi chao, đạo nhân nghĩa của Khâu là đầu mối của loạn, là gốc của mất đức, là nguồn của mất nước. Công, danh, lợi, vị kỷ thấm sâu trong hắn rồi.

Hùng Vương bắt Thục trị tội. Lão Tử can:

- Nhĩ này với nàng Hoa như cá ở cạn. Hà hơi, thấm dãi, thương nhau như thế, nhưng than ôi, đành quên nhau về với sông hồ vậy. Tội không phải ở Xuân Hoa, ở Thục mà là ở Nhĩ ta.

Lão Tử hẫng hụt thất vọng từ quan:

- Tâu bệ hạ, bệ hạ bỏ lỗi, đạo của Nhĩ vừa đủ để tu thân, tự trị, hợp với tuổi già, không hợp số đông. Đạo có dư ra đâu mà tề gia, trị quốc. May còn Đạo Việt của bệ hạ.

Lão Tử ngảnh mặt phương bắc, than: “Khâu kia, ngươi làm ta khốn từ Chu sang đất Văn Lang này”. Lão Tử rũ tay áo, cầm sừng Thanh Ngưu, theo bóng chim Bằng đi tiếp về phương nam, kết cục ra sao không ai biết.

Dời nam...(xang) dời nam.

Theo bóng chim Bằng (xàng)

Trở về... (xê) nguồn cội (liu)...

Hồi cố... (xề) đất xưa (lìu)...

Người ta tính Lão Tử ở Văn Lang được năm năm. Cái Lão Tử làm được lúc đó là góp công cùng vua Hùng nhốt “đạo” của Khâu quanh quẩn trong quan lại triều đình, ngăn không cho lan ra dân lành Lạc Việt.

Lời bình:

Vua Hùng biểu tượng quyền lực, Lão Tử là đạo, nàng Hoa là đời. ở “Phương Nam”: Quyền lực mà như không cầm quyền, cai trị mà như không cai trị. Đến “Phương Nam”: Lão Tử chủ thuyết cũng là người bình dị lấy vợ, cày ruộng trồng lúa trồng bông. Vô vi cũng biến thành lẽ sống giản đơn, dung dị, an hòa. ở “Phương Nam”: Nàng Hoa hồn nhiên như cây cỏ càng dễ choáng ngợp, tha hóa bởi cái danh lợi của đời.

Dường như đằng sau dụng công dựng truyện va đập các căn cốt văn hóa khác nhau trong không gian sống trộn lẫn Đạo Nho, Đạo Lão, Đạo Việt; nhà văn Phùng Hi muốn truyền đi một thông điệp tư tưởng: chọn lựa được Đạo cao thâm đã khó; mà nhốt cái Đạo cản Đạo bởi chọn nhầm, “đầu mối loạn” gieo tại họa lại càng khó hơn.

Thanh Ngưu - Trâu Xanh vừa huyền thoại vừa hiện thực, cầu nối đạo với đời. Trâu Xanh hát: hồi cố đất xưa, trở về cội nguồn, không phải là quay lưng chối từ đạo ngoại; thực ra là khát vọng bản thể Đạo Việt - Minh Triết Việt.

Văn hiện thực và huyền ảo của Phùng Hi đạt tới độ gợi cảm mà vẫn khúc triết, thâm sâu; lọc lõi triết lý nhân sinh mà vẫn xanh tươi hồn hậu. ấy là cái sự đa dạng sinh động đáng quý ở ngay trong một tác phẩm, không mấy ai làm được!

Nhà văn Sương Nguyệt Minh

 

 

RAU ĐẮNG

Truyện ngắn của Mai Dương Dương

Mai Dương Dương, tên thật là Dương Thị Mai

Quê quán: Đồng Luông – Quảng Chu – Chợ Mới – Bắc Kạn

Hiện đang là sinh viên năm 3 khoa Sáng tác và Lý luận phê bình Văn học, Đại học văn hóa Hà Nội (Trường viết văn Nguyễn Du cũ)

 

1.

Mặt trời khuất sau rặng núi phía xa, trên nền trời chỉ còn lại những đám mây nhiều hình thù kỳ dị. Chải hái thêm mấy cây rau đắng bỏ vào gùi rồi ngước mắt tìm đứa con đang lúi húi trong bụi ngô. Nhặt cái gùi cõng lên lưng Chải đi về phía đứa bé trong khi nó đang ngồi ngắm nghía một quả dưa chuột to bằng bắp tay. Chải ra hiệu với nó rằng quả dưa này vẫn còn nhỏ lắm chưa hái được. Đứa con đứng lên khuôn mặt phụng phịu không chịu nghe. Chải cười với nó lộ một chiếc răng vàng bên mép phải, cúi xuống, Chải hái quả dưa cho đứa con, đôi mắt tinh anh của nó trở lại linh lợi, nó thích thú chạy đi trước mẹ. Trời nhá nhem tối hai mẹ con mới về tới cổng nhà. Trong nhà bà Sái đang đun nồi cám lợn trên bếp, con mèo đen cứ quấn quýt lấy chân bà kêu meo meo. Thằng bé chạy từ ngoài cổng vào khoe với bà:

- Bà ơi cháu có quả dưa này.

- Ai hái cho cháu bà thế? Cho bà xem nào?

- Bà bổ ra cháu với bà cùng ăn.

Bà Sái đỡ lấy quả dưa trên tay thằng bé:

- Bà gọt cho cháu bà ăn để nó mau chóng lớn nhé.

Chải đặt gùi xuống đất rồi đi lại phía bếp bắc nồi cám, mang ra cho lợn. Chải chưa kịp bước ra cửa thì ánh đèn pha xe máy đã rọi thẳng vào mắt, cô hoảng quá đánh đổ cả nồi cám. Cô chạy về phía bà Sái giật lấy con dao gọt dưa trên tay bà định xông ra cửa. Thấy thế bà Sái giằng vội con dao lại hỏi:

- Ai ngoài đó vậy?

Chải không thưa mà cứ nhìn chằm chằm ra cửa. Bà Sái ngó qua khe cửa thì người đứng ngoài cổng đã leo lên xe đi mất chỉ còn nghe tiếng xe vọng lại từ xa. Bà quay vào nói với Chải.

- Cất dao đi, nó đi rồi.

Chải ngồi thụp xuống nền đất cứ thế tức tưởi khóc một hồi. Thấy mẹ khóc thằng bé đứng dậy, đến ngồi vào lòng mẹ. Nó đưa bàn tay nhỏ bé non nớt lên lau những giọt nước mắt đang lăn dài trên đôi gò má ửng hồng của người mẹ. Bà Sái lặng lẽ đun lại nồi cám khác, chẳng biết trong cuộc đời của bà đã bao lần bà lặng lẽ khóc một mình như thế này. Giờ nước mắt của bà chỉ còn đủ rỉ ở khoé mắt. Sao ông trời lại tàn nhẫn với mẹ con bà thế?

Đêm lặng lẽ về trong ngôi nhà không có hơi ấm của người đàn ông, tiếng thở dài của hai người đàn bà cứ dài mãi. Ngoài kia, trời bắt đầu mưa nặng hạt, gió thốc mạnh làm các thanh ngang trên trần nhà kêu cót két, cảm tưởng ngôi nhà như muốn bật ra khỏi mặt đất. Sợ quá, hai người đàn bà một già, một trẻ, ngồi dậy tựa vào nhau ngửa mặt nhìn lên trần nhà. Chải bế đứa con, ôm chặt vào lòng mình. Có tiếng ầm ầm, ào ào trong đó có cả tiếng đá lăn, tiếng cây gãy nghe như cả một ngọn núi đổ xuống tả ngạn át cả tiếng gió, tiếng mưa. Vài tiếng đồng hồ sau mọi chuyện lại trở về yên lặng như chưa có chuyện gì xảy ra. Bà Sái thổi tắt ngọn đèn dầu, lên giường đi ngủ.

2.

Hồi còn nhỏ, bà Sái bị một trận bệnh đầu mùa khá nặng tưởng là chết nhưng may mắn bà sống được. Sau bệnh trên khuôn mặt bà để lại đầy những nốt rỗ. Mãi đến năm ba mươi tuổi bà mới lấy được một người đàn ông chết vợ. Hai vợ chồng sống với nhau được mấy năm bà mới có con. Hồi đó ở bản Tả Ngạn người ta đến làm gỗ nhiều lắm. Gỗ sẻ thành khối, đóng thuyền thả theo dòng về xuôi. Năm ấy, bà  Sái sinh được một đứa bé gái kháu khỉnh, bụ bẫm, hai vợ chồng đặt tên cho đứa bé là Chải. Thấy người ta đi lên rừng làm gỗ kiếm được tiền, thương vợ con còn nhỏ lại nghèo khó ông Sái cũng khăn gói đi vào rừng mong sẽ kiếm được một vài đồng về nuôi vợ con. Nhưng ai ngờ ông đi được vài ngày thì có tin dữ. Người ta bảo ông chặt cây chẳng biết trời xui đất khiến thế nào cây lại đổ xuống chỗ ông đứng. Ông được cáng về trên một cái võng cũ, một bên mặt và nửa người bị biến dạng. Sau đám ma của chồng, bà Sái ở vậy nuôi con một mình.

3.

Chải càng lớn càng xinh đẹp, một cái đẹp hoang dại và lạ lùng. Đôi mắt màu hạt dẻ như biết nói luôn mở to theo cử chỉ của đôi tay khi cô nói chuyện.

Mùa đông ở Tả Ngạn sương mù dày đặc, cây cối rụng hết lá đứng khẳng khiu trước những đợt gió bắc. Tuyết trắng rơi phủ kín khoảng sân nhỏ. Sáng nào, Chải cũng dậy thật sớm để đi lấy nước. Hai cái can đã được xếp cẩn thận trên gùi, Chải đẩy cửa bước đi trong màn sương sớm để lại dấu chân bé xíu in trên tuyết.  Cái váy đen dập dềnh quấn lấy đôi bắp chân trắng ngần, mảnh mai của Chải.

Chải và Nú gặp nhau cũng trong một buổi sáng đầy sương như thế. Khi Chải đang cúi múc nước cho vào can thì thấy bóng một người đứng bên cạnh khiến cô giật mình suýt ngã xuống giếng, cái bóng đó túm được cổ tay cô giữ lại. Chải giằng tay ra khỏi tay Nú, trợn mắt lên nhìn, ý muốn hỏi sao đến mà không nói. Nú chẳng hiểu sao anh chào mấy lần rồi mà người ta vẫn bị giật mình. Hai cái má hồng của Chải đang đỏ bừng lên vì tức giận, cúi xuống nhặt cái gùi đặt lên phiến đá cao bên cạnh, cô khom người cõng gùi lên lưng, một mạch bỏ đi trước sự bối rối của Nú.  Chải nhìn xuống cổ tay vẫn còn cảm nhận được hơi ấm lưu lại, có một cảm giác gì đó lạ lạ dâng lên trong lòng. Cảm giác đó không phải cảm giác sợ mà là một cảm giác xúc động, cảm giác lần đầu tiên có một người con trai nắm vào cổ tay của mình. Trên đường cõng nước về gặp ai cô cũng cúi đầu vì sợ người ta nhìn thấy đôi má đang đỏ ửng lên vì xấu hổ.

Chải đã nhớ về lần gặp đầu tiên với Nú như vậy, còn Nú... Một buổi chiều mùa xuân trời đã sẩm tối, Nú đi rừng về  trên vai vác một bó củi lớn, bên hông vát ngang một con dao. Đi đến khúc cua anh đâm sầm vào một cô gái  khiến cô loạng choạng làm đổ cả gùi dọc mùng đang cõng trên lưng. Nú bỏ bó củi xuống vội vàng đỡ cô gái ngồi. Khi cầm tay cô gái anh thấy tay cô mềm nhũn, nóng ran như cây dọc mùng phơi cả ngày nắng. Anh quay ra nhặt gùi dọc mùng định đưa lên vai cô nhưng gùi dọc mùng nặng đến mức anh phải dùng hết sức mới mang lên được. Nú đặt lại gùi dọc mùng xuống đất rồi hỏi cô gái:

- Nhà ấy ở đâu để tôi cõng về cho.

Cô gái xua tay, lắc đầu. Cô chỉ tay vào Nú lại chỉ xuống gùi dọc mùng rồi đưa ngón tay chỉ vào mình, ý muốn nhờ anh nhấc hộ gùi dọc mùng để lên vai.  Nú hiểu ý, anh cúi xuống kéo một bên dây gùi sóc một cái mạnh đưa lên vai rồi sỏ nốt dây kia vào vai còn lại, anh vội vàng giục cô gái dẫn đường. Cô gái cứ xua tay lắc đầu tỏ ý không chịu nhưng Nú cứ thế phăng phăng đi trước khiến cô phải đuổi theo.

*

Chải không thể nói cũng không thể nghe được nhưng chỉ cần nhìn vào miệng người đối diện là cô có thể đọc được những gì người đó đang nói. Ông trời cũng thật công bằng. Người ta không nói được, ông trời cho điếc luôn để khỏi phải nghe những điều người ta nói mà mình thì không thể mở miệng để đáp lại. Ai cũng khen Chải đẹp, nhưng ai đời lại đi yêu một người vừa câm vừa điếc, gọi nó không nghe, thổi sáo nó không biết, lấy về làm vợ chẳng nhẽ chỉ suốt ngày mình nói  cho mình nghe. Mặc người ta nói gì thì nói, Nú vẫn yêu Chải. Cứ cách hai ba tối là anh lại đến nhà Chải chơi, ngồi nhìn cô nấu chảo cám lợn trên lò. Chốc chốc cô gái lại quay sang cười với Nú. Không nói được nhưng cô hiểu được tình cảm của người con trai dành cho mình. Đêm nào mà Nú ở khuya quá Chải phải giục anh về bằng cách đi ra mở cửa. Có lần, Chải tiễn Nú ra cửa, không kìm nổi anh đã ôm chặt lấy cô mà hôn, bàn tay vụng về của anh luồn sâu vào trong áo ngực cô. Chải đẩy mạnh anh, rồi chạy vào trong nhà đóng cửa lại. Mấy ngày sau anh tới, Chải không nhìn, không cười, anh biết ngay là cô giận.  Mất mấy tối cô mới chịu làm lành.

4.

