Gửi thư   
Bản in
VanVN.Net - In ở Văn nghệ Trẻ thì hẳn tác giả còn trẻ, chúng tôi đoán thế, vì khi hỏi ngay cả BTV rằng Tuệ Anh là ai, cũng trả lời là chưa gặp, họ làm bản thảo với nhau qua email. Trong số các nhà văn “thế hệ viết bằng mười đầu ngón tay” (Hữu Thỉnh) này chỉ Du An là có vẻ già nhất, sắp 50. Nhưng chính Du An lại có giọng trẻ trung hơn cả, lời truyện đẹp như thơ, lập lờ như sấm ký nhưng lại chuyên chở vấn đề của nhức buốt; nhức buốt chẳng kém gì cái đẹp bị làm nhục khiến viên gia nô phủ Chúa phải xả thân bảo vệ trước nanh vuốt sói của dâm tặc Cai binh Thanh. Đọc Tuệ Anh, nữ sĩ mười tám đôi mươi mà xót xa buồn cho mẹ con nhà họ, nỗi buồn của trăm năm làm kiếp con người, nó níu kéo đến rũ ra không được. Nhưng đọc trẻ mà người già thêm vững dạ, nói như nhà thơ Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh, văn trẻ đang trẻ hóa dòng chính, đang khác cái dòng thác tạm gọi là dòng Vệ Tuệ bên kia từng có lúc nó bị cuốn vào...
MẸ ƠI, DẬY ĐI!
Truyện ngắn của TUỆ ANH
1. “Mẹ ơi, dậy đi!”
“Tới biển rồi!”
Mẹ choàng mở mắt, nheo nheo nhìn về phía màn sương mờ mà con tàu đang lao vào.
“Không, con ơi! Đó là những tòa nhà chọc trời.”
“Không, mẹ ạ! Là núi đấy!”
“Mưa à?”
“Không, là sương mù mẹ ạ!”
“Trời đã tối rồi cơ à?”
“Không, mẹ ơi! Bình minh đang lên”
Tôi đẩy cái chốt. Cửa kính toa hé mở, một làn gió lùa vào, lành lạnh. Hơi thở của đêm còn đọng lại trong sương. Tôi thò ngón tay ra ngoài.
“Bống, đừng thò tay ra ngoài. Ông ngáo ộp đấy!”
“Mẹ ơi, con lớn rồi, đừng gọi con là Bống nữa. Gọi con là Tuệ, mẹ nhớ chưa?”
“Bông lau à?”
“Không, là bông lúa chứ mẹ!”
“Nhà bà có nhiều lau lắm. Khắp nơi!”
“Thế hả mẹ? Nhưng con là ‘Bông lúa’ cơ mà!”
Bỏ mặc chuyện bông lúa với bông lau. Mẹ nhìn không chớp mắt ra màn sương mờ. Đôi mắt chẳng nói lên điều gì. Chỉ có một màu xám xanh đùng đục của gỉ nhèm. Đôi mắt có lẽ vì thế trông mờ ảo như ẩn đằng sau một màn sương bàng bạc.
“Bống, đừng đi chơi xa. Không được đi vào lèn hái sim nghe chưa! Có nhiều ong vò vẽ lắm!”
“Con đã bao giờ được đi hái sim đâu! Hình thù quả sim ra sao cũng không biết nữa!”
“Nơi thế giới của ánh sáng vương giả và những bụi hồng nhàn nhã không có sim, mẹ nhỉ!”
Mẹ vẫn lơ đãng như một cô gái mới lớn, nhìn mơ hồ ra ngoài khung cửa, mắt không chớp. Hay mẹ đang mộng du?
“Mẹ ơi, biển đẹp nhất vào mùa nào?”
“Ve sầu đang kêu trong bụi hồng leo!”
“Sao có thể chứ?”
“Không có hồng leo. Cũng không có ve sầu. Mùa đã sang rồi mẹ ạ. Và mình cũng đang đi…”
Lặng thinh. Mẹ không nghe thấy tôi. Đúng ra, từ đầu tới giờ, chưa từng có một lời của tôi chạm đến tâm trí mẹ. Tôi độc thoại. Mẹ cũng độc thoại. Hay nói đúng ra, tôi đang nói với một- người- không- phải- là- mẹ, và mẹ đang nói với một- ai- đó- không- phải- là- tôi.
Một người phục vụ đẩy xe đến, hỏi chúng tôi có dùng đồ ăn sáng không. Mẹ như bừng tỉnh, quay ra xua tay.
“Không ăn đâu!”
Giọng mẹ thẽ thọt, như một thiếu phụ trẻ đang dỗ con thơ. Không phải của một bà lão nói với đứa con gái ngót bốn chục tuổi đầu.
“Thôi, Bống chịu khó đi! Lát về bà ngoại nấu bánh canh ngon lắm! Bánh canh nấu với tôm, ngon nhất trần đời!”
Tôi mỉm cười với cô bán hàng, ra hiệu không mua. Cô cũng mỉm cười lại, đẩy chiếc xe đi. Tôi bắt gặp cái ngoái lại rất khẽ của cô.
“Ngày xưa Bống thích bánh canh nhất trên đời. Lúc nào cũng đòi mẹ nấu bánh canh”
“Con có thích bánh canh đâu. Mẹ suốt ngày nấu! Có ai ăn đâu.”
“Chắc mẹ nấu không ngon bằng bà ngoại. Tiếc là…”
Mẹ đã quay nhìn ra khung cửa từ bao giờ. Ánh nhìn xa xôi bảo với tôi rằng, toàn- bộ- mẹ- đang- ngồi- trước- mắt tôi đây không- đang- ở- đây. Một tiếng hát khe khẽ. Không hẳn là hát. Một thứ âm thanh đùng đục, đứt gãy trong cuống họng. Là mẹ tôi đang hát, hay đang ngâm. Mắt vẫn nhìn đăm đăm ra ngoài khung cửa sổ. Bình minh đang lên. Mặt trời hồng rực.
Con chim ngoan của mẹ. Đi hái sim rừng xa. Túi đầy quả mọng. Đừng trêu con ong vò vẽ. Treo lủng lẳng trên cây. Đừng trọc con ong đất. Ngụy trang trong ụ đầy. Chúng rình đốt con. Con chim ngoan của mẹ
2. Những bông hoa trong vườn nhà tôi giờ này đang hé nở trong làn nắng sớm dịu dàng. Bụi hồng leo bám quanh tường rào xây cao. Đấy là nhóm hồng Gallica thuộc loại hồng- vườn- cựu. Hồng- vườn- cựu, hay hồng- lịch- sử (historic roses) như người ta gọi thế, đa số được lai tạo từ hai giống hồng hoang dã: Rosa Multifolia và Rosa Wichuraiana. Thời mà nhóm hồng Pháp Gallica cùng với nhóm Trung Hoa China khơi mào cho một cuộc “cách mạng” sản sinh ra hàng vạn giống mới đã chấm dứt vào thế kỉ XIX. Đế chế và những buổi hoàng hôn. Mẹ tôi bảo, cái bụi trồng ở hàng rào bao quanh nhà tôi là Kathleen Harrop thuộc giống hồng leo Bourbon màu hồng nhẹ, một trong những giống mà người Pháp đưa vào trồng ở xứ ta. Thế rồi, một ngày kia, mẹ tôi lại cất công đem nó, ý tôi là bứng nguyên cái cây ấy, trở về chính mảnh đất chôn rau cắt rốn của tổ tiên của nó. Giờ thì, người ta chỉ còn có thể hi vọng rằng, nó còn sót lại đâu đó nơi xử sở tha hương chăng?
Tôi chẳng thể nào nhớ nổi mấy cái tên phức tạp, cùng cái phả hệ dài ngoằng của từng loại. Hơn nữa, đã mất niềm tin vào sự thuần chủng của chúng_ nếu điều đó là tồn tại thực_ như mẹ tôi vẫn bảo. Mẹ có niềm tin riêng của một người làm vườn yêu say đắm những bông hoa của mình, và sinh mệnh cũng như số phận của chúng. Tôi thích cái gì giản đơn hơn. Ngoài việc ngắm nghía cái vẻ đẹp thuần túy bên ngoài của những đóa hồng vào mỗi buổi sớm mai ra, tôi không đòi hỏi gì thêm, một phả hệ chẳng hạn. Chúng chỉ khiến tôi loạn trí óc. Và đôi lúc, khơi gợi lên một nỗi khó chịu không nguyên cớ. Tôi thấy dễ chịu hơn nhiều vì biết rằng, giờ thì ở khắp các khu vườn của châu Âu tràn ngập các giống hồng Mĩ. Có lẽ vì chúng cho rất nhiều hoa. Cực nhiều! Những cái tên cũng mĩ miều nữa. Queen Elisabeth. Iceberg_ Băng- tuyết- ngầm. Sally Holmes. Belle Portugaise_ Người- đẹp- Bồ- Đào- Nha. Crepuscule _ Hoàng- hôn. Four of July_ Quốc- khánh- Hoa- Kì. Lại còn cả Don Juan, Joseph’s Coat hay Spice no Nice rất được ưa thích.