Nếu chuyện tình yêu của hai người cứ đều đều như vậy thì chẳng có gì để mà nói nhưng cuộc đời làm sao ta lường trước được mọi chuyện. Tính từ khi ông Sái chết do bị cây đè, giờ mới lại nhìn thấy nhiều người đổ xô lên Tả Ngạn làm gỗ. Người già có, người trẻ có, họ mang theo cưa lốc, rồi trâu, ngựa. Tả Ngạn biến thành chợ gỗ với đủ các loại gỗ quý như: sim, nghiến, táu, lim... Nhờ làm gỗ mà gia đình nào ở Tả Ngạn cũng khá lên trông thấy. Nương lúa, nương ngô bị bỏ hoang cho cỏ lau mọc. Nhà Chải chỉ có hai người đàn bà nên không thể vào rừng làm gỗ được. Hai người đàn bà chỉ trông vào cái ngô, cái lúa mà sống. Nương ngô của nhà Chải mới phát nên mọc rất nhiều rau đắng xanh tốt. Ngày nào, Chải cũng lên nương hái rau đắng bán cho những người đi rừng. Chiều hôm đó, Chải đã hái được một gùi rau đắng chuẩn bị về thì thằng Bằng từ đâu lù lù như tảng đá đứng sau lưng. Cảm thấy như có ánh mắt đang nhìn lên gáy, Chải xoay người lại, bắt gặp đôi mắt đỏ ngầu đầy dục vọng của thằng Bằng. Thằng Bằng cười khẩy rồi nhìn sâu xuống ngực Chải.

- Mày đẹp lắm Chải ạ.

Âm thanh phát ra từ sâu trong cổ họng thằng Bằng. Chải cúi đầu, lấy tay che ngực, bước tiếp.

Còn nhớ, có lần đi chợ Chải đã bị thằng Bằng vỗ vào mông, cô giận lắm nhưng không thể mở miệng chửi vào cái mặt lưỡi cày xám xịt mụn nhọt của hắn được. Thằng Bằng được thể vỗ thêm hai cái nữa, Chải tức mình giáng cho hai cái tát khiến thằng Bằng lảo đảo. Cả đám đông ở chợ xúm vào xem, thằng Bằng mất mặt quá không nói được lời nào. Khi đi ra khỏi đám đông hắn không quên để lại cái nhìn hằn học cho Chải.

Chải lùi một bước thì thằng Bằng lại tiến lên một bước.

- Lần này thì mày đừng hòng tát tao. Mày kêu lên đi xem có ai cứu mày nữa không.

Chải toan bỏ chạy thì bàn tay to lớn, thô bạo của thằng Bằng túm được váy khiến cô ngã dúi dụi. Thằng Bằng như con báo nhảy chồm lên người Chải. Cô giơ tay lên tát thì bị thằng Bằng giữ lại. Bằng cả sức mạnh của một  con thú thèm khát mồi thằng Bằng ấn người cô xuống đất. Chải không kêu được chỉ ú ớ trong họng rồi người cũng mềm rũ ra như tàu lá chuối. Chải mở trừng mắt nhìn lên trời xanh như trách móc. Có phải là ông trời không có mắt để cô sinh ra đã thiệt thòi hơn người bình thường giờ lại bắt cô chịu thêm cảnh nhục nhã ê chề này nữa. Mùi rau đắng hăng hắc xông lên sống mũi Chải cay xè, một giọt nước mắt lăn dài xuống tai, rồi kế tiếp là những hàng nước mắt dài nối theo. Gió thổi từ dưới chân núi lên, trời bắt đầu nổi cơn giông, mưa từ đâu trút xuống ào ào. Chải vơ được một hòn đá đập bừa lên đầu thằng Bằng khiến hắn phải buông cô, hai tay ôm lấy vết thương. Máu từ trên đầu thằng Bằng chảy dài hoà với nước mưa rỏ tong tỏng xuống đất. Những giọt mưa như hàng ngàn giọt nước mắt chảy xuống lòng đất, trôi dài mãi, đọng lại thành sông, thành hồ và hình như chúng có cả linh hồn. Linh hồn của sự bất hạnh đến cùng cực.

Cô gái đi về trong màn mưa dày trắng xoá.

5.

Đã ba ngày nay Chải không ăn uống gì người cứ mê man, mềm nhũn. Bà Sái hỏi gì đầu cô cũng không lắc, không gật. Bà sợ con gái cứ thế sẽ phát điên mất. Chải như người ngây dại, mắt mở trừng trừng nhìn lên trần nhà. Bà Sái lấy khăn lau những giọt mồ hôi lấm thấm trên trán cho đứa con gái rồi đi ra ngoài. Không biết ai nói mà Nú biết chuyện, đang làm gỗ trong rừng bỏ về. Nú đến, xông vào giường lật chăn, kéo Chải ngồi dậy:

- Nói. Ai đã làm chuyện đó? - Nú uất quá thở không ra hơi. - Nói. Thằng đó là thằng nào? Nói. Nói đi. - Nú gào lên.

Chải không nói được chỉ biết khóc, Nú cũng khóc theo. Gặng hỏi mãi không được Nú bực mình tát cho Chải hai cái đến hoa cả mắt. Một cơn uất ức nổi lên từ lồng ngực, Chải cố lấy hết sức lực còn lại đẩy Nú ngã xuống đất, cô chỉ tay ra cửa đuổi Nú đi. Nú đứng dậy phủi bụi rồi bỏ ra cửa, đi thật. Từ đó, cô không gặp lại Nú nữa.

Hai tháng sau cô thấy trong người mình khó chịu, buồn nôn, mặt mũi gầy gò và xanh xao đi nhiều. Bà Sái nhìn thoáng qua là biết Chải đã mang thai, bà chỉ lẳng lặng khóc trong góc bếp. Nếu ông Sái còn sống thì đứa con gái của ông bà sẽ chẳng ai dám bắt nạt. Nhưng mà ông trời đã bắt ông đi sớm, để lại hai mẹ con bơ vơ. Nếu Chải có xảy ra chuyện gì chắc bà chẳng thiết sống. Bà còn sống đến bây giờ cũng vì nó.

Chải không biết là mình có con cho đến khi đứa bé ở trong bụng biết đạp. Chải chui vào buồng ngủ, bỏ hết váy áo, đứng tần ngần ngắm cái bụng căng tròn. Chải đã cảm nhận được nó, một mầm sống, lâu lâu bàn chân bé xíu cứ thế đạp vào bụng Chải. Cứ mỗi lần nghĩ đến con mắt đầy dục vọng và cái mùi trên cơ thể của thằng Bằng là cô muốn nôn ói. Nó là con của thằng Bằng. Nghĩ vậy, Chải mặc vội lại váy áo rồi đi ra cửa. Cô phải giết đứa con của thằng Bằng, cô không thể để cho nó sống được. Cô chạy một mạch lên đỉnh núi cao nhất Tả Ngạn, nhìn xuống một thung lũng sâu hun hút. Chỉ cần cô đưa chân xuống thì tất cả mọi thứ sẽ là quá khứ. Nú chẳng cần cô nữa,  chẳng ai tiếc cô cả. Nhưng nếu cô chết mẹ cô sẽ sống như thế nào? Nghĩ vậy, cô ngồi xuống thở dốc. Đứa bé bên trong đạp nhẹ vào bụng cô. Chải cứ ngồi như vậy một lúc lâu rồi loạng choạng đứng dậy. Gió từ dưới vực thổi lên khiến cô lảo đảo suýt ngã nhào, may mà bám vội vào thành đá. Chỉ một chút nữa thôi, cô đã nằm gọn dưới vực sâu kia. Cô sợ. Cô biết là mình không muốn chết, chưa bao giờ cô muốn được sống như lúc này.

Cô từ trên núi xuống, gặp bà Sái đi nương về cõng một gùi rau đắng nặng trịch tay lại xách cái bai trước mặt. Cô đến đỡ lấy gùi rau đắng trên lưng bà rồi đeo lên lưng mình. Hai người đàn bà lầm lũi đi về trên con đường mòn.

*

Mùa đông năm ấy đến sớm hơn. Tháng mười mà sương muối đã phủ trắng cả một khoảng trời. Chải chuyển dạ sinh được một đứa bé trai có đôi mắt trong sáng hàng lông my dày cong vút. Trong đôi mắt ấy không có một chút hận thù, ghen ghét nào. Nhưng Chải không thích đứa bé chỉ vì nó là con của thằng Bằng. Cô quyết không cho nó bú làm bà Sái phải ôm đứa cháu nhỏ đi khắp các nhà có con nhỏ trong bản xin sữa. Có người nghe nói ở Tả Ngạn có cô gái câm sinh được một đứa bé đẹp lắm nên đã tìm đến tận nơi để đòi mua đứa bé làm con nuôi. Chải đi làm về thấy người lạ ngồi bế con mình nói chuyện với bà Sái ở trong bếp. Bằng linh tính của một người mẹ cô hiểu họ đang nói với bà Sái về đứa con mình. Lẳng lặng cô bước đến giằng đứa bé trên tay người lạ, ôm vào trong buồng, vạch vú cho con sữa.

6.

Hôm nay đi chợ về, Chải bị thằng Bằng chặn ở đầu dốc. Thằng Bằng hất tóc lên, lộ một vết sẹo lớn trên trán. Cái vết sẹo đó cứ giựt giựt theo con mắt xếch ngược đến là đểu của thằng Bằng.

- Mày đưa tao đứa con. Tao sẽ đưa tiền cho mày.

Chải nhìn thằng Bằng với một ánh mắt rực lửa. Một ánh mắt đầy sự thách thức.

- Mày không đưa, tao sẽ đến bắt, lúc đó mày vừa mất con lại chẳng được tiền đâu. Nghĩ cho kỹ đi.

Nói rồi thằng Bằng nhảy lên xe máy phóng vèo, bụi tung mù mịt. Chải cúi xuống nhặt một hòn đá ném theo.

Nghe người ta nói thằng Bằng lấy vợ mấy năm rồi mà chẳng có con. Hắn cứ trách vợ hắn không biết đẻ . Nhưng khi đi gặp thầy lang mới biết là do hắn không thể có con được. Thằng Bằng đã bán hết cả đàn bò để chạy chữa khắp nơi mong có được đứa con mà chẳng được.  Hắn tính tuổi đứa con của Chải thì đúng vừa tháng, hắn đinh ninh đấy là con của mình nên mới chặn Chải đòi bắt thằng bé.

Chải chạy một mạch về nhà, thấy đứa con đang chơi trong bếp với con mèo đen, mới yên lòng. Thấy mẹ về, nó chạy ra đón, ôm chầm lấy mẹ thủ thỉ:

- Con mèo đen bắt được con chuột to lắm.

Chải chẳng hiểu nó nói gì nhưng cũng cười với nó. Chải sợ thằng Bằng làm thật nên lúc nào cũng phải canh chừng đứa con không rời nửa bước. Đi đâu cũng dẫn nó đi cùng. Chiều nay đi nương bà Sái bảo để thằng bé ở nhà với bà nhưng Chải cũng không chịu.

Thằng Bằng không phải doạ mà tối hắn phóng xe máy đến đứng trước cổng nhà Chải thật. Hắn muốn cho Chải biết là không phải hắn chỉ doạ.

Đang cho xe phóng nhanh thằng Bằng phải phanh vội vì có người nhảy từ trên đường xuống đứng chắn lối hắn.

- Mày là ai mà dám cản đường tao. - Hắn xuống xe quát lớn.

Người đứng chặn đường tiến lại:

- Thằng Nú đây.

Nghe tên Nú, thằng Bằng sợ phải đi lùi mấy bước.

- Hoá ra là mày. Đến bây giờ tao mới biết. - Nú túm lấy cổ áo thằng Bằng đấm cho hai cái vào mặt khiến nó ngã lăn xuống đất, rách cả môi. - Mày chỉ giỏi bắt nạt đàn bà thôi. Thằng đểu. Lần sau mày còn để tao gặp ở Tả Ngạn, tao sẽ giết mày đấy. Mà nói cho mày biết, thằng bé là con của tao.

 Bằng lổm nhổm bò dậy:

- Mày nói dối.

- Một thằng bò thiến như mày làm sao mà có con được. Đi đi, trước khi tao đổi ý, không mày sẽ làm mồi cho hổ đấy.

Thằng Bằng sợ quá, run lẩy bẩy leo lên xe, đạp mãi xe mới nổ. Còn lại một mình Nú trong đêm. Một giọt nước mắt âm ấm lăn dài trên khuôn mặt anh.

Lời bình:

Cốt truyện không lạ, lối kể không tân kì, lời văn chưa phải đã già tay… nhưng Rau đắng vẫn níu được lòng người đọc. Chi tiết thực, tình tiết thực, nhân vật thực… tất cả đều lối thực, vậy mà dư âm tạo được lại hư hư thực thực. Và trong tứ truyện, hình tượng nào cũng ít nhiều phảng phất một dư vị tượng trưng. Cô gái câm với vẻ đẹp nguyên sơ của núi rừng đang e ấp một mối tình với chàng trai núi tử tế thì bị một thằng đốn mạt (vốn là dân lên phá rừng buôn gỗ) cưỡng hiếp. Từ sau vụ cưỡng hiếp, đứa trẻ đã được sinh ra, rồi được nuôi nấng bởi tấm lòng những người xứ núi. Nhưng, kì tình, nó là con của ai ? Tất cả tưởng đã thực mà không hẳn thực. Lối lí giải lấp lửng hư thực đã mở ra được chiều sâu bất ngờ cho tứ truyện. Một đứa trẻ như thế chỉ có thể là con của núi rừng. Một mầm sống nguyên lành như thế không thể thuộc về những thế lực khốn nạn…

Rau đắng đã cấy được vào lòng người đọc một niềm tin và hy vọng về những mùa xanh.

Nhà NCPB Chu Văn Sơn

 

 

 

THÀNH PHỐ VÀ NHỮNG BUỒN VUI Ở LẠI

Truyện ngắn của Nguyễn Lệ Ba

 

LTS: Khi truyện ngắn Thành phố và những buồn vui ở lại của Nguyễn Lệ Ba được chọn in vào số Tết của báo Văn nghệ, chúng tôi đã liên hệ với tác giả để thông báo. Không ngờ đây hoàn toàn không phải là một câu chuyện chỉ có hư cấu, mà đằng sau nó còn ẩn chứa rất nhiều những nỗi niềm của người trong cuộc. Và đây là lá thư mà tác giả Nguyễn Lệ Ba gửi đến cho chúng tôi kể thêm về điều này (trích)

Đồng Tháp, ngày 16/12/2011

 

... Tôi đến với văn chương chỉ với mục đích duy nhất là tìm niềm vui, tìm hạnh phúc nơi những trang viết của những nhà văn, nhà thơ cả nước. Bây giờ, sống những năm tháng cuối đời, tôi muốn kể lại những câu chuyện của chính mình qua những truyện ngắn, những bài viết…

Nhân vật “tôi” trong Ngồi lại với trăm năm (một truyện ngắn đã được giới thiệu trên báo Văn nghệ - VN) hay Thành phố những buồn vui ở lại… chính là tôi ngoài đời – “thật” đến ngây thơ . ở tuổi 62, tôi vẫn ngồi cả ngày trên chiếc xe lăn, chờ báo về để đọc. Thú thật, chỉ cần tiền nhuận bút đủ để trang trải tiền mua báo, tiền nối mạng… như thế đã quý lắm rồi!

Xin quay lại chuyện cần nói.

Tên nhân vật “chị”, cũng là tên người tôi muốn tìm, là Công tằng Tôn nữ Kim Thoa, sinh năm 1951, người quê Hương Thủy (Huế), khoảng thời gian từ 1960 đến 1967 sống gần rạp chiếu phim Diệp Kính, đường Hoàng Diệu cũ, thị xã Pleiku.

Tôi cũng đã sống ở đó 3 năm và tình cờ gặp được chị ở Sài Gòn năm 1967. Qua thăm hỏi mới biết cả hai đã từng là láng giềng của nhau trên phố núi. Truyện bắt đầu và kết thúc trong sự gặp gỡ tình cờ ấy…

Tôi đang làm một tìm kiếm vô vọng nhưng vẫn chờ đợi một điều kỳ diệu nào đó. 44 năm qua, tôi không biết gì thêm về con người ấy. Những thông tin ít ỏi về “chị” chỉ có thế.

Về phần tôi, sau lần điều trị suốt nửa năm ở sài Gòn, tôi vẫn không thể đứng lên trên đôi chân của chính mình. Già nua, bệnh tật và những thứ không vui khác tiếp tục đổ lên vai, thế nên bây giờ, viết là cách để tôi tạm quên mà bước tiếp.

Cảm ơn Văn nghệ đã cho tôi cơ hội để thấy mình còn đồng hành giữa cuộc đời, dù trên chiếc xe lăn.

Nguyễn Lệ Ba

 

Một lá thư vô cùng chân thành và cảm động. Tất nhiên đây không phải là lý do để Thành phố và những buồn vui ở lại xuất hiện trên Văn nghệ. Song khi nó đã xuất hiện thì không thể không hy vọng, rằng một ngày nào đó, “Chị” của Nguyễn Lệ Ba, hoặc ai đó biết rõ về “Chị” sẽ đọc được câu chuyện này, để sự tìm kiếm của tác giả không còn là vô vọng.

Mọi thông tin có thể gửi trực tiếp về cho tác giả: Nguyễn Quang Ba, Số nhà 113, ấp Tân Hòa, Xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Hoặc thông qua tòa soạn báo Văn nghệ, 17 Trần Quốc Toản, Hà Nội.

Văn nghệ

 

Cuối năm, những bệnh nhân nằm điều trị trong khu giải phẫu chỉnh hình đã lần lượt được cho về đón Tết. Tôi nôn nao mong ngóng người thân từ miền Tây lên. Vài chục bệnh nhân còn ở lại vì nhà xa, vì một lý do nào đó. Những chiếc xe lăn, những cây nạng gỗ vẫn lọc cọc tới lui trên con đường rải sỏi băng ngang dọc trong khoảng sân rộng trồng nhiều hoa. Mùa xuân đã rơi đầy trên phố. Bên trong bức tường ngăn tiếng xe cộ ồn ào qua lại, là những dãy phòng bệnh tường vôi trắng xóa, là khu phẫu thuật đóng cửa im ỉm, là phòng vật lý trị liệu vắng người. Và trên khoảng sân với những hàng sao nháy nở hoa rực rỡ, là những bước chân khập khễnh, là tiếng bánh xe lăn lướt rào rạo trên sỏi: âm thanh của cô đơn, khắc khoải và của ngàn vạn nỗi niềm…

Từ đồng bằng tôi theo mẹ lên thành phố, nắm níu hy vọng mong manh là được bước đi trên chính đôi chân của mình. Hai lần lên bàn mổ và gần ba tháng điều trị, da tôi xanh mướt như quả bầu non. Tôi gầy gò ốm yếu ngồi hàng giờ trên xe lăn trong vườn hoa bệnh viện ngắm nhìn hàng trăm người lính cụt tay, cụt chân từ mặt trận đổ về… Họ học nghề, họ làm chân tay giả và chuẩn bị những thứ cần thiết trước khi bước qua cánh cổng sắt cao ngang mái nhà, bước vào cuộc đời bất trắc, trên những đôi chân khập khễnh hay những chiếc xe lăn mệt mỏi... Tôi lăn xe thơ thẩn trong khu hướng nghiệp, nhìn những người đã bỏ một phần thân thể ở chiến trường; họ chơi vơi, hụt hẫng trong trong sự khởi đầu khó khăn quá sức chịu đựng. Tôi cười với những người không quen. Dẫu gì điều đó cũng làm tôi ấm lòng, bởi tôi và những người ấy đều có cái giống nhau ở trước mặt: nỗi đau thân phận và một tương lai mù mờ, vô định. Khoảng thời gian còn lại trong ngày, tôi ngồi nhiều giờ dưới giàn hoa giấy che ngang một khoảng sân, bên nầy dành cho bệnh nhân nam, bên kia cho nữ. Đó là không gian phía trước một phòng mổ, kính mờ nhiều ô, đêm ngày rì rầm tiếng máy lạnh. Che kín bên trên những băng đá kê xen trong những luống hoa vàng, là tán cây bã đậu cao vợi, xòe rộng cành lá phủ rợp con đường và một khoảng cỏ xanh non…

Lần đầu tôi gặp chị là lúc chị đứng chờ đợi ở khu chỉnh hình. Chị xoay người về phía khác nên tôi không nhận ra cánh tay trái của chị rũ dọc theo thân thể, bất động. Mấy ngày sau, tôi lại gặp chị trong khu dành cho bệnh nhân nữ; vẫn lặng lẽ, buồn buồn và thăm thẳm nỗi đau trong ánh mắt... Đa phần bệnh nhân vào đây đều bị tật ở chân. Chị liệt một tay; cánh tay còn lại vẫn đủ sức đẩy cô bạn cùng phòng trên chiếc xe lăn, thơ thẩn dạo chơi trong khuôn viên bệnh viện hay cầm cây lược nhỏ nghiêng đầu chải tóc dưới giàn hoa giấy. Hình ảnh đó làm tôi xao xuyến. Tôi gặp chị gần như mỗi chiều. Chị đi chầm chậm trên đường Bà Huyện Thanh Quan, mắt ngước nhìn những tàng cây cao vút… Đôi khi ánh mắt tôi, chị chạm nhau, chị cười ấm áp. “Chị tìm gì trên ngọn cây cao đó?” - Tôi hỏi. “Nhớ thông, nhớ phố quá chừng!”. Vẫn giọng Huế nhẹ nhàng, những thanh sắc gần như thanh nặng: dịu dàng, đầm ấm. Tôi tò mò: “Chị ở Huế à?”  “Không, Pleiku. Quê mạ mới ở Huế”. Tôi bất chợt bắt được niềm vui. “Lúc trước tôi từng ở Hội Thương, trên đường 14 rẽ vào thành phố Pleiku”. Mắt chị sáng lên: “A, chị ở đường Hoàng Diệu, gần ciné Diệp Kính!”. Chị vẫn xưng “chị” với ngôi thứ hai bỏ trống lúc nói chuyện cùng tôi, mắt chị long lanh hạnh phúc, bàn tay phải đưa ra chực đặt lên tay tôi rồi rụt rè thu lại. Tóc chị thoang thoảng mùi nhựa thông: “ở gần nhau mà, thích thật!”. Và chị hỏi, chị nói, líu lo như con chim lạc bầy vừa tìm lại được tổ. Tôi nói về quê tôi, một vùng quê ở đồng bằng sông Cửu Long, chị lắc đầu không biết. Phải, làm sao chị biết được quê tôi khi chưa một lần đến, cũng như tôi làm sao biết được Hương Thủy quê chị. Chúng tôi chỉ có hai cái chung, đó là nỗi đau tật nguyền và một thành phố cao nguyên với những buồn vui còn sót lại trong ký ức.

Chiều Sài Gòn rớt hạt nắng cuối cùng vội vã. Tôi chợt tỉnh khi giọng chị lay nhẹ: “Mình về hỉ?”. Đó là lần đầu tiên tim tôi thổn thức. Đó là lúc mặt hồ phẳng lặng trong tôi lao xao gợn sóng. Thằng bé con tuổi mười bảy trong tôi lớn phổng lên khi sau lưng là hương tóc thiếu nữ thoang thoảng mùi nhựa thông phố núi và những bước chân nhẹ như sương khói của chị.

*

Chị vẫn thường ra ngồi một mình trên băng đá dưới giàn hoa giấy khi chiều tắt nắng. Lúc ấy, bọn con trai con gái nói cười vui vẻ trong những phòng bệnh, những hành lang đông người qua lại. Chỉ khi ở đây, những người như tôi và chị mới sống thật với mình, mới hạnh phúc và thoát ra khỏi lớp vỏ mặc cảm. Tôi tự hỏi còn bao nhiêu người như tôi đang giấu mình trong những ngôi nhà, đang tự tách mình ra khỏi dòng chảy cuộc đời, nhất là những cô gái tật nguyền như chị? Họ đợi ngày tháng trôi qua, đợi bệnh tật, cô đơn và đau khổ giằng xé, dày vò đến cùng kiệt và họ sẽ kết thúc một kiếp người lặng lẽ như thể thế gian nầy chưa từng có mặt họ. Bệnh viện bỗng biến thành một góc thiên đàng, nơi những con người bất hạnh tìm thấy một khoảng thời gian hạnh phúc ngắn ngủi, bỏ lại phía sau và quên đi phía trước chuỗi ngày đằng đẵng cô đơn, trống vắng…

Chị chờ tôi? Có thể. Trong mắt chị ánh lên cái nhìn hạnh phúc, bàn tay còn lại lúng túng vân vê trên bìa cuốn tiểu thuyết đọc dở khi tôi bất ngờ lăn xe đến bên chị. Tôi bỏ đám bạn trai và tiếng đàn guitar bập bùng trong phòng bệnh, ra ngoài hành lang tối rồi lần theo con đường rải sỏi đến khoảng sân có giàn hoa giấy. Chị ngồi một mình ở đó với quyển sách, ly nước và hình như chị chẳng nhìn vào những trang chữ. Chị nắm tay tôi, lay lay:

- ừ nầy, lúc ra ngoài nớ, đường Hoàng Diệu vẫn còn nhiều thông, phải không?

- Phải, cả phượng nữa. Phượng đỏ rực trên phố trong gió tây nam đầu mùa.

Chị mơ màng:

- Răng mình lại không biết nhau hỉ?

Tôi để yên bàn tay dưới những ngón tay thon dài xanh mướt:

- Sao mà biết nhau được!

Tôi nói chỉ đủ mình nghe. Bốn năm ở Pleiku, tôi lầm lũi sống, âm thầm quẩn quanh trong căn nhà gỗ nằm lưng chừng đồi ở phía Nam thành phố. Tôi đu bám hai tay trên lan can trước nhà, nhìn những quả đồi xanh biếc cỏ tranh khi mùa mưa về, nhìn núi Hàm Rồng nhô lên mờ mờ đơn độc giữa điệp trùng đồi trọc. Quê tôi xa tít phía trời Nam, về theo quốc lộ 14 với những chuyến xe lẻ loi bò chậm chạp cùng làn bụi đỏ tung mù phía sau. Tôi chưa được đi hết các nơi của thị xã vùng cao. Pleiku với tôi chỉ là vài trục đường chính trườn mình trên nhiều quả đồi với những hàng thông cao vút, là những con đường đất nhỏ xẻ dọc ngang từ trên đỉnh đồi xuống thung lũng, đỏ quạch bụi đường hay nhão nhoẹt bùn đất. Pleiku là tiếng những chiếc xe Jeep tải thương hối hả rú còi thê thiết giữa phố trưa yên tĩnh, là tiếng máy bay phản lực cất cánh từ phi trường Cù Hanh, gầm rú xé nát bầu trời thị xã, là hàng ngàn người lính từ khắp nơi đổ về, trong đó có ba tôi, ba chị cùng bao nhiêu con người  mà chiến tranh và số phận đã mang họ đến với nhau, cùng chia nhau những khổ đau và hạnh phúc trong một thị xã đi chưa mỏi chân đã qua hết phố. Chính trong không gian vừa ngột ngạt vừa ấm áp ấy, có mặt tôi và chị, sống rất gần nhau nhưng không ai biết ai, để rồi tình cờ gặp gỡ ở một nơi  cách đó rất xa mới nhận ra mình đã từng là láng giềng của nhau. 

Chị ngẩn ngơ lẩm bẩm:

- Sao mình lại không biết nhau hỉ?

Tôi cười buồn và lặp lại câu chị nói.

Ngày đó chị ở đâu trong những căn nhà ngăn cách bởi hàng rào dã quỳ của ngoại ô thành phố? Ước gì tôi biết chị để cùng ngồi trốn nắng dưới giàn su su, nghe gió Lào quật xơ xác trên những mái nhà nhuốm đầy bụi đỏ. Ước gì tôi biết chị để cùng ngồi co ro nghe gió mùa đông bắc tràn về, lạnh cắt da thịt; nhìn mưa bụi bay len vào cả bàn học và giăng mù  thung lũng phía dưới xa. Ước gì tôi biết chị để được nhìn thấy chị áo dài trắng học trò, đi về trên đường Hoàng Diệu cũ, băng đô tím cài trên tóc và tà áo bay lồng lộng trong nắng gió cao nguyên… Tôi nói với chị về những cái “ước gì” và bất chợt, chị rụt những ngón tay vô tình đang đặt ấm áp và bình yên trên bàn tay tôi… Chị đỏ mặt nhìn những chiếc lá bã đậu rơi bối rối trên cỏ …

Tôi và chị thường trốn bệnh viện vào những buổi trưa, cả hai đi dọc theo những con đường rợp bóng cây. Những tà áo trắng nữ sinh Sài Gòn loáng thoáng bay trên phố làm tôi thấy nhớ trường. Tôi bỏ dở năm học khi mới tựu trường vài tháng. Học hành khi được khi mất nên mười bảy tuổi tôi mới vào Đệ Tứ, chị học hơn tôi hai lớp. Có phải vì thế mà chị xưng “chị” với tôi tự nhiên quá đỗi? Bằng tuổi nhau, tôi to xác, ngu ngơ; còn chị lại đằm thắm, dịu dàng. Tôi chưa bước qua khỏi ranh giới của trẻ con và người lớn, còn chị lúc nào cũng là bóng râm phủ rợp trên đầu tôi. Chúng tôi đi suốt con đường xanh rợn bóng cây; đi mải, đi miết đến một ngã tư mà không hay biết. Chị giật mình chữa thẹn bằng câu nói chẳng ăn nhập vào đâu: “Nhớ trường, nhớ bạn quá chừng!”