Mỗi buổi sáng, mẹ tôi thức dậy từ rất sớm. Đều đặn như cây trút lá mùa thu, như tuyết rơi mùa đông. Đó có thể xem như một thời gian biểu bắt buộc đối với một người làm vườn? Một thói quen? Một thú vui? Dù gì, mẹ tôi vẫn thức dậy rất sớm. Chăm sóc vườn nhà chúng tôi, tỉa tót mấy bụi hồng, trước khi đến những khu vườn khác, vì công việc.
Có lần, tôi bắt gặp mẹ trò chuyện với những bông hoa. Quả thật là như thế. Sau khi đi một lượt khắp khu vườn, làm xong công việc với tất cả những thứ cây, thứ hoa khác, mẹ đến bên bụi hồng leo trên tường rào. Ngồi đó. Lặng lẽ hàng giờ. Nhìn chúng bằng ánh nhìn trìu mến hay giận dữ, vui vẻ hay buồn rầu, thanh thản nhẹ nhõm hay đầy lo âu. Có khi mắt nhìn chúng mà thần trí mẹ có vẻ đang lạc mãi nơi nào, bảng lảng như khói chiều thu trong những cánh rừng, trên những con đường xa. Đôi môi mấp máy liên tục trong một cơn thì thầm bất tận. Việc đó bắt đầu diễn ra từ sau khi bố tôi qua đời.
Tôi cho rằng bệnh của mẹ đã âm ỉ như thể người ta ủ than hồng từ hồi ấy đến giờ. Qua bao năm tháng. Chỉ có những bông hoa là biết điều đó. Tôi, con gái của mẹ tôi, không gần gũi bà bằng những bông hoa.
3. Bên đường cảnh trí hiện ra rồi lướt qua rất nhanh. Chỉ có biển vẫng đang ở trước mặt chúng tôi, bên ngoài khung cửa sổ. Tôi khẽ giơ tay, như để chạm vào một khuôn mặt đang kề sát mặt mình. Nhưng chẳng chạm tới. Đoàn tàu đều đều nhịp đi men theo đường ray dọc bờ biển. Tôi mở rộng khung cửa kính hơn nữa. Một luồng gió mạnh hơn thốc vào, lành lạnh luồn qua mái tóc. Tôi so vai, rụt cổ sâu hơn vào chiếc khăn len mỏng.
Tôi nhìn sang mẹ. Không thấy mẹ phản ứng gì. Ánh mắt vẻ như đang dõi theo con đường men bờ biển, theo ánh bình minh hồng lên phía chân trời. Chỉ một chốc nữa thôi là nắng sẽ rải vàng như ngọc trên mặt biển. Một chùm tia nắng mỏng, sắc chiếu xuyên qua khung cửa, thẳng vào chúng tôi. Mẹ tôi chợt nhíu mày, quay sang nhìn tôi bằng một ánh mắt xa xăm. Xa như vạn năm ánh sáng. Cái nhìn ấy không đọng vào tôi.
“Bống, đi tưới hoa đi!”
“Mẹ ơi, mình đang về nhà… không, về quê mình! Không có hồng leo đâu!”
“Chỉ có biển. Và những bông lau…”
“Mẹ ơi, ngày xưa biển có như bây giờ?”
Mẹ chỉ tay về một hướng mông lung, hướng ra biển, có thể ý mẹ là đằng những rặng núi xa đang rõ dần sau lớp sương mù tan chảy kia.
“Nhà bà ngoại… Bà đang đợi Bống!”
“Vâng, bà vẫn đợi! Biển vẫn như ngày xưa phải không mẹ!?”
Tôi định nói thế. Nhưng khi tôi nghe ra những từ ngữ thành hình trong giọng nói mình, chúng khác.
“Không, mẹ ơi! Giờ chỉ còn là những bông lau thôi. Lau trắng. Chập chờn. Hoang dại như gió biển.”
Tôi chớp mắt. Ngước nhìn lên. Một đám mây trắng lớn giống hình một con bướm trôi lững lờ đằng xa.
Tôi. Mẹ tôi. Có thuộc về gió nơi này, mây nơi này? Có thuộc về những bông lau? Về biển?
Biển thì chạy xa mãi. Xa tít tắp. Tận chân mây đằng kia.
4. Bố tôi qua đời khi ông còn rất trẻ. Mẹ tôi cũng còn rất trẻ. Mẹ tôi không đi bước nữa. Mẹ không u sầu, than khóc. Mẹ câm lặng như đá. Mẹ giữ lại tất cả những dấu ấn của bố trong khắp ngôi nhà, nhưng không nhắc đến bố. Mẹ vẫn nấu món bánh canh mỗi dịp cúng giỗ bà. Nhưng mẹ chưa từng kể về bà ngoại.
Mẹ khóa chặt mọi thứ. Bưng kín mọi ngõ ngách có thể cho phép người ta len lỏi vào tâm tư bà. Từ đó, ngoài tôi ra, bà chỉ yêu những bụi hoa.
Tôi, nhiều lần, thử thâm nhập sâu hơn vào cái- đời- sống- khác được mẹ giấu kín, được bao bọc đằng sau các giống hoa hồng, các phả hệ, các loại vườn tược, các thứ sâu bệnh, nấm mốc, vân vân và vân vân. Tôi muốn nghe tiếng nói thật sự, hay ít ra là cái tiếng nói tôi chưa từng thấy để lộ ra, của mẹ, cái tiếng- nói- đang- câm- lặng đằng sau âm giọng mũi nghèn nghẹt mà mẹ phát âm rất chuẩn hàng ngày. Nhiều lần tôi cố nghe ra, xem có một âm sắc nào lạc điệu còn sót lại hay không, tựa như giờ đây người ta đang đi tìm những giống hồng- vườn- cựu còn sót lại ở xứ sở tha hương của nó. Tôi chẳng thấy gì lộ ra. Rồi tôi nghi ngờ ngay chính sự tồn tại của những điều tôi đang cố công tìm.
Mẹ đã quên. Mẹ đã bỏ lại đằng sau tất cả?
Mẹ vẫn thức dậy từ rất sớm. Cần mẫn với vườn tược. Yêu những bụi hồng. Nâng niu cả những giọt sương. Ngoài làm vườn ra, mẹ ít khi gặp gỡ ai, ngay cả những người đồng hương. Mẹ nói nhiều nhất và sinh động nhất khi thuyết về phả hệ các giống hồng, thiết kế các loại vườn. Tôi đoán, chỉ là tôi đoán, cũng có thể việc nói về hồng leo khiến mẹ tôi thấy an tâm rằng mình thuộc về nơi ấy_ nơi chúng tôi đang sống.
Ngoài ra, chỉ có câm lặng. Mẹ câm lặng như đá.
5. Tiếng xình xịch đều đều có lúc gần sát bên tai, có lúc trở nên xa xôi như vọng từ một nơi nào tới. Có lúc mất hẳn. Con tàu đi mãi. Êm như du. Hồ như đi xuyên qua ánh bình minh, xuyên qua biển, đi mãi vào mây và những rặng núi xa mờ.
Mẹ đang ngủ. Đầu hơi nghẹo sang một bên. Hơi thở đều đều. Mái tóc đã bạc trắng. Nhìn mẹ lúc này như một bà tiên. Không, nhìn hiền hòa và vô tư lự như một đứa trẻ ngủ say trong lòng mẹ. Da tuy đã nhiều nếp nhăn nhưng nước da vẫn còn ửng hồng, cứ như mùa xuân của những đóa hồng sẽ từ đó mà bung ra.