Ghé vào quán bên đường, chị mời tôi ly nước. Chị mời tôi cùng nhớ Pleiku mùa nầy lộng lẫy trong sắc dã quỳ vàng. Tôi lơ đãng cắn chiếc muỗng nhôm trong miệng, nhìn cái miệng xinh xinh của chị và tự hỏi, nước chanh đường hay môi chị ngọt?

Trên đường về bệnh viện, chị đi sát phía sau xe lăn, tựa một phần ngực ấm áp lên yên dựa để đẩy xe về phía trước. Tôi cứ để những vòng quay bánh xe reo vui lào xào trên đường nhựa.  Nắng đổ vàng lấp lánh và trời Sài Gòn đã bao giờ xanh hơn thế!

*

Buổi sáng trời trở lạnh. Thêm một đợt gió tràn về từ phương Bắc, lùa xao xác những chiếc lá bã đậu trên cao. Bên dưới tán cây ấy, chị ngồi một mình với quyển sách đặt hờ trên tay. Tôi ngồi nhìn chị từ thật xa, cứ sợ làm vỡ chị như làm vỡ chiếc bình pha lê mỏng manh. Hôm qua, tôi đã lỡ lời:

- Chị cho tôi xin chiếc băng đô đang cài, nghe chị?

- Để chi? – Chị nghiêng đầu thắc mắc.

- Thì thích nên xin, vậy thôi.

Không hiểu sao chị bỗng hốt hoảng. Lát sau, chị bảo:

- Không được. Không được mô!

- Sao vậy?

Chị lúng túng quay đi giấu câu trả lời. Mãi sau này tôi mới hiểu phong tục quê chị chỉ cho con gái phép trao khăn áo, đồ dùng riêng cho người mình muốn trao thân.

Chị lặng lẽ rời khỏi chỗ ngồi khi thấy tôi quanh quẩn đâu đó. Tôi lăn xe một mình trên con đường vắng ngoài bệnh viện. Đêm đẫm sương. Mai tôi về Sa Đéc, chị có biết không? Thôi cũng đành. Chắc tôi và chị đến với nhau chỉ là chừng ấy – chỉ là những hoài niệm về một thành phố qua ký ức lãng đãng trong nhau. Ước gì chị biết ngày mai tôi về quê, để tôi ngồi với chị trọn đêm nay dưới giàn hoa giấy tím rồi nhớ về một thành phố không phải là quê tôi, cũng không là quê chị. Đó chỉ là nơi đã gắn một phần đời tôi và có thể là cả đời chị bằng những kỷ niệm lộng lẫy thời niên thiếu và những gặp gỡ tình cờ tưởng như chỉ có trong cổ tích.

Tôi đi qua một ngã tư, thêm vài ngã tư nữa. Đến lúc trước mắt tôi là phố xá rực rỡ đèn màu, ồn ào tiếng xe cộ, tôi mới giật mình quay lại. Và, chị đã đứng sẵn sau lưng tôi tự lúc nào! Chúng tôi đi suốt một đoạn đường dài mà không nói với nhau  lời nào. Đêm Sài Gòn se lạnh. Thỉnh thoảng một chiếc xe ngược chiều chiếu đèn sáng lóa lướt qua mặt tôi rồi mất hút đằng xa, bỏ lại trên đường những khoảng lặng tả tơi. Chị vẫn đẩy sau xe bằng cánh tay còn lại. Tôi mơ hồ cảm nhận được hơi ấm của chị vuốt nhẹ sau lưng. Đến một khoảng sáng đèn, chị quay mặt đi giấu cái gì đó khi tôi bất chợt nhìn lên. “Mai tôi về Sa Đéc, chị biết không?”. Chị bặm môi, gật đầu. “Chị không có gì nói với tôi sao?”. Chị lắc đầu, răng cắn chặt lấy môi để cố giữ những giọt nước long lanh không trào ra khỏi hai mắt đỏ hoe….Gần đến cổng bệnh viện, chị vẫn áp sát người vào sau lưng tôi và không bước nữa. Tôi ngước lên. Một cơn gió lạnh bất chợt ào qua, cuốn lăn lóc những chiếc lá vàng dưới đường. Gió lùa tóc chị từ sau lưng bay ngược ra phía trước, lòa xòa và vướng víu trên mặt tôi… Tôi bám hai tay vào vành lăn bánh xe, cố bám thật chặt để hai cánh tay ấy không đưa lên… quàng ngang cổ chị mà kéo xuống!

*

Đêm ngả về sáng. Chị ngồi thu mình tránh rét nhưng vẫn để mặc sương rơi xuống tóc. Tôi và chị vẫn im lặng ngồi đối diện dưới ánh đèn xuyên qua giàn hoa giấy. Những ngón tay gầy và xanh vẫn nằm chết sững trên gói quà chị định gởi cho tôi. Tôi muốn nắm bàn tay ấy - bàn tay  côi cút tội nghiệp - để truyền thêm chút hơi ấm, nhưng tôi không thể. Cuối cùng, tôi lên tiếng để tôi và chị khỏi chết chìm:

- Chị nhớ chú Tuấn gù bán bánh mì không?

Suýt nữa chị đứng bật dậy ôm chầm lấy tôi:

- Răng mà không nhớ! Người chi mà khổ!

Bỗng chốc trước mặt tôi, chị hóa thân thành một người khác. Mắt chị long lanh, nụ cười thắm lại trên bờ môi nhợt nhạt cùng hơi thở ấm áp và giọng nói như reo. Chị huyên thuyên kể về chú Tuấn, người đàn ông tật nguyền với bao bánh mì trên vai đi lên đi xuống trong những ngõ ngách ngoại ô, mặc nắng hè cháy da hay gió đông cắt thịt. Chị lan man kể về những người đàn ông Ba Na da đen mốc, ở trần đóng khố, đi theo sau là những người đàn bà và trẻ con… Họ đi len lỏi trong những vạt cỏ tranh, những nương ngô bên kia đồi. Họ đi thành hàng, lúc ẩn, lúc hiện; mất hút dưới khe suối rồi bất ngờ hiện ra trên con đường băng qua trước nhà chị. Niềm vui trong chị vỡ òa. Họ mang theo củi và măng, cả chuối lẫn mít về thị xã để đổi áo, đổi muối… Họ đi từng nhóm, mỏi chân thì ngồi bệt trên vệ cỏ, nhồi thuốc lá vào tẩu, châm lửa hút say sưa và thả khói mịt mù… “Thích không?” - chị hỏi. Tôi trả lời hào hứng: “Thích chứ! Những người ấy đi qua nhà chị rồi sẽ đi qua nhà tôi. Chắc vậy. Khu ấy chỉ có một con đường, nhà chị cách nhà tôi hơn trăm mét chứ mấy!” “ừ hỉ?”. Chị lại rơi xuống vực, lại thẫn thờ lẩm bẩm: “Sao ngày đó mình lại không quen biết nhau?”. Tôi muốn hỏi, nếu quen biết nhau thì đã sao? Có thể chị im lặng tiếc nuối, nhưng tôi tin chắc trong tôi và trong chị đang rộn ràng một thứ tình cảm ngọt ngào, một thứ gì đó không phải là hạnh phúc nhưng êm ái như một buổi sớm mai mở cửa nhìn xuống đồi, hoa dã quỳ bỗng nở vàng cả thung lũng…

- Chú Tuấn hỉ? Chú mất mấy ngày sau người ta mới biết. Sống một mình khổ lắm!

- Sau đó chị ăn bánh mì của ai?

- Không ăn nữa!

Và chị cười, nụ cười ngây thơ, trong suốt như trẻ nhỏ. Bất chợt bàn tay chị nhẹ nhàng đặt lên tay tôi:

- Chị hỏi nì, có thích thả diều không?

- Thích lắm, nhưng…

- …

Tôi và chị lặng im. Nỗi đau lại cồn lên âm ỉ. Có những buổi chiều trên cao nguyên, tôi ngồi hằng giờ trước hiên nhà nhìn xuống đồi, mắt dõi theo những cánh diều chao liệng trong nắng với bao nhiêu khát khao và mơ ước. Tôi muốn được như lũ trẻ cùng tuổi, lội qua con suối nhỏ dưới thung lũng, đến bên kia đồi chơi trốn tìm hay len lỏi trong những bụi cây thấp ngang đầu hái về những quả nhỏ ngọt chua tím đen mọng nước. Tôi đã ngồi hằng giờ đợi những cơn gió qua, chờ thả con diều tự mình làm và cuối cùng là buồn bã xé vụn nó trong tay… Tôi nhìn một cách thèm thuồng lũ trẻ con cởi truồng tắm mưa và nghịch bùn trên con đường trước nhà. Chúng chạy đuổi, la hét, lăn lộn trong những vũng nước khi trên đầu là những hạt mưa to nặng tuôn xối xả xoáy rát da thịt. Chúng nó hưởng được tất cả niềm vui tuổi thơ vì chúng có được đôi chân lành lặn… Tôi xấu hổ nói với chị, ngày đó… tôi đã khóc! Chị lại cắn môi, gật đầu thông cảm...

Lần đầu kể từ ngày quen biết chị, tôi nhận thấy ở chị sự yếu đuối và dịu dàng đến nao lòng. Bàn tay chị nắm lấy tay tôi, run run, chới với... Chị chìm nghỉm, ngụp lặn rồi tự ngoi lên trong chính những hồi ức của chị. Chị bỗng xa xăm như một người đến từ thế giới khác rồi bất chợt lao về thực tại với giọng nói reo vui và hơi thở ấm áp lạ lùng khi nhắc về thành phố cao nguyên nơi chị ở.

- Đằng nớ có nghe tiếng chuông chùa bên đồi không hỉ?

- Có, nghe gần lắm. Chị thường qua bên đó à?

Chị gật đầu. Từ nhà, chị men theo con đường nhỏ quanh co, qua những căn nhà tranh vách đất cất rải rác lưng chừng đồi rồi ngược lên một quãng để đến ngôi chùa cách đó khá xa. Chị vào trong khoảng sân gạch đầy rêu ẩm, ngồi khuất dưới bóng hoàng lan và… khóc một mình! Tôi cũng đã nghe tiếng chuông chùa vang âm u từ nơi ấy, âm thanh lan xuống thung lũng, khỏa đầy con suối nhỏ rồi ngân nga vọng lên bên phía đồi đối diện, nơi có nhà tôi và nhà chị. Tôi không bao giờ quên được cảm giác yên bình và ấm áp khi nghe tiếng chuông chùa ấy mỗi chiều hay mỗi sáng khi mặt trời chưa nhô lên phía đông, nhất là những đêm trăng phố núi.

- Chị có muốn về sống ở chùa không?

- Có, định học xong trung học sẽ xin mạ vào chùa. ở đó vui!.

 Tôi biết chị nói dối. Làm sao vui khi chị đến chùa chỉ để ngồi một mình và khóc? Những ngón tay gầy xanh của chị vẫn vô tư đùa nghịch trên bàn tay tôi. Bỗng chốc những ngón tay ấy sững lại khi vô tình tôi buột miệng:

- Chị không định lấy chồng sao?

Chị nhìn tôi hờn trách. Bão giông và mưa lũ dậy lên trong mắt chị. Tôi bối rối cúi đầu nhìn bóng chị đổ dài dưới đất với đôi vai gầy guộc run run. Những ngón tay chị bấu càng lúc càng đau vào tay tôi. Và khi tôi có đủ can đảm nhìn lên, vài giọt nước mắt nóng ấm của chị đã rơi xuống tay tôi. Chị lắc đầu và đứng bật dậy, bước nhanh qua mặt tôi như chạy trốn. Tôi ngơ ngác nhìn theo, không hiểu điều gì đã xảy ra trong chị...

*

Buổi sáng khi lên taxi ra bến xe miền Tây, trong đám trai gái vẫy tay tiễn đưa, tôi không thấy chị. Lúc xe đến ngã tư đầu tiên, tôi nhác thấy dáng ai mảnh mai như dáng chị trong màu áo trắng, tóc dài xõa ra hai bên ngực, đứng nép mình sau một gốc me già…

Qua phà Mỹ Thuận, tôi mới mở gói quà của chị. Đó là một ít mè xửng, đặc sản quê mẹ chị, là chiếc băng đô màu tím ép trong quyển nhật ký chỉ có mấy chữ ghi ở trang đầu:

Sài Gòn 1967.

“Đừng quên chị !”.

Tôi đã không viết gì thêm vào những trang sau đó, bởi những gì đã có giữa tôi với chị chỉ là những trang giấy trắng.

Pleiku mùa nầy sụt sùi mưa. Nếu chị còn sống, còn ở trong căn nhà nhỏ bên đồi và tình cờ đọc được những dòng nầy, chị sẽ biết bao năm qua rồi, tôi đã quên hay tôi vẫn nhớ…

 

THEO CHỒNG

Truyện ngắn của Ma Văn Kháng

Tay ôm khăn gói sang sông

Mẹ gọi mặc mẹ theo chồng cứ theo.

 

Vừa nghe tiếng xe máy đỗ xịch ở sân, Hằng ngoảnh ra, chưa kịp chào, đã thấy tiếng chị Loan nện giầy cao gót cồm cộp và đánh tiếng:

- Cái Hằng phải không? Cái Hằng sang đấy, hả?

Anh Phan, anh rể Hằng vóc người cao ráo, mặt trái soan ló đầu ra từ gian trong, săn đón:

- Loan đã về đấy à? Anh đi khám bệnh, tạt qua phòng nhi, thấy hai mẹ con nó ôm nhau nhếch nhác chờ đợi mà con bé thì nóng như rang nên đèo xe nó về đây đấy!

Chị Loan cởi áo chống nắng, vắt lên giá đỡ,  bước vào gian trong. Gian trong, trên cái giường con kê ở cạnh buồng ăn, con bé Tý Ty bảy tháng tuổi đang nằm, tay giang rộng, tóc bết thái dương, mắt như hai hột nhãn lờ đờ đưa đẩy.