Tôi ngắm khuôn mặt mẹ. Lâu thật lâu. Tôi thảng thốt. Đó là khuôn mặt của một ai đó khác, không phải của người mẹ tôi vẫn nhìn thấy mỗi buổi mai thức dậy, cần mẫn giữa những bụi hồng, nói thứ giọng mũi nghèn nghẹt rất chuẩn. Điều đó giống như việc người ta bứt tôi khỏi người mẹ của tôi khi bà còn là một thiếu phụ rất trẻ, quăng biến tôi đi đâu đó suốt quãng thời gian dài dằng dặc, cho đến khi tôi gặp lại bà trong khuôn mặt đầy những nếp nhăn này, dưới làn tóc bạc trắng này. Hai- con- người- đó giờ thật tách biệt. Tôi chẳng cần phải gắng công đi tìm cái mặt ẩn giấu kia nữa. Nhưng tôi lại bỗng thấy xa lạ.
Cả cái giọng mũi chuẩn nãy giờ cũng biến đi đâu. Cái chất giọng, cái âm sắc mà tôi mong mỏi được nghe suốt những năm dài đằng đẵng qua, giờ tuôn chảy qua thanh quản mẹ, khởi phát thành tiếng như một điều hết sức tự nhiên lâu nay vẫn thế. Như thể bà chưa từng khoác lên nó một thứ nào khác.
Mẹ vẫn thở đều đều. Nhịp thở êm dịu quá đỗi. Nó chẳng đủ làm một sợi tơ mỏng mảnh rung lên. Đôi môi dum dúm của mẹ he hé mở. Nhìn mẹ đang ngồi đây, cạnh tôi, trên con tàu đang lao về phía trước, lướt qua những vùng cỏ lau, qua bờ biển hoang vắng gió. Một vẻ gì đó phi thực đến khó ngờ. Mẹ đang vờ ngủ chăng?
Tôi chợt ghé sát mẹ, gọi khẽ.
“Mẹ ơi, dậy đi!”
Không có tiếng trả lời. Chỉ có một làn hơi mỏng âm ấm phà nhẹ vào bên má tôi, không đủ làm rung một sợi tơ.
Đâu đó, chỉ còn vẳng lại tiếng hát khe khẽ. Không phải thứ âm đùng đục nông choèn từ lưng chừng cổ họng. Một giọng ngâm ngọt lịm vút lên, từ tận đâu đó sâu thẳm trong gió, trong biển, từ vùng cỏ lau.
Con chim ngoan của mẹ. Đi hái sim rừng xa. Túi đầy quả mọng. Đừng trêu con ong vò vẽ. Treo lủng lẳng trên cây. Đừng trọc con ong đất. Ngụy trang trong ụ đầy. Chúng rình đốt con. Con chim ngoan của mẹ…
Còn biển thì chạy xa mãi. Xa tít tắp. Tận chân mây đằng kia.
Tháng 10- 11/ 2011
CAM TRÒN
Truyện ngắn của DU AN
Nàng học vừa đủ chữ. Da thịt, nắng gió sương, vừa đủ câu chuyện. Nàng ngồi bên cửa sổ, mấy con chuột ngọt chân em bé. Chạy ra đằng trước. Đường nhựa trôi. Tiếng còi xe, ưỡn vòng cua.
Anh ta ngắm nàng. Đi bộ đến à? Không bị ngã xuống đây. Lúc nãy có một chiếc lăng cu zơ bật màu bùn. Say nắng. Đôi mắt nàng mở to hơn, cầu vồng đen trắng; điểm cong dấu chấm than ngang.
Tay chân dài sào không váy áo. Tay chân kìm cứng.
Tắc kè bỏ đi. Tiếng chẵn thua tiếng lẻ. Chạn, bát úp vào nhau khít khịt. Màu trắng khó thở. Ống, đũa sóng thở dài ngược lên bồ hóng. Vòi vọi, chóng mặt.
Câu chuyện giữa bụng và bàn tay. Đối thoại mấp máy. Ngày xưa mẹ em bán cam. Ngày xưa mẹ anh bắt cua. Bàn tay vồng lấy quả cam của quả cam. Bò ngang, chấm chấm là là. Ệp xuống hình khối. Vuông, chữ nhật; không, tròn, tim mới ở giữa. Con đường không nhìn thấy nhắm mắt lại. Hoa tay và rốn. Mồ hôi giếng tiên, kết quả phép cộng không còn hai số hạng. Đừng, phép trừ chứ, một số đầu bỏ đi rồi. Nàng học vừa đủ chữ. To tròn mọng đôi mắt, đôi môi.
Mẹ nàng bán cam, bà nàng bán cam, nàng không lấy cam thành phố. Anh biết rồi sao ba tháng mới về. Đâu, ngọt sắc hay thanh. Ngún nguẩy bên trái gặp môi, bên phải gặp má. Vực, đường, men vừa hai người chồng lên nhau. Không ai lăn xuống, bay những ngón tay đan lông mốt. Cuối dòng trong, xoáy. Cành củi có đàn kiến vỡ tổ bụi sim. Suối hứng. Lối mòn tự nhiên đi.
Mẹ nàng bán cam thành phố, thành phố bán cam miền xuôi. Cam miền xuôi ở quê cam núi. Bỏ ba mươi năm, cây cuối cùng chết tròng giữa nương ngô. Ngô xanh, ngô vàng về gác bếp. Cam đứng canh đất, chân mục, tay rụng. Rìa nương những đường thẳng, sóng xoài xác cây khô. Mấy hôm nữa một mồi lửa. Nhắm mắt lại, lè lưỡi phụt phụt khói, khói vào mồm ra mắt hay vào mắt ở đấy.
Mẹ nàng cong chữ C, nàng học vừa đủ chữ thôi. Bung cam hai, trưa chưa vơi. Nắng không kiên trì hơn được nữa. Vàng sộm cho rồi. Vàng tươi dốc ngược ống. Vàng gì vàng gì… nữa đi.
Mẹ nàng vẫn bán cam. Quả ủng con gái ở nhà. Quả quắt ngâm suối, phồng phồng bợt bạt. Mẹ nàng ngồi gốc muỗm, ngoan. Không thể nói: Một người ăn hai người vui, ăn vào hư như con ngựa. Ăn cam thì ngoan, cánh rừng nghiêng bóng cơ mà. Ăn cam thì vui, váy áo vẫy đâu mà khói xăng chậm lại kia mà.
Chẳng ai mua cam, mẹ mang về các nhà gạ lấy ngô non. Cùng màu vàng với nhau, giúp đỡ, chia sẻ. Ăn ngô no, muốn lên rừng, vác cây gỗ về. Ăn cam ngọt muốn ngủ. Giường thì gần mà rừng thì xa.
Người ta lại mang cam đến, bảo: Chỉ gốc muỗm này, bên kia rừng ban thì mới ngọt. Lìa cành rồi vẫn ngọt. Phà ơi nói hay đi, ở lại nói con gà con lợn thôi.
Chẳng nói con gì. Mẹ chỉ cười thôi. Bao nhiêu người chọn không được. Tròn tròn vàng vàng lên cao hạ xuống, tay trái sang tay phải, vần vò. Làm cam cho người ta xoa. Người ta không mang về nhà.
Nàng bán cam. Không, nàng đứng nghiêng cúi. Cúc bạc căng muốn đẩy nàng lên. Người ta hỏi kìa. Tên là gì? Tên là Sa. Má hồng tiếng Thái gọi là gì? Là cái tay bỏ ra đi. Ô bán cam không cho sờ cam à. Buồn cười quá. Mua một quả nhé. Được, một bằng một trăm.
Nàng biết vừa đủ chữ.
Anh lấy hai bung cam. Xin lên nhà, nghỉ. Nàng gánh hộ cam mình, cam người ta. Cầu thang chín bậc mây. Tóc thơm không phải bồ kết, bưởi. Dẫn đường.
Mẹ ngồi với chõ xôi. Dài đứng. Thơm ba chiều. Tằng cẩu in vệt đen sang nàng.
Khung cửi mạng nhện. Quờ tay dinh dính. Đen sang vàng mắng, hai con.
Ba giọt nước chị em. Áo phông, quần đùi bò, đo chân nhau. Nắng chấm điểm: Dài 7, trắng 2, cảm giác 3. Nàng 9 điểm, anh chấm bao giờ mang về.
Nhiều người bản đến uống rượu. Rượu phố, thịt phố oang oang au hảnh nớ. Cam anh về cam nàng. Vàng nuột mười ngón tay. Say nữa. Say nữa.
Đo chân, xoa bụng, tìm mùi cam. Mẹ thở đều đều.