- Em chào chị ạ.

Hằng lí nhí. Chị Loan nhấc cái quạt nan, thốc mấy cái vào khuôn mặt trái tròn vạnh  đỏ hồng vì đi nắng, rồi khoát rộng cánh tay phe phẩy cho con bé Tý Ty, mặt bỗng sa sầm:

- Tao biết ngay mà! Người ta con chúa chúa yêu, con triều triều dấu. Còn mày sao cái số lại khốn khổ thế, hả Hằng?

Mắt ậng nước, nghe chị gái cao rao oán thoán, Hằng sụt sịt chưa biết nói gì thì anh Phan đã quay vào, mặt nhăn nhó, khổ ải:

- Trách gì nó! Có trách thì trách bố mẹ nhà chồng nó ấy chứ.

- Thế còn thằng Dưng chồng nó? Là bụt mọc hay sao mà không biết mở mồm ra bênh che cho vợ con?

Đưa mắt nhìn Hằng, anh Phan hất hàm, ảo não:

- Thôi, Hằng! Chị mày đấy, mày nói cho chị mày nghe. Chứ tao thấy cảnh mày và con mày thật não lòng quá đấy!

Hằng nói được gì bây giờ?

Nói được gì nữa. Vì chị Loan đâu có phải bây giờ mới biết. Bây giờ mới biết, mới nhận ra sự thể, có lẽ là chỉ có mình Hằng thôi. Thật là thế. Thật là Hằng không thể ngờ bên nhà chồng lại đối xử như thế với Hằng! Hằng không thể ngờ. Cưới hôm trước, hôm sau bữa cơm đầu tiên ăn ở nhà chồng chưa xong, thì ông Chì bố chồng Hằng đã đặt chén rượu đang uống dở xuống, hà hà một hồi, rồi hể hả nói rằng, từ nay thế là tao nhẹ gánh; thằng Dưng lấy vợ rồi thì vợ chồng liệu mà thu vén, quấn túm và trang trải cho nhau.

Hằng còn đang mu mơ chưa hiểu ý tứ cụ thể gì ẩn ở sau những câu nói nọ thì mẹ chồng Hằng đã chèm chẹp miệng phân tỏ ngọn ngành. Ôi chao, thì ra theo bà Chì mẹ chồng Hằng thì bố Dưng bảo rằng, từ nay là con dâu thì giang sơn nhà chồng gồng nặng gánh nhẹ Hằng phải mang. Hằng phải buông dầm cầm chèo. Cụ thể là từ hôm nay, Hằng phải đóng tiền ăn hàng tháng cho chồng nàng. Rằng ngoài ra, nàng phải đóng góp cho các chi tiêu khác trong gia đình. Chẳng hạn, tiền điện, tiền nước hàng tháng từ nay sẽ xẻ đôi, vợ chồng Hằng đóng một nửa, bố mẹ chồng đóng một nửa, vân vân và vân vân…

Hằng còn đang choáng váng thì ông Chì đưa tay gãi gãi chỏm đầu đã rụng gần hết tóc, trắng hếu ề à:

- Tao năm nay bốn chín chưa qua năm ba đã tới. Đi làm nhà thầu xây dựng, việc thổ mộc không hộc máu cũng hộc cơm. Nói dại, đang leo dàn giáo, bỗng hoa mắt, trượt chân, rơi ịch xuống đất! Hoặc đang đi bỗng choang một viên gạch từ tầng năm rơi một phát trúng thóp. Thì ôi thôi! Vậy nên, vô tác gác mỏ, làm lấy mà ăn!

Và miếng cơm, Hằng nghẹn ắng. Nghẹn ắng, vì cứ nghĩ, lấy chồng thì ai cũng thế thôi, trước hết là phải dựa cậy vào nhà chồng, rồi sau cứng cát dần mới có thể tự lập được. Chứ mới mười tám tuổi đầu, cha mẹ mất sớm, ở với gia đình chị gái, mới lập nghiệp bằng chân bán hàng ở shop Thời Trang Mỹ Duyên, tháng lĩnh chín trăm ngàn tiền công, tiêu pha sắm sửa cho cá nhân còn phải xin thêm anh chị, thì lấy đâu mà cung đốn cho chồng và chi tiêu các khoản khác trong gia đình chồng!

Hằng bị bất ngờ quá! Vì chị Loan, chị gái Hằng con người tươi đẹp lồng lộng, khôn ngoan, sắc sảo và vô cùng quyết đoán, đã thăm ván rồi mới bán thuyền, đã dò la thăm hỏi chán chê, yên tâm hoàn toàn về gia đình tương lai của chồng Hằng mới bằng lòng cho Hằng đi làm dâu nhà người ta. Chứ đâu có phải là nông nổi trong việc gả chồng cho Hằng!

Đấy, ông Chì bố chồng Hằng! Ngày dạm ngõ, ông ngồi bảnh choẹ trên cái xe máy SH mới coóng, đen bóng, giá ngang chiếc ô tô con. Mặc bộ com lê lễ hội, áo trắng, nơ đen, giầy đen bít tất trắng, thắt lưng gài điện thoại di động, ông hơi ba hoa một tí, nhưng xem ra có vẻ thật thà và nhất là khẩu khí nghe ra cũng là của con người biết làm ăn, biết trọng nghĩa khinh tài, ra dáng ra dàng một doanh nhân đang ở thời kỳ phát đạt chứ thường. Trong khi đó, bà Chì áo vét xám khoác ngoài áo dài lụa mỡ gà, đi hài thêu, ăn nói hỏn hẻn, một lời một thưa gửi, ý tứ phân miêng phép tắc. Chứ đâu phải hạng đàn bà giá áo túi cơm, ngồi xổm ăn bốc. Chỉ hơi buồn là Dưng. Dưng, tóc chải gôm, áo sặc sỡ hình hoạ, đặc ca sĩ đang ăn khách, nhưng bẽn la bẽn lẽn. Dạ, anh chị không chê em ít học là em mừng lắm rồi. ấy thế, không ngờ nghe Dưng nói vậy, chị Loan và anh rể Phan đều tỏ vẻ hài lòng. Tất nhiên, chị Loan là kế toán trưởng, anh Phan là tiến sĩ xã hội học, giá như Dưng có học vấn cao hơn, gia đình Dưng là gia đình tri thức thì vẫn yên tâm hơn. Nhưng, chuyện dựng vợ gả chồng không phải là việc vẽ người lên giấy rồi chọn lựa. Huống hồ, Hằng cũng là đứa không có chí học hành, ì ạch mãi mới học hết trung học cơ sở. Thành ra lúc này đây, đến tuổi lập gia đình mà Hằng được gửi thân vào một gia đình lao động lương thiện thật thà là may rồi. Chị Loan và anh Phan đều nghĩ vậy và lấy làm mừng. Mừng nữa là tính ra, gia đình Dưng không giàu có, nhưng cũng thuộc loại trung lưu. Một mảnh đất tám chục mét vuông, trên đó đã có một căn nhà hai tầng lợp ngói. Một cái giếng thơi. Một vuông sân rộng rinh, gà chó đi lại nhộn nhịp. Không thật đàng hoàng, nhưng cũng đâu có phải hạng lúi xùi, ăn xó mó niêu. Dạ, gì chứ chúng tôi dứt khoát là không để em Hằng của ông bà khổ sở ạ. Trong bối cảnh ấy, lời ông bà Chì nói lúc đón dâu là có vàng đảm bảo còn gì! Còn bè bạn một tốp mười cô đồng loạt áo dài đỏ chót đi phù dâu cho Hằng, nhìn tận mắt gia cơ nọ thì ghé tai Hằng, rúc rích: “Hằng ơi, hay ăn hay tiêu đoạ nơi có tiền là mày đấy”, nghe như  là có ý ghen tị với Hằng đấy còn gì!

Thế mà bây giờ thì thế!

Thế mà bây giờ thì tính toán chi ly, thắt buộc Hằng. Thế mà bây giờ hoá ra là người ki kiết, đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành, nanh nọc và nhẫn tâm quá đáng. Nấu cơm thừa mấy miếng cháy là bà Chì đã dài mồm ra trì chiết. Thấy Hằng hứng chậu nước máy đầy để giặt cái áo trắng cho Dưng, bà cũng la: “Phung phí thế đến khi hai tay úp bẹn thì đến cỗ hậu sự cũng chẳng có đâu, cô ạ”.

Ôi chao! Thì ra bây giờ mới hiểu. Rằng họ chỉ được cái mẽ bề ngoài đánh lừa thiên hạ thôi. Chiếc xe máy SH là đi mượn. Ông Chì vốn chỉ là anh thợ xây quèn, trổ mã thành nhà thầu khoán nửa mùa, nhưng làm ăn gian dối, nên mất dần khách hàng, gần nửa năm nay hết việc nằm khàn ở nhà. Bà Chì có một cửa hàng khô nho nhỏ ở chợ phường, lãi lờ chẳng vừa đút miệng. Còn Dưng thì đúng như lời tự thú, học hết lớp bốn, trước toàn đi phụ việc cho bố, giờ thi thoảng có tốp thợ nào gọi phu hồ hay công trường nào cần chân bảo vệ thì đi làm ít bữa, nên về căn bản vẫn là ăn nhờ bố mẹ, vào bữa cơm là cắm mặt xuống ăn mà vẫn không thoát được lời xỉ vả là quân ăn bám; có bữa đang ăn cũng bỏ bát cơm đấy, chịu nhịn đói vì tủi hổ.

Tính cách là do hoàn cảnh tạo nên. Anh Phan nói vậy. Nhưng chị Loan thêm: Thì cũng không có lý gì, đám cưới vừa xong hai vợ chồng ông bà ấy đã ôm cái hòm đựng tiền mừng về, rồi đổ ra đếm đếm, được bao nhiêu giữ dịt lấy, con trai hỏi thì sẵng, rằng của tao chứ, của mày à. ấy là chưa kể, Hằng sinh được một đứa con là mất một hòn máu, tả phù hữu bật bù chi bù chít còn chẳng ăn ai, thế mà chẳng hề ngó ngàng, lo cho từ miếng cơm đến viên thuốc bổ, nghỉ chưa hết tuần đã giục đi làm, bữa trưa cho độc một gói mì ăn liền milikét, để đến nỗi Hằng rộc rạc như cái que, để đến nỗi phải về nhà anh chị xin từng cân gạo, từng chục nghìn để xay bột cho con. Khổ thế đấy! Năm giờ sáng bước chân xuống giường là bê đống quần áo của bố mẹ chồng của chồng ra giếng. Chiều về, sau một ngày chài chãi  đứng bán hàng , con chưa kịp cho bú đã phải lăn lưng vào bếp nấu nướng, ra sân  quét quáy dọn dẹp. Bữa nào về chậm là hết cơm. Tháng nào đóng không đủ tiền là ghi sổ nợ. Tuần trước giỗ ông nội  thì bảo, lẽ ra là dâu trưởng mày phải cáng đáng tất, nhưng thôi năm nay vì mới về nhà chồng nên chỉ yêu cầu góp giỗ hai triệu đồng thôi. Hai triệu đồng, những hơn hai tháng lương đi làm, Hằng lấy đâu ra! ở đâu ra loại ông bà ki bo bom bỏm thế! Cháu nội mình đói mà bỏ ra nghìn bạc mua cho nó bát cháo hoa cũng tiếc. Và bây giờ để con bé Tý Ty xanh xao, còi cọc, ốm yếu thế là tội ở ai? Chưa kể, cùng với tính   ki kiết bòn mót, còn là thói gia trưởng ghê người. Động có ý định thanh minh hay cãi lại là lên giọng áp chế, không cho  con dâu con trai có quyền nói năng giải tỏ chút nào!

- Thật không ai như mày, Hằng ạ! Thế mày thấy nó sốt, nó thở khò khè từ hôm nào?

-  Dạ, bốn hôm rồi. Mấy hôm trước mưa gió, không cho nó đi cùng đến cửa hàng được, em để nó ở nhà với bà nội. Trưa tạt về, thấy con bé nằm tơ hơ tai hoải, tã không quấn, chăn không đắp, người như nung như nấu, hỏi thì bà nội nó bảo, trẻ con nó hu hi, váng mình sốt mẩy là chuyện thường, làm gì mà như công chúa phải gai thế!

- Thế bố nó đâu?

- Bố cháu đi làm bảo vệ công trường ở tận Bắc Giang cơ ạ

- Thôi, thế thì ôm con lên! Tao đèo đi bác sĩ tư cho nhanh!

Chị Loan vứt tạch cái quạt xuống giường, vơ mái tóc xoã ra sau, gay gắt. Hằng hiểu, chị là người xót xa nhất cho tình cảnh của Hằng lúc này. Hơn nữa, chị còn đang rất cay uất, chị mang cảm giác một người bị mắc lừa.

*

Con bé Tý Ty sốt xình xịch ba ngày nữa. Nó bị viêm phổi nặng và xưng Amiđan. May, nhờ thuốc tiêm và thuốc uống đặc hiệu, bốn hôm sau cơn sốt lui, mặt mũi nó tươi tỉnh dần.

Bế nó trên tay, thấy nó gầy tọp, lọt thỏm, nhẹ bẫng mà không cầm nổi nước mắt. Khổ, mới chỉ là một sinh linh yếu ớt, còn đang u ơ chưa biết gì mà đã là nạn nhân của bao tật bệnh, của thói tắc trách, vô tâm vô tình của người đời. Nhìn con bé mà xót quá, mà thương quá! Thương mẹ nghèo, vất vả hay sao mà ngày mẹ đi làm, đặt nằm trên cái ghế cạnh nơi mẹ bán hàng, chẳng bao giờ dám quấy khóc, chỉ lặng lẽ chơi một mình với mấy quả bóng nhựa xanh đỏ treo bung biêng ở trước mặt. Còn bây giờ, suốt mấy ngày ốm đau, mệt nhọc lắm mới ọ ẹ vài tiếng, và đã biết thế nào là đau khổ và hạnh phúc mà cứ hơi tinh tỉnh lại ho hó cái miệng hóng chuyện và thi thoảng lại rủm rỉm một nụ cười hoa! Ôi, nụ cười hoa, nụ cười duyên, cái nét riêng cao sang, cái nét quyến rũ của bên ngoại, của mẹ Hằng, của bác Loan. Mẹ Hằng, bác Loan , một vùng hoa nở lồng lộng, tốt tươi. Nhìn con bé cười mà thấy tội nghiệp quá! Có ai hiểu cho hoàn cảnh sống của mẹ nó hiện thời?