Bẹp quả cam. Sáng từ lúc nào.
* * *
Anh làm cây cầu bằng nàng buổi trưa, buổi tối.
Hai em nàng học vừa đủ chữ ra phố bán hàng.
Mẹ lên lấy củi cam. Cây đổ xuống nương, người ta thích củi núi đá.
Quen hơi bén. Cây cầu xong một trụ. Nàng nôn. Mùi sắt, bê tông. Anh đi tắm, nàng vẫn nôn. Anh làm con cá nướng xa. Bếp, khói anh lên xà nhà. Quẩn trước mặt.
Trụ thứ hai xong. Nàng khoanh tay đứng sàn ngoài. Những chiếc xe từ rừng vẫn ra. Chở cả nắng, mây. Màu hi vọng, màu tình yêu? Nàng biết vừa đủ chữ.
Trụ thứ ba, thứ tư, hết. Anh không nói gì. Vẫn biết. Nàng hỏi có cho cả con đi mừng không. Đừng.
Nàng vẫn đi. Dòng người đẩy. Thoáng anh, tiếng hoàn thành bao khó khăn vượt qua. Loa lấy anh, nhại anh, vách không đồng ý.
Anh không về nữa. Cây cầu khác, xa lắm. Mảnh giấy ba chữ: Yêu. Hôn. Hẹn gặp?
* * *
Li hôn sao mà đắt thế.
Anh tên là Hà. Quê Thái Bình, có con sông to bằng trăm con suối. Cây cầu to dài như chiếu trên tivi.
Ông khách hứa tìm. Chắc anh ấy chưa xong cây cầu.
Nàng dứt khoát đòi trả tiền thừa. Sự giằng co rung rung. Đứa bé mắt tròn. Mẹ có bố về, mẹ nhớ xong thì mai không khóc nữa.
Xe đi. Áo phông, váy vệt mũi dãi. Vẫy đi. Bố sẽ về.
Ông khách về kể chuyện cho cả phố. Thở dài miền gái đẹp. Nhiều cô mặc áo phông, váy xẻ. Lí luận. Nhẹ dạ. Hồn nhiên. Ông cãi hộ: Nàng biết vừa đủ chữ.
Gốc muỗm ngày xưa. Cam đổi tên là kẹo lạc, nước lon, rượu săm. Rào tre sau, trái, phải. Đôi mắt; lên mái gianh đếm được hai mươi phên, ra đường đếm được hai xe ca, chín xe tải, ba mươi xe máy. Bàn tay xếp lại hộp, gói. Đôi chân cày đường đất bột...
Anh ấy chưa về. Không ai ngắm cây cầu. Có cầu người ta xé gió. Quán như lá chuối tướp tơ.
Ngày lại ngày. Gặt mùa, cơm mới, tết. Không bán nữa. Hỏi làm sao. Tượng trả lời, đôi mắt gỗ. Xa xa.
Tại sao em cho anh? Không nhận... thì nhận vật kỉ niệm. NOKIA đen trắng. Nàng đầu tiên ở bản có di động. Những con số, xếp ngang dọc, phím xanh đỏ. Anh ấy dạy mấy lần vẫn quên. Nàng biết vừa đủ chữ.
Nàng đã biết nghe. Chiều nay anh qua, 9 giờ tối. Sao lại thế? Anh đến là ăn cơm, uống rượu. 9 giờ tối, chỉ có ngủ. Ừ, vợ chồng mà.
Mẹ vui hơn nàng. Gói quà hai túi. Lời mật ong lễ phép.
Anh làm cầu nữa xong rồi à? Không anh chỉ đến nghe chuyện của em. Anh tên là Hà không? Không, anh là một chiều mưa. Là bạn của tha hương. Khó hiểu quá. Nàng biết vừa đủ chữ.
Anh tha hương. Anh hoài hương. Anh kỉ niệm... Nàng là gì? Gió núi không đi đường cầu thang. Hương chàm chui qua cửa sổ. Mùi bia, rượu ngoại nàng không uống cũng tự tìm đường vào. Nàng nghọeo cổ. Buồn nôn. Không phải của anh Hà. Nôn anh Hà ra bé Là. Sao không vùng chạy. Chả biết nữa, hình như giống anh, đôi tay như cái kìm.
Nàng có tên ở thành phố. Lúc 9 giờ tối. Nhiều người làm văn tả... Hoang dã, thật hạt vô cùng. Đưa lên đỉnh núi, đám mây; đưa xuống tận cùng con suối... Nàng không biết nói hay. Nàng cũng không biết làm như thế. Nàng chỉ tìm anh Hà thôi. Chẳng ai biết điều này.
Thành phố đến nàng vào ban đêm. Ngôi nhà sàn rung những bước chân khổng lồ. Nghiêng xuống suối, thèm vào dìm kẻ không biết bơi. Nghiêng sang cây muỗm, đâu có lá xanh. Những chiều thẳng đứng, đôi mắt lên, dò tìm. Không phải, múi chảy xệ. Anh Hà như cây nghiến kia mà.
Nàng không đồng ý, nhiều đứa em muốn tìm hộ nàng. Nhiều chữ mới tìm được tình yêu.
* * *
Nàng ra phố. Học nữa.
Người phố vẫn về bản. Mẹ bảo chỗ nàng ở, mẹ nhắn nàng. Người phố vẫn về bản.
Nàng nói nàng có con. Không tin.
Nàng nói nàng có chồng. Đôi mắt trong veo.
Nàng mua bảy quả cam. Có người bảo cam chỉ đi thăm người ốm.
Nàng tặng cam, người kia trả công bài toán. Hệ phương trình hai ẩn số: X nàng cho rất nhiều người, mà chỉ thấy mỗi anh Hà. Y anh Hà người tốt, tại sao chỗ nào cũng bắc cầu.
Cam được lấy ra, từng quả, từng quả. Chạy vòng tròn. Ấm chén gạt về một góc. Giả sử. Ví dụ. Nàng ù tai. Người kia chưa từng làm thầy giáo.
Nàng thuê một căn phòng gần quán cà phê. Có mặt trời mới ở nhà. Sao không tiền một nửa. Bà chủ xòe tay xin chìa khóa. Nàng không hiểu. Nàng mới học vừa đủ chữ.
Quán. Nhiều lán lợp gianh. Phố nghèo. Người giàu. Tờ một trăm cạ cạ ngực.
Khuya. Không ngủ. Chân to nặng. Hỏi có phải anh Hà. Hềnh hệch: Hà, Tuấn, Minh, Thanh đều là anh.
Mặt trời. Đứa bé lau tay đầy đường mỡ bánh rán vào áo mẹ. Đúng chỗ hai người hôn nhau trên ngực áo phông.
Nàng mở mắt. Ôm con. Kéo tay nó hay nó kéo nàng dậy. Không được. Chợt nhớ lao động. Mọi việc đều là lao động. Bà chủ vẫn thường bảo thế.
* * *
Nàng ở đồn công an. Anh ấy trẻ, ngực áo có chữ Nguyễn Ngọc Hà. Nàng yên tâm. Hỏi…. Đáp. Không cúi mặt. Đôi mắt mềm đi.
Nàng phải về bản, qua ủy ban xã, giấy đi trước bảo nàng về. Cái quán bây giờ là màu vàng. Đất, đất. Tung lên. Người ta mở đường. Cầu to trước, đường to sau.
Cây muỗm chưa hạ. Công trường lấy chỗ nghỉ tạm.
Nàng và con ngồi bên gốc muỗm. Họ đang bóc cam ăn. Toàn người trẻ. Cam từ thành phố mang lên. Một người mời, nàng nhận đưa con.
* * *
Người phố hỏi nhau. Lan Anh đâu. Bà chủ mất công những cốc nước chờ. Quán cố 23 giờ đóng cửa. Kiểm kê được có sáu mươi cốc cam đá.
Người bản không hỏi. Bảo: Sa ơi đi nương.
Phát, đốt, dọn, cuốc, tra. Tròn. Nàng văng ra khỏi vòng tròn. Không được.
Nàng học vừa đủ chữ. Nàng về bản.
CÁ NHỎ NGƯỢC DÒNG...
Truyện ngắn của Vũ Thị Huyền Trang
Thằng Cá nhỏ của mẹ mới ngày nào còn lẵng nhẵng chạy theo mẹ ra bờ sông cất vó tôm, thế mà giờ đã lớn lắm rồi. Mẹ ngồi nhà nhiều lúc không tưởng tượng nổi khuân mặt của con giờ ra sao, không biết cái cục thịt thừa trên trán con có lớn hơn không. Mẹ cứ thắc thẩm mãi nếu mà nó to ra thì tội con trai mẹ bởi không biết có đứa con gái nào nó chịu thương không. Mấy lần con điện về, mẹ cứ định hỏi lại sợ con buồn nên thôi, mẹ cứ tự trách mình sao sinh con ra đã vậy. Trong lúc mẹ ngồi ngóng ra sông và nghĩ ngợi về cục thịt thừa trên mặt con, thì thằng Cá nhỏ của mẹ đang lang thang ở trời tây. Con đi mười năm rồi chưa về thăm mẹ, chỉ thi thoảng gởi chút tiền và bưu phẩm linh tinh cùng vài cuộc điện thoại bất chợt trong những cuộc hành trình rong ruổi đi tìm cái mới của con. Cái cục thịt thừa con cũng đi phẫu thuật cắt phăng lâu rồi mà mẹ cứ hoài thắc thẩm.
Nhà mẹ gần sông nên khi sinh con ra mẹ thường gọi con là Cá nhỏ để lớn lên con mẹ bơi theo sông ra biển lớn. Đời mẹ nhọc nhằn nhiều rồi chỉ mong chắt chiu cho con những thương yêu như bãi bồi phù sa sông Hồng chắt chiu qua bao năm tháng để làm nên những mùa màng trù phú. Mỗi lần nhìn con ngóng qua bên kia sông, mẹ lại mong con mau trưởng thành bởi còn có những chân trời, những vùng đất mới đang chờ con khám phá.
Thế là năm hai mươi tuổi, sau khi xuống thành phố học Đại học được hai năm, Cá nhỏ kiếm được suất học bổng toàn phần đi du học bên Pháp. Với mẹ nơi đó là đại dương, mà đại dương thì mênh mông thường chẳng thấy bến bờ. Lúc con bé mẹ mong con đủ cứng cáp bay xa nhưng những tháng năm vắng xa con vời vợi, mẹ lại chiều chiều ngóng ra sông chờ Cá nhỏ về bên vòng tay mẹ. Nhưng thường thì mấy khi loài cá lại lội ngược dòng về sông nhỏ quê nhà để ngồi trong sắc thẫm hoàng hôn buồn hắt hiu như mẹ bây giờ. Mẹ biết vậy nên mẹ có bao giờ trách Cá nhỏ đâu…
Thi thoảng Cá nhỏ lại điện về nói con đang ở thành Rome cổ kính, mẹ có biết chỗ này không? À! Chắc mẹ không biết đâu, nơi đây có đấu trường Coloseum do Hoàng đế Vespsia xây dựng cách đây gần 2000 năm, nó có sức chứa năm vạn người. Tuyệt quá đúng không mẹ? Ở đầu dây bên kia mẹ vừa nghe vừa gật đầu nói “Ừ! Tuyệt thật! Tuyệt thật”.
Lúc khác Cá nhỏ lại điện về bảo:
- Con đang ở xứ sở của cối xay gió, đố mẹ biết là nơi nào?
Ở đầu dây bên kia mẹ à lên một tiếng rõ to:
- Đôn-ki-hô-te đánh nhau với cối xay gió phải không?
- Ồ! Sao mẹ giỏi vậy?
- Câu chuyện này chẳng phải con rất thích hay sao? Trong sách giáo khoa lớp 8, con thường đọc vanh vách mỗi buổi tối nằm trên chõng tre hóng gió. Hồi ấy mẹ bảo không có cái cối xay gió nào thật trên đời nhưng con thì cứ quả quyết là có. Con còn nói sau này lớn lên con sẽ đi tìm cối xay gió cho mẹ xem. Giờ được nhìn thấy cối xay gió rồi có thấy đẹp không con?
- Tuyệt lắm mẹ ạ. Con đang đứng trong làng Kinderdijk - làng cối xay gió mẹ ạ. Ở đây cỏ xanh, gió mát lắm mẹ ạ. Con rất muốn mang cối xay gió về cho mẹ nhưng chúng to lớn và mạnh quá, làm thế nào để con có thể đút chúng vào túi quần để mang về hả mẹ?
Con cười, mẹ cười, ngả nghiêng cả miền thương nhớ. Lúc con cúp máy rồi mẹ cứ thắc thẩm mãi, tưởng gì chứ cỏ xanh và gió mát thì quê mẹ thiếu gì, sao phải đi đến tận đẩu đâu. Mẹ lại nhìn ra sông, nhớ cái hồi Cá nhỏ suýt nữa thì chết đuối chỉ vì muốn bơi qua bên kia bờ sông, xem bên ấy có những gì. Đến lúc Cá nhỏ lớn lên, học bơi thạo, mỗi lần qua sông dễ ợt, bơi mươi phút là sang. Có lần mẹ hỏi bên sông có gì mà khiến con thích thú vậy? Cá nhỏ bảo bên ấy có cát, có cánh đồng ngô, có nhà. Mẹ lại hỏi còn có gì khác nữa không? Gãi đầu gãi tai một lúc, con hồn nhiên bảo bên ấy có người. Mẹ phì cười bảo những thứ đó bên này cũng có sao cứ phải lao ra giữa dòng chảy nguy hiểm để kiếm tìm…
Lần nữa, Cá nhỏ điện về cho mẹ nói con đang ở sông Volga này mẹ, đây là con sông dài nhất Châu Âu, nằm ở miền tây nước Nga đó. Mẹ định hỏi xem sông có đẹp không nhưng lại thôi vì sông nào mà chẳng có đôi bờ, nước trôi lững lỡ ngày yên ả và cuốn xiết khi mưa bão đến. Sông quê mẹ cũng thế thôi…
Bữa nọ mẹ xem thời sự, thấy thông tin về vụ chìm tàu du lịch trên sông Volga khi đang chở 185 người đi tham quan. Mẹ lập cập gọi điện cho con, chuông tút hoài mà không thấy con nghe, mẹ đã không thể bình tĩnh nổi nên bật khóc. Con bước từ phòng tắm ra, thấy cuộc gọi nhỡ từ số máy bàn nhà mẹ. Con gọi lại, mẹ hỏi con có sao không? Có đang ở Volga không? Con ngớ người một lúc thì hiểu ra liền bật cười bảo mẹ lẩm cẩm rồi, con ở Volga từ hai tuần trước cơ mà. Bây giờ con đã quay về Pháp. Mẹ lại ra trụ đá ngồi, buồn vui bộn bề, hoang hoải…
* * *
Cá nhỏ ra đại dương đã được mười năm. Bỗng một hôm mưa gió tự nhiên thấy nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ bên sông quê quay quắt nên cả đêm bồn chồn không làm sao ngủ được. Sáng hôm sau Cá nhỏ quyết định thu xếp công việc trở về quê một chuyến. Nhưng để tạo bất ngờ cho mẹ nên Cá nhỏ không điện trước. Mười năm quê đổi thay nhiều, Cá nhỏ hỏi về bến sông làng mẹ người ta chỉ tay về phía cây cầu. À! Hóa ra là cây cầu trong câu chuyện mẹ kể qua điện thoại vào một hôm nào đấy. Cá nhỏ không ngờ bến đò năm xưa giờ thay bằng cây cầu to đẹp đến vậy. Thế mà khi nghe mẹ hồ hởi kể về nó bằng tất cả niềm vui sướng thì Cá nhỏ đã cắt ngang lời mẹ bằng câu chuyện về cây cầu Skywalk Grand Canyon được làm bằng kính tại bang Nevada của Mỹ mà con đã từng được đến. Lúc ấy con đã không cần biết rằng người dân quê đã không phải vất vả đợi đò sớm khuya trong mưa gió vì đã có một cây cầu. Con cũng không cần biết rằng cây cầu quê hương tuy rất nhỏ bé so với những cây cầu mà con từng bước chân qua nhưng nó là niềm mơ ước, là khát vọng bao đời của người dân quê lam lũ. Của những đứa trẻ như Cá nhỏ mấy mươi năm trước luôn khao khát được sang bờ bên kia, được biết bên ấy có những gì.