-  ờ ờ… bây giờ Tý Ty tu ti mẹ Hằng, rồi con uống nốt một viên thuốc nữa nhé. Thuốc ngọt chứ không đắng đâu, con à. ừ, rồi con uống thuốc, rồi con ngủ khì. Ngủ khì dậy con ăn một bát bột nữa là con khỏi hẳn, là bác bế con đi chơi nhé!

Trao con bé cho Hằng, chị Loan xoa mặt, kẹp lại tóc, rồi ngồi xuống mép giường cạnh Hằng, giọng đã có phần thảnh thơi:

- Hằng này, bây giờ mày nghe chị hỏi đây. Cái xe máy Suzuki anh chị cho đâu rồi mà sao hồi này đi làm toàn thấy mày đi xe ôm?

-   Dạ…

-   Mày cứ nói thật để anh chị biết.

-  Dạ, cái xe máy… ngay hôm đầu về, ông Chì bố anh Dưng nói là cho ông ấy mượn đi Nam Định, rồi ông ấy cứ giữ lấy đi ạ. Cả cái điện thoại di động nữa cũng thế.

-  Khốn nạn thân mày chưa! Thế còn cái sổ tiết kiệm năm chục triệu tao cho để phòng thân khi cơ nhỡ, có nghe tao dặn là phải thật bí mật, không cho ai biết, kể cả thằng chồng mày nó có dỗ ngon dỗ ngọt, nó có cậy răng mày, mày cũng phải im, có còn không hay là…

-  Dạ…

-  Sao? Mẹ nó hỏi vay mày chứ gì! Trời ơi là trời! Đúng là quân bòn nơi khố rách, quân chuyên nghề bóp nặn dân lành. Mà mày ăn gì vào mồm mà ngu thế hả, Hằng!

Hằng đổi bên vú cho con bé Tý Ty. Chị Loan đứng dậy, chống tay lên sườn, răng nghiến kèn kẹt, rền rĩ và lồng lộn. Chị đau uất lắm. Chị bảo chị đã nhầm. Chị bảo cả đời chị, đây là lần duy nhất chị đánh giá sai con người, chị bị nó cho ăn quả lừa quá to. Bây giờ chị mới nhớ ra thì đã muộn, chứ chị đã ngờ ngợ từ lần tiếp xúc đầu tiên rồi, tử tế gì cái loại người ấy! Con vợ thì ỏn ẻn, điệu đàng học làm sang, nhưng da mặt sát xương, gò má cao như hai quả núi, rõ quân ăn người, quân phản phúc. Còn thằng chồng thì dái tai nhòm quai hàm, đích thị loại bất nhân, giấu gươm ở đầu lưỡi!

Thông thốc rủa xả bố mẹ chồng Hằng một thôi một hồi, chị mới ngồi xuống bên giường, ứa nước mắt nhìn Hằng, nức nưởi:

- Hằng ơi, bây giờ mày đã thấy là ngu dại chưa, em! Thằng Trọng, bố mẹ cán bộ, con nhà tử tế, đỗ kỹ sư, có công ăn việc làm, nó yêu mày thì mày ruỗi ra, để đâm đầu đi lấy thằng phu hồ, thằng bảo vệ, con lão thầu khoán nửa mùa, thất đức.

Cái Tý Ty đã ngủ. Đặt nó xuống giường, Hằng chưa biết nói lại với chị Loan thế nào thì chị đã lại tiếp, giọng càng chua chát:

- Thôi, bây giờ tao không nói xa xôi nữa đâu. Hằng, mày hãy ra soi gương xem, mày sắp thành bà lão chưa? Nào, ra soi gương đi! Xem mặt mũi mày thế thì tao có tội với ba mẹ ở dưới suối vàng không? Nào!

Hằng chớp chớp mắt, nghèn nghẹn. Sự đời lắm khúc nhôi sâu kín, nào ai đã hiểu hết và biết nói với chị gái thế nào bây giờ. Phủ tấm màn xô lên người cái Tý Ty, Hằng nghẹn ngào:

- Thôi, em ngu thì em chịu vậy, chị ạ.

- Chịu chịu là chịu thế nào?

- Nhưng mà…

- Không có nhưng mà gì hết. Hôm qua tao với anh Phan bàn bạc với nhau xong xuôi rồi. Anh ấy đồng ý từ nay hai mẹ con mày ở hẳn đây với anh chị. Vạch vôi vào mặt bố con nhà nó! Quên cái chốn hang hùm nọc rắn ấy đi! Nhà tao, hai đứa trẻ đi học ở Anh quốc hết rồi. Tao về hưu sớm một năm, tao bế ẵm con Tý Ty cho!

Dừng một lát như lấy hơi, chị tiếp:

- Mà bây giờ người ta quan niệm hôn nhân cũng khác trước nhiều rồi, Hằng ạ. Không hợp thì chia tay. Anh đi đường anh, tôi đi đường tôi. Thế thôi!

Rồi hạ giọng:

- Này, cầm cái quạt phe phẩy cho con bé ngủ. Chườm cái khăn ướt lên trán để nó giải nhiệt. Bác sĩ người ta bảo thế đấy. Để tao ra chợ mua mấy thứ về nấu lẫn bột cho con bé. Khổ, gái một con mà sắp thành mẹ mõ rồi!

*

Con bé Tý Ty thiu thiu ngủ. Hằng nằm xuống là mê thiếp ngay.

Chị Loan ra chợ. Chợ phường họp sáng đã tan, chị phải bắt xe ôm sang chợ quận. Tạt qua hàng rau chị mua mấy mớ cà rốt, rồi qua hàng thịt, mua quả bầu dục, mấy lạng ruốc về để nấu bột, nấu cháo cho cái Tý Ty. Gặp mấy người bạn trò chuyện, thoáng cái đã thấy nga ngả chiều, chị bỗng thấy sốt ruột quá, liền gọi xe ôm vội vã trở về.

Con bé Tý Ty vẫn đang giấc. Hằng đã dậy. Sau giấc chợp, nhưng hai con mắt vẫn ngầu ngầu đỏ. Đầu giường là hai xếp quần áo mới gập của mẹ con Hằng. Xộc ngay vào căn buồng, chị Loan như buột miệng, hơ hoảng:

- Mày định đi đâu bây giờ, Hằng?

- Không ạ…

- Thế…

- Em vừa lên sân thượng thu quần áo phơi đã khô xuống.

Đặt phịch cái làn đựng đồ ăn xuống đất, mắt chớp chớp, chị Loan dịch lại gần Hằng, giọng bỗng hạ xuống một nấc :

- Này Hằng, thế ít lâu nay cô  và con bé Tý Ty có ngủ riêng không đấy?

- Dạ .

Mặt Hằng ưng ửng đỏ. Chị Loan quay đi, đổi giọng làu bàu :

- Hay là… Mà tao nói thật, đàn ông trăm thằng giống nhau cả trăm linh một, nhất hạng là cái loại vai u thịt bắp thô lỗ mãng, nó chỉ biêt sướng cái thân nó thôi. Đè được vợ là đè, thoả mãn được cơn dục là xong, còn chẳng cần biêt đến ai đâu. Phải kiêng, phải kiêng! ít nhất là sáu tháng. Có thèm cũng phải nhịn. Mà nó có ngọt ngào dỗ dành chiều anh một tý thôi nào, thì cũng hẩy bằng được nó ra, phải nhớ, dễ dạ  là khốn thân đấy. Rồi ho lao, hậu sản đấy.  Mày có nghe tao nói không đấy, hay là bây giờ  có chồng có con, có lông có cánh rồi, coi anh chị như người dưng, hả Hằng ?

- Dạ.  Em vẫn nghe chị nói đấy chứ ạ!

- Vẫn  nghe  chị nói !

Quay mặt trở lại, lướt qua mặt em gái một ánh nhìn thất vọng,  chị Loan  thở một hơi dài buồn bã, thôi, có thân thì tự lo lấy. Không rồi ra lại bảo tao không nói trước. Thì vừa lúc  anh Phan  đi đâu về ló đầu vào, mắt chớp chớp, giọng nhiễm vẻ lo âu:

- Có phải thằng Dưng lúc anh chị đi vắng nó vừa vào đây không?

 Hằng ngắc ngứ, mặt nhợt nhạt. Chị Loan nhìn chồng:

- Anh vừa đi đâu về đấy, anh Phan?

- Anh ra hiệu sách mua quyển Nuôi dạy trẻ sơ sinh cho cái Hằng.

Hằng ra hiên lấy cái khăn lau mặt, quay trở vào, hai con mắt mưng mưng, nhìn chị gái, giọng rầu rầu:

- Chị Loan ạ, em biết là anh chị rất thương em! Rất lo cho em.

- Cái gì, mày nói cái gì?

- Em nói là em biết anh chị rất thương em.

  Thoát một hơi thở dài thượt, chị Loan nói như rên :

- Tao biết ngay mà. Mày lại định trở về cái tổ chấy ấy, cái địa ngục trần gian ấy chứ gì!

Hằng nuốt nước bọt, nghèn nghẹn:

-   Anh chị thương em, thông cảm cho em.

- Không đi đâu cả! Đi thì để con bé ở lại đây cho tôi!

- Em biết là anh chị rất lo cho em.

- Nói thế là tao biết ý mày rồi.

- Em có ý gì đâu ạ.

Phắt dậy, chị Loan  quăng quắc  hai con mắt sắc lẻm, nghiến răng:

- Tao nhắc lại: Nếu mày khác ý tao thì từ nay…

Không nói hết câu, người  chị gái đã ngắc nghẹn, ngồi thụp xuống, nước mắt tràn ra lưng tròng. Và Hằng lập tức xoay người, úp mặt vào tường, miệng mếu xệch:

- Chị ơi, chị thương em mới chị. Chị ơi, anh Dưng lúc nẫy khi chị đi chợ anh ấy có tạt vào đây với em… Chị ơi, mấy đêm nay em có ngủ được đâu. Đêm qua em còn mê thấy ông Chì bố chồng em ở công trường xây dựng bị gạch rơi vào đầu, đang cấp cứu ở bệnh viện, chị ạ…

*

Đi nằm từ chập tối, nhưng Hằng có ngủ được đâu. Vì cứ động chợp mắt là lại mê. Mà toàn mê  thấy điều dữ. Mê thấy ông Chì bị tai nạn. Mê thấy Dưng  kêu bị bỏ đói vì ông bà Chì không cho ăn.  Lại thêm con  bé Tý Ty lại sức, bú chòm chọp liên hồi. Và trong thâm tâm, Hằng đã  quyết rồi. Thành ra, nghe trong buồng anh chị thấy yên ắng, chắc là đang vào giấc, Hằng liền xốc cái Tý Ty dậy.

Khe khẽ đẩy cánh cửa, rón rén lọt ra ngoài, tay bế con bé, tay xách làn áo quần,  thoáng cái Hằng đã đứng ở vỉa hè đường phố. Chẳng hiểu là mấy giờ đêm hay đã tang tảng sáng mà phố xá mịt mờ sương khói. Và  mới chỉ đưa tay lên chưa kịp vẫy vẫy thì một chiếc xe ôm do một gã trai tóc tai bù xù, thòi ra cả rìa mũ bảo hiểm , mặt mũi láu lỉnh, như một cánh chim ăn đêm đã vè vè xáp tới.

- Bệnh viện nào đây?  Sốt xuất huyết hay viêm phổi? Mà  đức ông chồng đâu lại  để thân  gái một con một mình  lơ vơ giữa đêm trường thế này?

Đang cần  thật nhanh chóng rời bỏ căn nhà ấm áp tình thương yêu của  chị  gái và anh rể,  Hằng không đáp  gã trai qua câu hỏi đã biết ngay là dân xe ôm chuyên nghiệp làm đêm và  chẳng  đứng đắn gì, vì hai con mắt ti hí vừa đậu xe lại đã xoi xói cái nhìn nhục thể vào  hai bầu ngực bù bụ của  Hằng.

- Cứ đi đi!

Hằng đưa cái làn cho gã xe ôm, tay trái bế cái Tý Ty, khe khẽ nói rồi ngồi lên phần  yên sau xe .

- Ngồi lui lên đi em. Cho con bế chếch sang bên, áp vào lưng anh, cho chắc và cho… ấm!.

Hắt về phía sau  mấy lời dặn  suồng sã  và  ra  vẻ thân  thiết, gã xe ôm tăng ga, sang số.  Chiếc xe giật cục, vụt đi và Hằng chỉ kịp ngoái lại nhìn  vội căn nhà anh chị, rồi  đưa tay lên gạt nước mắt. Hằng biết là anh rể và chị gái, nhất là chị gái Hằng  sẽ giận Hằng lắm. Nhưng, Hằng không thể làm khác được.

Hằng phải trở về bên nhà chồng như lẽ tự nhiên phải là thế. Hằng trở về vì bổn phận gọi nàng về. Vì bây giờ, nàng đâu chỉ là một cá nhân riêng lẻ, nàng còn con bé Tý Ty, máu huyết của chồng nàng,  sợi giây liên hệ   với gia tộc chồng nàng. Hằng trở về vì sự ràng buộc vừa chặt chẽ vừa êm ái của một luật tục bất thành văn đã in sâu vào tâm khảm nàng. Hằng trở về vì cuộc sống đã xếp sắp nàng như thế. Lấy chồng thì phải theo chồng. Chồng đi đường rắn, đường rồng cũng đi. Vì mỗi người có một số phận. Sung sướng thì được hưởng. Hẩm hiu thì phải chịu. Hằng trở về vì cuộc sống xưa rày vốn là khổ ải trầm luân muôn bề và đã là con người thì phải nhẫn nại và nín nhịn để sống, chứ không thể trốn chạy, không thể bỏ cuộc! Hằng trở về vì hiểu rằng, sống ở đời,  nhiều khi  cũng cần phải biết tự bằng lòng. Đừng nên đứng núi này trông núi nọ. Mình là phận dâu con, đang lụy người ta nên có bị giàm buộc thì cũng là cái lẽ đương nhiên. Mà Hằng có là lá ngọc cành vàng gì  mà bắc bậc kiêu kỳ, mà  có quyền đòi hỏi  nọ  kia! Làm sao mà Hằng có thể so với chị Loan và  vợ chồng  Hằng có bao giờ dám ao ước một cuộc sống như của anh chị mình!

- Vào bệnh viện Nhi  Thụy Điển nhé, em gái!

- Không! Anh cứ đi đi!