Cá nhỏ đứng lớ xớ trên cầu, ngó nghiêng tìm mái nhà của mẹ lúc này mới chợt giật mình, cảnh hai bên bờ sông sao tiêu điều giống vừa trải qua một cơn ngập lũ. Bãi mía đổ dập, vài ngọn mía như còn cố ngóc lên từ đất cát, vài ngôi nhà xây tường còn loang lổ vết bùn. Giữa sông còn trôi lều phều vài thanh tre lứa, vài tàu lá cọ. Bỗng nhiên như có một dòng điện mạnh chạy dọc sống lưng, Cá nhỏ đứng đó, rút điện thoại gọi vào số máy của mẹ, định trêu mẹ chút xíu cho mẹ vui. Nếu mẹ nhấc máy, thể nào mẹ cũng hỏi “Cá nhỏ đang ở đâu vậy?”, lần này con sẽ trả lời “Cá nhỏ đang đứng trên cây cầu quê mẹ”. Chắc là mẹ sẽ mừng vui lắm. Thế nhưng số máy của mẹ đã không thể liên lạc được, giọng nói vô hồn của tổng đài vang lên khiến con lạnh buốt người. Mẹ thường chẳng bao giờ tắt máy vì mẹ từng bảo rất sợ lúc cần đến mẹ con lại chẳng thể liên lạc được. Nên điện thoại không dây mẹ ra vườn cũng mang theo, mẹ đi ngủ cũng cũng để máy ngay đầu giường và pin thì luôn được sạc đầy. Vậy bây giờ mẹ ở đâu? Mẹ đang làm gì mà lại khóa máy, mà không thể nhận cuộc gọi từ con? Cá nhỏ vội vã chạy về phía những người dân đang bới tìm trong đống bùn đất ngập đến bắp chân để hỏi thăm nhà mẹ. Người dân nơi đây nhận ra cái thằng cao to, ăn mặc sang trọng, tay xách vali kia chính là thằng Cá nhỏ lem luốc bị cha bỏ lại từ tấm bé. Người làng nhìn cảnh bùn đất bốn phía, sông nước mênh mang mà rưng rưng bảo:
-Sao về muộn vậy? Hôm đưa mẹ cháu ra đồng không có tiếng hờ khóc của cháu con. Lạnh lắm! Điện thoại nhà cháu lũ cuốn rồi, chẳng ai biết đường nào mà liên lạc với cháu. Thôi thì, cũng còn may biết tìm thấy đường về.
Cá nhỏ như chết đứng giữa làng quê sau mười năm xa cách trở về. Người làng bảo mẹ bị trúng gió nằm liệt giường cả tháng, khi đó chắc con đang ở sông Volga. Ngày mưa bão đến, nhà tranh vách đất lùa lùa bốn bên, bão quật đổ, sông nước dâng lên vùi mẹ chìm trong biển nước. Lúc đó con đang ở đâu? Cá nhỏ của mẹ, đứa con mà mẹ mang nặng đẻ đau, mẹ thương yêu hơn chính bản thân mình đã ở đâu và làm gì vào giây phút ấy? Cái giây phút mẹ ốm nằm liệt giường, thấy nước sông dâng lên dần dần mà không làm cách nào chạy thoát. Mà không có một bàn tay nào đỡ mẹ dậy, không có ai ở bên cạnh mẹ lúc hoảng sợ nhất. Chắc hẳn lúc ấy mẹ đã rất cô đơn? Mẹ đã gọi tên Cá nhỏ nhiều lần, thậm chí đã cầu nguyện cho con hạnh phúc. Lúc ấy Cá nhỏ của mẹ đang ở giữa đại dương. Mà đại dương thì vốn mênh mông và xa xôi khó tìm thấy bến bờ…
Người làng chỉ về phía trụ đá, mẹ nằm lại ở đó. Sau bao nhiêu tháng năm, bao nhiêu thăng trầm, bao mùa bão lũ, ngay cả mái nhà của mẹ lũ cũng đã cuốn đi, chỉ cái trụ đá bên lối mòn dẫn vào nhà mẹ là vẫn còn. Trụ đá mẹ nhờ người khênh từ trên núi xuống rồi dựng lên vào ngày cha ra đi, bỏ lại hai mẹ con chênh vênh mái lá. Đã có lần Cá nhỏ hỏi mẹ:
- Mẹ dựng trụ đá làm gì hả mẹ?
- Để người đi còn biết đường tìm về. Ở cõi đời cả người chết và người sống cần có một bến bờ, một lối quen, một điểm trụ để đi đâu cũng nhớ.
-Mẹ đang chờ cha con sao?
Đó là lần đầu tiên mẹ không trả lời câu hỏi của con. Mắt mẹ nhìn xa xăm, vời vợi một ánh buồn khó tả. Khi đó Cá nhỏ 16 tuổi mà trong buổi hoàng hôn ấy, Cá nhỏ nhìn thấy lẫn trong búi tóc đen của mẹ lẫn vài sợi trắng. 18 tuổi con đi, quên câu hỏi hôm nào mẹ bỏ ngỏ nơi trụ đá bến sông, mười năm sau trở về không còn mẹ trên đời, con mới chợt hiểu ra… Chắc biết con vô tâm nên trụ đá còn đứng đó để dẫn lỗi Cá nhỏ về bên bến sông quê của mẹ. Người làng bảo, cũng vì không muốn xa dời trụ đá và những kỉ niệm năm xưa nên dù năm nào cũng có một mùa lũ đi qua, dù xã đã nhiều lần giục di dời nhà cửa lên khu an toàn hơn nhưng mẹ vẫn nhất quyết không chịu đi. Con ngồi đó lặng câm, thấy những tháng ngày đã qua, nhưng nơi từng đến đều trở nên vô nghĩa…
Con đi mười năm giờ trở về chợt nhận ra sông quê mẹ hoàng hôn còn đẹp hơn sông Volga, khu vườn rộng mênh mông của mẹ cỏ còn xanh, gió còn mát hơn ngôi làng Kinderdijk con từng đến. Con bây giờ không còn thiết tha ngồi ngóng về phía bờ bên kia chỉ để thắc mắc xem bên đó có những gì. Con đi mười năm, về ra thăm trụ đá, sờ tay thấy vết lõm sâu hơn. Người làng bảo chiều nào mẹ cũng ra sông ngóng theo dòng chảy. Trụ đá này hơn hai mươi năm về trước Cá nhỏ vẫn thường ngồi ngóng mẹ thả lưới, giăng câu…
TIẾNG ĐÀN ĐÊM XUÂN KỶ DẬU
Truyện ngắn của HOÀNG TÙNG
Một cung gió thảm mưa sầu
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay
Truyện Kiều – Nguyễn Du
Đêm mồng ba, rạng sáng mồng bốn tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), Quang Trung Hoàng đế dẫn đại quân tiến đánh vào đồn Ngọc Hồi, công phá Thăng Long, đánh đuổi giặc Mãn Thanh.
Tương truyền rằng đêm hôm đó, giữa vùng binh lửa, quân Tây Sơn và quân Thanh đều nghe thấy tiếng đàn lạ lùng từ đâu vẳng tới.
Đêm hôm đó, một đại thi hào đất Việt đã nghe thấy tiếng đàn. Sau này, ông tả lại trong tác phẩm bất hủ của mình: “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.”…
Có người nói, đó là tiếng đàn của thần tiên.
Có người nói, đó là tiếng đàn của ma quỷ.
Sự thực không phải như vậy.
Đây là câu chuyện về tiếng đàn kỳ lạ đêm xuân năm Kỷ Dậu…
1. Chiếc xe ngựa lầm lũi trong ngày đầu xuân lần lần rời khỏi thành Thăng Long.
Chưa bao giờ kinh đô Đại Việt lại đón Tết trong một khung cảnh tiêu điều đến vậy.
Chỉ trong vòng mười năm mà Thăng Long đã chịu biết bao nhiêu là biến động.
Tây Sơn tiến quân ra Bắc. Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh không chống lại được, bị quân Tây Sơn bắt giết. Vua Lê Chiêu Thống sợ hãi trốn sang Trung Quốc, cầu viện nhà Thanh mong chiếm lại ngai vàng.
Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị cùng hai mươi chín vạn quân Thanh tiến vào Đại Việt. Các tướng Tây Sơn không chống cự, rút lui khỏi Thăng Long, đóng binh cố thủ ở Tam Điệp.
Tôn Sĩ Nghị dẫn quân thẳng tiến một mạch vào kinh thành, không gặp chút chống cự đáng kể nào. Họ Tôn hung hăng tự đắc, cho rằng đám giặc Tây Sơn khiếp sợ Thiên triều. Tôn Sĩ Nghị cho đóng quân tại Thăng Long. Các tướng thoải mái ăn chơi hưởng lạc. Quân sĩ thả sức cướp bóc người dân.