- Hay  là vào Viện  Bà mẹ và Trẻ sơ sinh!

- Không!

- Vậy  thì vào Bệnh viện  Tim Mạch, hở?

- Đã bảo không là không mà!

- Ô hay! Thế thì  đi đâu?

- Cứ đi thẳng !

Lần này thì gã xe ôm cho xe  chạy chậm lại và ngoái cái nhìn nghi ngờ về phía  sau. Rồi  ngay sau đó gã cố tình  dịch lui về phần yên  sau và cong tấm lưng gầy của mình để nó áp  chặt hơn nữa vào phần trên của thân thể  Hằng. Nhưng lúc này, Hằng  đâu còn tâm sức để ý đến  hành vi sàm sỡ ấy của y. Hằng chỉ  nghĩ đến  hành  động  trở về bên nhà chồng như là  một cuộc chạy  trốn bất đắc dĩ nhưng không thể khác được của mình. Trớ trêu, những tình cảm chân thành ở một phía cạnh  nào đó nhiều khi lại là những cản trở  con người ta sống  cho  phải lẽ, cho hợp tình  hơn.

Thế đấy, Hằng và con bé Tý Ty phải  trở về vì bây giờ nàng đã có chồng và con bé Tý Ty đã có cha. Chồng nàng là anh chàng Dưng đần dại, nghề ngỗng linh tinh. Nhưng hắn đã đứng tên là chồng nàng trong giấy giá thú. Vừa nẫy, lừa lúc anh rể chị gái Hằng đi vắng, Dưng đã lẻn vào và hắn đã ôm nàng mà khóc. Khóc sướt mướt như đàn bà vì nhớ thương nàng và con bé Tý Ty, vì thấy mình hèn yếu, bất lực. Dưng có vô số nhược điểm. Nhưng hắn hơn hẳn Trọng kỹ sư, con nhà có học, hơn rất nhiều người khác, ở chỗ hắn yêu nàng chân thực, không dối trá, không bắt cá hai tay, ở chỗ hắn say đắm nàng, si mê từ tính nết đến nụ cười hoa, đôi môi, khuôn ngực, mỗi chi tiết trên cơ thể nàng. Nàng nhớ từng cái ôm riết nóng nẩy của  hắn. Chà, nàng mới từ nhà hộ sinh về được năm hôm, hắn đã đòi yêu nàng. Và bị nàng  đẩy ra thì hắn cáu, hắn chửi,  hắn giở bài bây ăn vạ rồi lại toan giơ tay tát nàng nữa. Nàng nhớ đến từng cử chỉ, từng câu nói của hắn. Hắn là dân lao động, hắn không biết mơn trớn ve vuốt, hắn hùng hục trong mỗi cử chỉ, thô lỗ ở mỗi câu nói những khi vợ  chồng ân ái nhau.  Nhưng  sao lại có thể  gọi thế là thô lỗ để rồi phật lòng nhỉ, một khi hắn đã là chồng nàng, hắn yêu nàng thật sự, hắn thề rằng đi đâu xa là hắn chỉ tơ tưởng đến  cơ thể nàng, hắn bảo, hắn có thể chết trên bụng nàng. Nghe hắn nói thế, nàng vội đưa tay bịt mồm hắn. Thi thủ cái miệng anh đi! Anh là chồng em thì em phải chiều anh chứ ! ấy thế, là chồng nàng thì hắn có đặc quyền đối  với nàng và  là đàn bà,  là vợ  hắn, nàng sẵn sàng chấp nhận tất. Ăn tuỳ chủ, ngủ tuỳ chồng. Thế gian đã chẳng có câu nói đó  đấy ư? Thế đấy! Quan hệ đàn ông đàn  bà  mà cũng đủ vành đủ kiểu. Hỏi hắn nghĩ đâu ra những trò quái quỷ ấy thì hắn bảo bọn thợ xây ở công trường nó dậy. Khoái  quá, hắn rên, Hằng ơi, chạm vào người em là anh cứng đơ như thỏi sắt nguội rồi đây này. Em là ma tuý, anh nghiện em rồi. Em có nghiện anh không? Hằng đấm  bình bịch lên lưng hắn, cười rúc rích: Đồ quỷ sứ nhà trời, lòng vả cũng như lòng sung, anh Dưng à. Trời!  Hắn  ghì chặt nàng, thì thào vào tai nàng, rằng không biết ở trên đời còn có cái  gì sung sướng hơn là được ấp vợ không! Ôi, cái đời sống vợ chồng, cái hạnh phúc ngạt ngào bí ẩn, cái sinh thú tự nhiên nơi trần thế, cái bầu khí quyển quyến rũ quen thuộc của riêng hai người, chỉ riêng hai người được biết thôi, chỉ cần một đôi nét nhắc nhớ là đã nôn nao sung sướng,  đã lộn lạo cả ruột gan, là đã có thể quên hết mọi đắng cay, bức bối, nhọc nhằn, kể cả ở chốn địa ngục trần ai, nơi hang hùm nọc rắn rồi. Thế đấy, cái  thân phận đàn bà éo le  nghe thì có vẻ khổ sở mà thực ra đâu có  phải chỉ rặt là khổ sở! 

Ôi! Hằng đang trở về bên nhà chồng đây. Tâm trạng Hằng lúc này hỏi rằng có khác chi kẻ đang ở thiên đường mà  ngày  đêm lúc nào cũng bị dày vò bởi nỗi nhớ niềm vui sống nơi trần gian? Dâng lên  khuôn ngực Hằng lúc này là cả một  bầu năng lượng khát khao yêu đương và dâng tặng. Và gã xe ôm  vốn nòi trai lơ từ nãy  đang toan tính những ý đồ bợm bãi, đã  lập tức  nhạy cảm nhận ra  ngay cơn xúc động bột phát này của nàng. Thấy cả một mảng lưng mình chợt bừng lên vì một nguồn  nóng ấm hôi hổi, gã liền dừng xe; chỗ ấy là vỉa hè một Quán trọ Bình dân còn treo hai chiếc đèn lồng  đỏ đón khách đêm.

- Sao anh lại cho xe đỗ ở đây?

- Thì…

- Anh cho  chạy tiếp đi! Chạy tiếp đi!

- Thôi, anh hiểu hoàn cảnh của em rồi. Đêm hôm, em không   mãn nguyện với  đức lang quân chớ gì.  Nó bỏ em bơ vơ đói khát chứ gì! Vào đây!  Vào đây với anh một lát đi! Mới có ba giờ sáng thôi mà !

Trụt xuống sau xe,  tay trái  bế con bé Tý Ty, tay kia Hằng giật cái làn ngoắc ở tay lái chiếc xe ôm. Từ đây về nhà chồng còn non cây số nữa. Vứt trả gã lái xe ôm tờ bạc  năm mươi ngàn xong, Hằng liền  xốc con lên vai, cắm cúi bước. 

Giờ ấy cũng là lúc chị Loan  trở mình, sau cả một đêm dài nằm im thao thức, dõi theo từng cử chỉ, hành động của đứa em gái. Tội nghiệp con em em… Nói với chồng trong một tiếng thở dài,  rồi chị   quay lưng, úp mặt vào bờ tường, nấc từng hồi nho nhỏ.Thất bại này, nỗi buồn này thấm thía tới tận tim gan.

Hà Nội 2011

 

X-QUANG CHO MỘT TÂM HỒN

Truyện ngắn của Hoàng Hải Lâm

Hoàng Hải Lâm

Tên thật là Hoàng Văn Tiến

Sinh ngày: 10-5-1979

Quê quán: Cam Lộ - Quảng Trị

Hiện đang công tác tại Ban Dân tộc tỉnh Quảng Trị

Bắt đầu viết văn từ năm 2006. Đã có một số truyện ngắn và tản văn đăng trên Tạp chí Cửa Việt, báo Quảng Trị, báo Lao động...

Chị biết không, em đã đi xa lắm rồi. Đến nơi mà mọi người không còn nhìn thấy em! Trên sân thượng của một cái bệnh viện cao mười lăm tầng, em đứng đó hứng gió, cảm nhận cho được chút nắng ấm rồi hoá thành mây bồng bềnh trôi. Em sẽ mãi lang thang trên những miền của gió… Nhưng tay bác sỹ đã níu em lại. Đến khi em tỉnh dậy thì đã thấy mình nằm trên chiếc giường trong một căn phòng có tường vôi trắng. Hắn ta bảo “cô nằm yên đấy, tôi sẽ chụp X-Quang cho cô” mà em đâu có bị ngã gãy xương hay bầm dập chỗ nào khiến hắn ta nghi ngại. Em chỉ bị ngã như một đám mây khi gặp cơn chớp lớn. Hắn ta nói máy X-Quang của hắn ta chụp được cả những đám mây !!!

Và em đứng im nghe tâm hồn mình vỡ. Trước chiếc máy của hắn ta, em cảm nhận được những đốt xương của mình. Không hiểu vì sao em nghĩ rằng những đốt xương đó là do mẹ nặn chứ không phải là cha. Cha là người đã nặn lên tâm hồn mà tâm hồn của em có lành lặn hay không thì phải đợi tay bác sỹ. Đợi hắn ta chụp, rửa phim rồi còn đọc nó nữa. Chị không cần đợi  kết luận cuối cùng đâu, chúng ta biết cách xâu chuỗi những sự kiện. Dù gì thì chị và em cũng là con của những quan chức cấp cao ở tỉnh, chỉ số thông minh của chúng ta không đến nỗi tồi!

Mà không hiểu sao em gọi chị bằng chị khi ba chị gọi ba em bằng bác và chúng mình tuổi lại bằng nhau? Điều này thì em chịu! Bạn em bảo thời buổi mọi thứ lộn tùng phèo cả lên mà em ngồi nghĩ đến những điều thuộc danh xưng (!) em chỉ biết cười vì không biết được điều nó nói đúng sai. Có nhiều điều em không sao lý giải được và em thấy mình bị lạc. Lạc đến cái bệnh viện mười lăm tầng này.

Để em kể cho chị nghe đôi chút về tay bác sỹ. Khoảng ba mươi tuổi nhưng tóc đã lốm đốm bạc. Em hỏi sao tóc bạc, hắn nói bác sỹ nghèo không có chi ăn. Em biết tay này nói xạo vì cha em ăn có thiếu thức gì mà tóc vẫn bạc còn mẹ em thiếu thốn đủ bề mà tóc vẫn xanh! Và còn nhiều thứ ngường ngược khác. Đứng trước tay bác sỹ, em không còn là mây vì vậy hắn mới chụp được. Hắn ta không phải là bác sỹ giỏi vì theo em người bác sỹ giỏi thì phải biết được làm sao tóc bạc làm sao tóc xanh. Hắn ta nói “tôi sẽ chụp X-Quang cho tóc của cô”. Chị biết kông đến câu này thì em không nhịn được cười, cái đầu của em trọc lóc tay bác sỹ định chụp tóc gì bây giờ. Nhưng hắn bạo lắm chị à, hắn nói như chặn miệng người ta “cô đừng có mà cười, rồi sự thật sẽ phơi bày ra hết. Sự thật của tóc không phải ở sợi tóc mà nó nằm trong chân tóc thưa cô!”

Đến đây thì em thực sự sợ hãi. Vì rằng cái sự thật của chân tóc này nó buồn thê thảm lắm! Em cũng không biết làm sao nữa, nhưng một hôm khi phát hiện mẹ em chết ngồi trong cái tủ đựng chăn, cha em đã khóc nức nở ghì sát vào cái thân xác đã khô quắp và nguội lạnh của mẹ. Em đứng trân trối rồi chết lặng đi khi cha quay ra ngoài với một gương mặt bừng sáng. ánh mắt của cha lúc đó có nắng (với cha) và em (nghe lạnh). Đó là một buổi chiều không có nắng, em ghi lại hình ảnh cuối cùng về mẹ ngập ngụa trong đống chăn loang màu máu và chiếc tủ đứng lặng như một khối đá khó gỡ cho một ai vô tình liếc qua.

Em đã uống rượu, đã theo một con bé trên phố đi vào một quán Bar và rồi không hiểu sao em lại ở trong một khách sạn. Trước khi lờ mờ tỉnh, em nghe một số câu nói từ giọng rất quen “Con bé giá bao nhiêu? Ngàn đô hả? Ok! Nhưng phải còn trong trắng và tuyệt mật đấy”. Và người bóc trần em lại là cha em. Cha không tin trước mắt là con gái của mình vì thiên hạ có khối kẻ giống nhau. Đến khi nhìn chiếc nốt ruồi son hình ngôi sao trên bầu vú em thì cha đánh té tát vào mặt em. Cũng may mà có ba chị can thiệp. Mà tức cười quá! Sao cha lại hứng thú với một kẻ giống con gái mình đến mười mươi? Sao cha lại đánh em khi em đưa mắt nhìn ông mà rằng: “Cha ơi! Con gái của cha đây mà! Cha không nhận ra con sao?” Cha không cảm nhận câu nói đó trong mắt của em cũng như em không cảm nhận được sự khác nhau giữa con bé của ngày nay mười sáu tuổi và con bé của ngày xưa sáu tuổi (ngày xưa cha hay bóc trần để tắm cho em). Lần đó em cạo tóc để cha có thể không bị nhầm lẫn giữa con gái của mình với ai đó trên mọi nẻo đường (chứ không mong rằng cha nhận ra em).

Hôm đó, ba chị đưa em về trên chiếc ô tô riêng. Em liêu xiêu như gió nép sát vào ngực ba chị. Ba chị vuốt tóc và bảo “chú thương cháu như con Thanh nhà chú” từ đó em mới biết tên khai sinh của chị. Em cứ nghĩ chị tên Su như cách gọi thông thường. Thì ra một con người có thể có nhiều tên gọi và mỗi tên gọi buộc phải khác nhau. Ba chị nhìn em rưng rưng khi nghe câu nói đó. Ông ôm chặt em hơn bằng hai cánh tay và khoá đôi môi em lại, một khách sạn khác đã mở ra đối với em. Em biết mình là con bé mười sáu tuổi khi được ba chị nâng lên một chiếc giường có nệm êm. Ba chị trả cho ngôi sao trên bầu vú của em 9 triệu đồng còn tiền giường chiếu tới 5 triệu. Em không nghĩ là mình đáng giá đến vậy nhưng em cũng không cần đến tiền. Chị đừng có đòi em vì số tiền đó ba chị mừng mừng tủi tủi khi nhét vào túi của ông. Đó là một diễn biến lạ trong xúc cảm của con người mà em được biết.