Vua Lê Chiêu Thống e sợ sau này chúa Trịnh sẽ lại trở thành quyền thần mới sai đốt phá phủ Chúa. Phủ điện cháy rừng rực mấy tuần mới hết. Người dân ai nấy đều tiếc cho một công trình kỳ vĩ của đất Thăng Long giờ chỉ còn là đống tro tàn.
Hàng ngày, vua Lê Chiêu Thống đến trước doanh trại của Tôn Sĩ Nghị, cầu mong họ Tôn đem quân tiến đánh quân Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị vốn khinh địch, trấn an nhà vua để quân sĩ nghỉ Tết xong xuôi rồi sẽ một trận sấm sét dẹp tan ba anh em nhà họ Nguyễn. Mấy lần sau, vua Lê Chiêu Thống cố xin gặp mong giục họ Tôn tiến quân. Tôn Sĩ Nghị cáo bận không tiếp. Vua Lê cùng đám tùy tá lủi thủi ra về. Người dân nhìn cảnh tượng đó mà ngao ngán.
Từ khi có đế có vương, chưa bao giờ Đại Việt lại có một vị vua hèn nhụt như thế.
Quân Thanh dựa thế Tôn Sĩ Nghị, ngày càng hống hách ngạo ngược.
Vua Lê Chiêu Thống biết nhưng e sợ Thiên triều, không dám ho he.
Riêng với những phe cánh trong nước, nhà vua thẳng tay trừng trị. Những kẻ theo chúa Trịnh, theo Tây Sơn đều bị lùng bắt gắt gao.
Không ngày nào không có người rơi đầu giữa chợ.
Không lúc nào không thấy tiếng khóc than oán thán.
Lòng người tao tác. Phố xá im ắng.
Chưa bao giờ Thăng Long lại đón Tết trong một khung cảnh tiêu điều đến vậy.
2. Chiếc xe ngựa lọc cọc đi qua phủ chúa. Phủ đệ giờ đổ nát tan hoang. Nền cũ lâu đài nhộm vàng trong ánh tịch dương hoang liêu cô quạnh.
Ông lão đánh xe quay lại nói với nàng kỹ nữ: “Ngày xưa hẳn cô đã phải vào trong phủ chúa nhiều lần rồi nhỉ?”
Kỹ nữ ôm cây Nguyễn cầm vào lòng, lặng lẽ gật đầu.
Nàng vốn từng là đệ nhất kỹ nữ chốn kinh thành. Trường Xuân Viện có nàng như có một bảo vật. Có nàng, chưa lúc nào Trường Xuân Viện ngừng tiếng sênh tiếng phách. Có nàng, chưa lúc nào Trường Xuân Viện không nhộn nhịp tao nhân mặc khách lại qua. Ai cũng muốn đến nghe tiếng đàn diễm tuyệt của nàng.
Kỹ nữ vốn sinh ra trong kỹ viện. Nàng học nghệ từ nhỏ, từng luyện đàn đến mức máu chảy mười đầu ngón tay. Đến khi thành tài, tiếng đàn trở thành tiếng lòng. Khi vui, tiếng đàn như có tiếng chim hót. Khi buồn, tiếng đàn ngân như tiếng khóc.
Thủa đó, mỗi khi phủ chúa mở tiệc là kỹ nữ lại được mời vào trong phủ đánh đàn mua vui. Phủ chúa uy nga mỹ lệ ngay bên hồ Tả Vọng. Mỗi khi yến tiệc, đèn nến lung linh tưởng như chốn Bồng Lai tiên cảnh. Đồ ăn thức uống bạt ngàn. Bồ đào mỹ tửu ngập tràn trong tiếng đàn sênh sáo phách.
Chốn hoa lệ xưa, giờ đống đổ nát hoang tàn trong ráng chiều vàng vọt.
Trường Xuân Viện giờ cũng đã bị tàn phá tan hoang.
Kỹ nữ không còn nơi nương náu. Nàng không biết đi đâu. Chỉ muốn rời xa chốn kinh thành u ám.
3. Viên gia nô ngồi im trong một góc xe, kín đáo liếc nhìn kỹ nữ. Y hóa trang ăn mặc như một người nông dân. Kỹ nữ có thể không nhớ y nhưng y biết nàng khá rõ. Gia nô từng là cận vệ thân tín của chúa Trịnh. Ngày xưa mỗi lần kỹ nữ vào phủ chúa đánh đàn, y lại say mê trong tiếng đàn kỳ tuyệt của nàng. Y từng ao ước được một lần được người đẹp đàn riêng cho mình nghe. Nhưng phận tôi đòi, y biết đó chỉ là một giấc mơ xa vời.
Viên gia nô không ngờ ngày hôm nay y lại được ngồi bên cạnh người con gái mình hằng ngưỡng mộ.
Mọi thứ đều đã đổi thay.
Nền cũ lâu đài tan hoang đó chính là ngôi nhà xưa y từng nương náu.
Chốn xưa còn đó, nhưng giờ chẳng ai biết chúa Trịnh lưu lạc phương nào.
Chúa Trịnh Bồng bị quân Tây Sơn đuổi khỏi thành Thăng Long, trốn về vùng Kinh Bắc. Sau khi quân Tây Sơn rút đi, chúa Trịnh Bồng cùng đám người thân tín quay lại kinh thành, muốn khôi phục ngôi chúa. Vua Lê Chiêu Thống không đồng ý, cho mời tướng Nguyễn Hữu Chỉnh về đuổi chúa Trịnh. Chúa Trịnh Bồng thua cuộc chạy khỏi Thăng Long, lưu lạc chốn dân gian, không biết đi về đâu. Nghe nói ngài bỏ lên vùng cao sống đời ẩn dật. Lại có tin đồn ngài cắt tóc đi tu. Có người thì bảo ngài đã chết trong đám loạn quân.
Viên gia nô đã cất công đi tìm tung tích của chúa Trịnh Bồng nhưng không thấy đâu. Trở về kinh thành Thăng Long, y bị cả quân Tây Sơn và lính nhà Lê truy lùng. Y phải cải trang thành một người nông dân, mong sớm trốn khỏi chốn kinh thành.
Nhưng khi đi qua chốn cũ, nhớ lại lầu các huy hoàng thủa nào, viên gia nô không khỏi rưng rưng nước mắt.
4. Chiếc xe đi dần xa khỏi phế tích phủ chúa. Ánh tịch dương như nhuộm vàng cả kinh thành. Chàng nho sinh nhìn cảnh hoang tàn, thở dài giọng cảm khái: “Chúa Trịnh có thể một thời là quyền thần, nhưng nhà vua xử sự thế này chẳng phải quá hẹp hòi hay sao?”
Ông lão đánh xe như bị điện giật, quay lại nhìn chàng nho sinh dài giọng: “Cậu ăn nói liều mạng nhỉ? Có định giữ cái đầu trên cổ không đấy?”
Nho sinh cười! Chàng đích thực là một kẻ liều mạng.
Chàng đã từng liều mạng với thần linh.
Hơn mười năm trước chàng lên kinh ứng thí. Đám nho sinh rủ nhau ngủ lại ở đền Trấn Vũ cầu báo mộng công danh. Đêm hôm đó, chàng mơ thấy thần nhân hiện về báo đến năm ba mươi tuổi chàng sẽ đỗ Tiến sĩ, bốn mươi tuổi sẽ làm đến chức Thượng thư. Sáng dậy, chàng kể lại giấc mơ cho bạn bè nghe. Bạn bè ai nấy đều chúc mừng vì tương lai chàng thật sán lạn, sau này trở thành trọng thần của triều đình. Riêng chàng suy nghĩ. Bây giờ mới tuổi đôi mươi. Chờ đến tận mười năm nữa mới đỗ đạt làm quan, e rằng chẳng còn bao nhiêu thời gian để mà trổ tài kinh bang tế thế. Nghĩ vậy, chàng liền viết lên tường: “Trí chứa giáp binh. Bụng đầy kinh sử. Nhị thập Tiến sĩ. Tam thập Thượng thư?” Đám bạn bè đều chê chàng kiêu ngạo. Nhưng quả nhiên năm đó chàng thi đỗ Tiến sĩ khi mới tròn hai mươi tuổi.