Cũng bắt đầu từ đó em không thích ba chị vì ông nói không tốt về cha em. Hai ông thân nhau còn hơn cả ruột thịt nhưng ba chị lại bảo cha em khoá mẹ em lại trong tủ nên mẹ em mới chết và cha làm vậy vì mẹ biết quá nhiều chuyện của cha. Em thấy lạ. Cha em ai cũng nhìn thấy hết sao giết mỗi mình mẹ. Ba chị nói “thấy hết” nhưng không “thấu hết”. Nói khó vậy ai hiểu được? Mấy ông làm to hay nói những câu khó hiểu. Em chỉ thích những cách nói dễ hiểu như của mẹ khi con mèo trèo lên bếp “con mèo trèo lên bếp để ăn thịt mỡ vì nó thèm mỡ”. Vậy thôi, dễ ẹt phải không chị?

Em chỉ tiếc rằng mình chưa biết được vì sao con mèo thèm mỡ. Chưa kịp hỏi thì mẹ em đi mất rồi. Hỏi người khác sợ họ trả lời đâm ra khó hiểu. Nếu mấy hôm đó em không ở lại trường thi học sinh giỏi thì em không mất mẹ. Mà mẹ còn thì câu hỏi đó chẳng khó khăn gì cả, em cược với chị đấy.

Nhưng có một chuyện khó khăn hơn đối với em khi không có mẹ ở bên cạnh. Một buổi sáng, khi tỉnh giấc em nghe mình đau râm ran ở bụng rồi máu chảy xuống ướt hết đủm quần. Em loay hoay và sợ hãi. Sự cứu cánh của em lúc ấy là nhìn lên bức hình của mẹ rồi em đi đến một quầy bán tạp hoá ở gần đường. Cô bán hàng la lên oang oảng “Trời, cháu có tháng rồi đó. Tội nghiệp không! Thế mẹ đâu...” Em đi về trên tay cầm theo một gói băng mà cô ấy vừa bán cho em mười ngàn đồng. Em cười khúc khích. Em thấy cô ấy mới đáng thương, có tháng mà làm như tận thế! Mà cái gói vệ sinh đó nó đâu có tiện dụng gì. Bằng chứng là máu vẫn chảy xuống đủm quần em và em còn bị đau khi lớp băng keo ở đó dính chặt vào da thịt. Ngày hôm sau em quay lại hàng của cô bán tạp hoá, cô lại la oảng lên “Trời ơi! tội nghiệp! Cháu dán ngược rồi. Thế nhà cháu ở chỗ nào? Ba mẹ cháu đâu?” Em cười “Cô lại tội nghiệp cháu?” “Thế không à, còn cười được cơ đấy”. Em quay đi, không cười biết làm gì bây giờ? Cái giọt nước mắt giờ đây xa xỉ quá! Mà mấy chuyện này đáng cười quá chứ, cười cho mình và cười cho người ta...

Tay bác sỹ đã ra rồi, hắn nhìn em cười tươi quá đỗi. Em ngờ là hắn sửa tâm hồn méo mó của em thành một nụ hoa tươi. Anh ta bảo em chuẩn bị chụp đầu thì em từ chối. Cái chân tóc của em chưa nhổ tiệt được em sợ rồi hắn nhổ toẹt vào mặt em khi hắn nhìn ra chân tướng. Hình như tay này cũng biết em, chị à. Trông hắn rất ân cần với bệnh nhân chưa nộp một đồng viện phí nào như em. Em ngờ những ai đối tốt với mình vì đâu đó em bắt gặp cảnh ông chủ dùng bát cơm ngon dụ dỗ con chó để bắt làm thịt. Em thích cái cảm giác được làm con chó nhưng em lại ghét tiếng tru tréo và giọt nước mắt chảy ra của con chó khi bị chủ thịt. Em bị bắt thịt nhưng em lặng im và bất động và ba chị cũng hoảng hốt la lên: “Chết, con làm sao vậy?” Sau câu đó em cười. Con và chú mà sao làm chuyện kỳ quá! Ba chị cười đắc chí rồi nựng hai bầu vú của em: “Anh sẽ thương em mãi như…”. Ba chị ngập ngừng và em thấy ớn! (Như ai hả chị?) Chị coi đó, danh xưng lộn xộn vậy mà con bạn em bảo mày hay quan tâm vớ vẩn. Buồn cười quá đi! Mọi thứ cứ thay đổi chóng mặt và con người ta chưa kịp nhấm nháp hết thứ vừa đi qua. Nhiều người cũng nghe lời ông cha dạy, cái lưỡi đã cong trơ cong trớt rồi mà nói vẫn cứ lộn (em không chắc là sai).

“Cô chưa thể chết được đâu, căn duyên của cô còn nặng lắm!” Tay bác sỹ phán với em một câu đầy màu sắc Phật giáo. Hắn tưởng em là Ni cô nên mới nhìn em bằng con mắt Dục tinh khiết! Hắn cười và em cũng bị hấp dẫn, hắn xin số điện thoại của em rồi đứng như người bị bệnh tim khi gặp sự biến cố. Về sau thì hắn biết em là con của lãnh đạo và em cũng biết được anh ấy là chồng tương lai của chị. Cho nên khi anh ta nâng em lên giường để khám lần hai thì em lại đặt chân xuống đất và rồi em bước đi. Lúc đó em nghĩ đến chị nhưng em không chắc là lúc khác em sẽ nhớ. Mà thiên hạ khối gì người giống nhau, cái suy nghĩ ấy đàn ông nghĩ được thì đàn bà cũng nghĩ được. Cho nên chị đừng trách em và những người… đàn bà khác.

Trước đây, chị còn nhớ không? Lúc đó chúng ta 14 tuổi mẹ chị mất, em khóc ngất ngư còn chị thì đứng lặng im. Nhiều người đến ở đám tang hôm đó cứ nhầm em là con gái của mẹ chị. Hôm đó em ghét chị quá chừng, con cái gì mà nhạt như bức tranh phơi ngoài sương gió! Cho đến ngày mẹ em mất cái bức tranh ngoài sương gió đó nhập thần trong em và em nghĩ cái im lặng ngày xưa của chị đau quá đỗi! Em nghe chúng ta chết dần đi mà bao con mắt nhìn vào soi mói. Họ không biết nhìn vào mắt bằng con tim.

Em đã để cho thời con gái của mình trôi qua lặng lẽ. Cái sự mất đó em coi như một con gà què (con gà què được người ta đem thịt). Còn chị, chị phản ứng như thế nào khi  bạn của ba chị chạm tay vào người chị? Năm đó chị 15 tuổi đúng không? 15 tuổi có thể khóc nhưng cũng có thể cười, 15 tuổi được người ta để ý và chiếu cố!

Mấy hôm em đọc lại những bức thư của cha em (viết cho mẹ) trong những ngày ông nghiên cứu sinh ở Hung mà lòng em thắt lại. Cái tình yêu đó nồng nàn, đắm đuối nghe sực nức đến cả tâm can. Đọc thư, em cảm thấy tuyết rơi mà vẫn ấm. Đêm về có ánh sáng lung linh và ban mai là cả một cánh đồng xanh lúa mật – mát rượi và no nê. Có lá thư mà em đọc đi đọc lại hơn mười lần, lá thư đó có mấy câu thơ cha viết tặng mẹ:

Tuyết trắng!

Tuyết trắng!

Chi bằng da em

Chi bằng tâm hồn em

Mùa đông không lạnh

Mùa đông bên ánh đèn

Anh nhớ em!

Quay quắt

Tan chảy những giọt đêm

Anh nhớ em

Bằng môi và ánh mắt

Tan vào đêm...

Cha nhìn em: “Con đọc chi hoài vậy.” “Dạ, lá thư cha viết cho mẹ có bài thơ”. Cha đi lảng ra phía hành lang. ở ngoài đó em không biết cha nghĩ gì nhưng trong đây có hai ngọn gió quất vào nhau tá hoả. Em cười và hát “tuyết trắng, tuyết trắng, chi bằng da em, chi bằng tâm hồn em... mùa đông tắt ánh đèn”. Cha ghé mắt vào: “Mày hát chi ác vậy con?” Em cười nắc nẻ như một con ghẻ cấu vào da. Em hả hê được ác vì một tình yêu!

Và cha cũng được ác vì một tình yêu. Cha yêu mẹ trong cái chăn ấm mà biết bao kẻ lạnh lùng “làm nô bộc của dân thì phải biết vì dân” - mẹ nói. Đôi mắt cha dựng lên trợn ráo. Cha nhìn mẹ như người ngoài hành tinh: “Con đàn bà ở xó bếp biết gì là nô bộc”. Mẹ nhìn cha mà mắt ngấn lệ, đó là cố gắng cuối cùng của mẹ đối với cha. Từ sau đó, mẹ chối bỏ tất cả những thứ mà cha tải về trong căn nhà này. Mẹ lặng lẽ như một bóng đêm và hanh hao như ngọn gió. Năm đó, trời không ban phát đủ ánh sáng cho mặt đất nên mọi vật cứ âm u. Mẹ nói với cha như người trở bệnh: “Lần cuối cùng thưa ông tiến sỹ! Ông có dừng lại hay để tôi hãm phanh dùm? Tôi có đủ quyền năng để làm việc đó...”  Mẹ bê ra một đống chứng cứ phạm tội của cha và em cũng biết được rằng vì sao cha có nhiều tiền đến thế.

Hôm đó là ngày cuối cùng của mẹ, nhưng lại là ngày đầu tiên của em!

Em đã dối lòng để cha không mắc nợ. Mà giả em không dối lòng thì cha có thấy mình mắc nợ không? Em có đòi được nợ không? Bằng cách nào lấy được món nợ to hơn cả trần gian, to hơn cả người mẹ đất..., em bất lực một cách tròn trịa, em thả mình trôi như những cánh bèo trên mặt nước để chịu trận cho cha. Nhưng rồi cánh bèo em trôi hơn nữa dòng sông em nghe mình mắc nợ mẹ. Em muốn quay lại nhưng thân thể đã yếu ớt, rữa tàn. Thôi thì tan vào nước đợi ánh mặt trời hoá thành mây, thành rong rêu, miễn sao được không thấy, được không nghe lời nói, tiếng cười hay bờ vực sâu thăm thẳm trong thế giới con người.

Em đã đem ra hết những gì về mình nói cho chị nghe và em không ngửa mặt lên trời được cả khi đã biến thành mây. Em nhìn thấy con bé ở quán Bar hôm nọ. Bằng cách nào đó nó đã đem sang những hình ảnh của em và ba chị trong khách sạn hôm đó và khi nó click chuột vào một file khác thì câu chuyện của chị và cha em lại hiện ra. Em ghét chị vì khi vén chiếc váy lên chị lại lấy những đồng tiền từ tay cha em. Em đã cố quên đi để không phải biết đó là đồng tiền gì. Chị thản nhiên hơn em tưởng. Có thật là chị làm được điều đó không? Có thật như vậy không khi chị mười lăm tuổi?

Tới đây thì em đã nghe lạnh vì đám mây em lang thang qua một vùng có bão. Em đã kịp nhìn thấy em trước khi chưa là mây, em đã nhìn thấy một đứa trẻ trong em trong sự muộn mằn. Đứa bé khóc chơi vơi, đứa bé đòi sữa mẹ, đứa bé lả đi vì cơn khát, vì người mẹ như em chưa đặt nổi cho con mình một cái tên. Em đã không biết nó hiện hữu ở trong em, em chưa đủ lớn để nhận ra những thay đổi bên trong cơ thể mình. Nếu biết em sẽ cố gìn giữ. Mặc dù em không biết rồi sẽ dạy nó gọi chị bằng gì, gọi ba chị cha em bằng gì và cả chị nữa..., em không biết.

Kìa con bé ở quán Bar hôm nọ đã in xong những chiếc đĩa. Nó đưa cho ai chị biết không?  Đó là người thân cận nhất của cha em và ba chị và cũng là ba của nó. Ngày kia sẽ có đợt các ông chạy đua vào một chiếc ghế nào đó. Em đoán vậy vì nhìn sắc mặt của người đàn ông đó phì phèo những tia hy vọng và trật trệu những đam mê. Trong cuộc thanh toán lẫn nhau này một bóng ma như em không thể làm gì được. Còn chị, chị nhìn thấy sao chị lại đứng im? Chị đứng ngoài cuộc chơi hay chị đang hậu thuẫn cho một ai đó trên cái bàn tròn? Thôi, em lại thấy lạnh rồi. Trông người chồng tương lai của chị hao hao con bé ở quán Bar và người đàn ông thân cận của cha em và cha chị như cái khuôn đúc ra chồng tương lai của chị. Em từng nghe ba chị nói trong những cuộc chạy đua phải khôn ngoan và xảo trá, nhiều người thanh toán lẫn nhau...

Và nhiều người “chạy cầu” để có một chỗ đứng cao cao...

Và họ không nghe nhục!

Và em lại thấy lạnh rồi...

Lời bình:

Sẽ có người nói: “Chuyện làm gì đến mức ấy? Cả ba người đàn ông đều khốn nạn, ba đứa con gái cùng te tớp”.

Sẽ có người bảo: “Có thực bà mẹ trong sáng thế, mà không nghĩ ra cách gì khác, chỉ biết dằn hắt đến chết để cản chồng?”

Sẽ có người lăn tăn: “Đơn giản vậy ư? Tất cả nhường chỗ cho ba gã mặt người dạ thú tác oai tác quái!”

Và nhiều nhiều nữa, về cái chết mơ hồ của nhân vật chính, về anh chàng bác sĩ triết gia rởm, về bà mẹ của chị Thanh…

Nhưng có vẻ cũng chẳng quan trọng gì, bởi tác giả truyện ngắn đang mải đuổi theo cái đích mỹ học khá động: Chết mà lên án được cái ác.

Vậy thì chủ yếu hãy xem xét độ mảnh, độ sắc, độ xuyên thấu tinh tế của cái “tia” x-quang chuyên môn của nhà văn. Thì dường như câu chuyện đã rẽ theo ngả khác. “Sự thật nằm ở chân tóc”. Khách mua dâm mừng mừng tủi tủi nhét tiền trả lại vào ví. “Con đàn bà ở xó bếp biết gì là nô bộc”… Những câu văn ấy, đặt trong những bối cảnh ấy, lật trở những nỗi sợ hãi, những điều nghi vấn, những ca oan khuất… đã thực sự ám ảnh con người.

Và cả tác giả nữa, tôi tin, cũng vẫn đang phải nghĩ tiếp.

Nhà văn Lã Thanh Tùng

Lên đầu trang