Liều với thần linh, chàng đã thắng!
Chàng đã từng liều với chúa Trịnh.
Bạn bè cùng lứa đỗ Tiến sĩ đều biết triều đình tuy có vua họ Lê nhưng thực quyền đều nằm trong tay chúa Trịnh. Sau buổi lễ xướng danh gặp mặt nhà vua, ai nấy đều tìm đến phủ chúa ra mắt. Điều này đã thành lệ từ hơn trăm năm. Riêng chàng nho sinh không chịu. Chàng nói danh chính ngôn thuận triều đình là của vua Lê, sao bậc nho sĩ lại bỏ qua điều quốc sỉ mà khúm núm trước chúa Trịnh? Chuyện đến tai chúa Trịnh. Chúa ghét lắm, chỉ cho chàng làm một chức thư lại nhỏ trong cung. Thế rồi chúa Trịnh bị diệt. Vua Lê nhớ chuyện xưa, thương chàng trung hậu, cất nhắc chàng lên chức Thượng thư. Năm đó chàng vừa tròn tuổi tam thập, vinh quy áo gấm về làng, ai nấy đều khấp khởi vui mừng.
Liều với chúa Trịnh, chàng đã thắng!
Lần này, chàng liều với quân Thanh.
Quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm dẫn ra Bắc dẹp loạn Nguyễn Hữu Chỉnh vào chiếm Thăng Long. Vũ Văn Nhậm vốn bản tính hiếu thắng, lại tỏ vẻ hung hăng. Vua Lê Chiêu Thống sợ quân Tây Sơn cướp ngôi, chạy sang cầu viện Trung Hoa. Chàng nho sinh can ngăn nhà vua hết lẽ. Chàng muốn nhà vua gặp trực tiếp Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, kể tội Vũ Văn Nhậm mà đòi lại ngôi báu. Vua Lê không nghe, quyết cầu viện nhà Thanh. Chàng nho sinh đi theo nhà vua lưu lạc sang tận Trung Quốc.
Nay ngôi báu đã trở về với nhà Lê. Các quan lại đi theo nhà vua qua bên kia biên giới cầu viện đều được phong thưởng hậu hĩnh. Buổi chầu hôm đó, viên tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống ngạo mạn, coi thường bá quan, ăn nói phạm thượng. Chàng nho sinh đứng ra mắng mỏ họ Sầm vì tội vô lễ khiến y không biết đối đáp lại ra sao. Sầm Nghi Đống tức lắm, thưa chuyện lại với Tôn Sĩ Nghị. Họ Tôn sai bắt chàng nho sinh giam ngục. Vua Lê không dám can thiệp. Sau đó, chàng bị nọc đánh 50 gậy, cắt bỏ mọi chức tước, đuổi về quê.
Liều với quân Thanh, chàng đã thua!
Ngày nào về quê võng giá nghênh ngang. Giờ đây chàng rời khỏi kinh thành trên một chiếc xe ngựa lọc cọc.
Chàng nho sinh không tiếc chức quan. Chàng chỉ tiếc rồi đây không khéo, giang sơn gấm vóc Đại Việt có khi lại sẽ rơi vào tay phương Bắc.
5. Chiếc xe ngựa lầm lũi đi về phía Nam thành Thăng Long. Trời đã dần về tối. Sương mù rơi bảng lảng. Đâu đó tiếng chim lợn kêu nghe não nùng.
Đến quán dịch đồn Ngọc Hồi, gã cai binh bắt dừng xe lại. Đóng quân giữ đồn Ngọc Hồi là tướng Phó tướng Hứa Thế Hanh. Đồn Ngọc Hồi là cửa ngõ phía Nam, là yết hầu dẫn vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị coi đây là cửa khẩu trọng yếu. Quân Thanh canh gác quanh đồn dày đặc, tầng tầng lớp lớp. Nhưng giờ đang tiết xuân, lại vừa mới qua ngày Tết Nguyên Đán. Xa quê. Nhớ nhà. Đám lính nhà Thanh uống rượu say túy lúy, hò hát tưng bừng, chen lẫn đâu đó là cả tiếng khóc tha hương...
Ông lão đánh xe xuống ngựa đưa chút tiền đút lót cho gã cai binh. Hắn nhìn món tiền rồi liếc lên xe. Trên xe có ba người, một ăn mặc như nông dân, một vóc dáng nho sinh và một cô gái nhan sắc xinh đẹp. Hắn xốc lại chiếc áo lính sắc phục nhà Thanh, cầm món tiền của ông lão đánh xe đút thẳng vào túi, mắt hau háu nhìn rồi vươn tay ra vuốt vuốt má cô gái. Kỹ nữ lập tức gạt tay hắn ra. Hắn cau mày: “Cô em này dễ là nội gián của đám quân Tây Sơn lắm”.
Ông lão đánh xe vội xun xoe: “Đại quan, cô gái này không phải là nội gián của quân Tây Sơn đâu. Cô ta là kỹ nữ nổi tiếng ở đất Thăng Long, ai ai cũng biết”.
Gã cai binh mắt hấp háy cười lớn, đưa tay xoa xoa cằm: “Ha ha, kỹ nữ à. Hứa tướng quân chắc hẳn sẽ phải tra hỏi cô em kỹ càng lắm đấy! Cô em thân gái một mình đi cùng hai gã đàn ông thế này, không xảy ra chuyện gian dâm mới là điều lạ!”
Chàng nho sinh thấy hành vi sàm sỡ của gã cai binh, tức khí mắng: “Kỹ nữ thì đã sao? Làm kỹ nữ còn hơn làm giặc cướp. Chúng bay là lính hay là giặc cướp? Chúng bay định bảo vệ người dân hay định hiếp đáp dân lành?”
Nàng kỹ nữ ngạc nhiên. Từ trước đến nay, chưa ai từng bênh vực nàng. Đám đàn ông xun xoe quanh nàng cốt chỉ để quan hệ thân xác. Đám đàn bà coi nàng như vật dơ bẩn. Chủ kỹ viện coi nàng như con chó, con mèo trong nhà. Vậy mà giờ đây lại có một người không quen biết đứng ra nói đỡ cho nàng.
Gã cai binh quắc mắt nhìn chàng nho sinh: “Thằng này chính là nội gián của quân Tây Sơn đây. Bọn bay đâu, gông cổ nó lại cho ta!”
Chàng nho sinh bị đám lính kéo ra khỏi xe lôi đi xềnh xệnh. Chàng tức khí chửi mắng đám lính không ngớt. Mấy tên lính ngoặt cánh khỷu chàng nho sinh lại dẫn đến trước mặt gã cai binh. Hắn giơ nắm đấm to như cái búa giáng thẳng vào mặt nho sinh. Chàng trai không chịu nổi cú đấm thôi sơn, gãy mấy cái răng, ộc máu ra khỏi miệng ngất lịm đi.
Gã cai binh câng câng nét mặt nhìn xung quanh. Đám quân sĩ hò reo ủng hộ. Viên gia nô trên xe và ông lão đánh xe lặng lẽ cúi đầu. Gã cai binh khoát tay bảo đám lính: “Đem thằng này vào giam giục, chờ ngày tiến quân đánh Tây Sơn, chém đầu nó tế cờ!”
Kỹ nữ vội quỳ xuống trước mặt gã cai binh: “Xin tướng quân tha tội cho chàng ta. Chàng ta chỉ là một nho sinh gàn dở, đâu cần tướng quân phải xuống tay sấm sét. Xin ngài nhón tay làm phúc!”
Gã cai binh cười khành khạch vuốt vuốt đôi má của cô kỹ nữ. Nàng cúi đầu nhịn nhục làm thinh không chút phản ứng. Hắn cười cợt, giả lả: “Mỹ nhân đã xuống nước cầu xin, lẽ nào ta lại từ chối”.
Kỹ nữ vội dập đầu tạ ơn. Gã cai binh kéo nàng lại gần rồi thì thầm, miệng hắn tỏa ra mùi xú uế thối hoắc: “Tướng quân Hứa Thế Hanh dẫn đại quân Thiên triều vào đây, ban ơn mưa móc cho người dân Đại Việt. Rồi ngài sẽ sớm muộn dẹp tan bọn thảo khấu Tây Sơn. Ta giới thiệu nàng cho tướng quân, nàng phải phục vụ ngài cho tốt. Tướng quân vừa lòng với nàng, ắt sau này sẽ nhớ đến công lao của ta”.
Nàng kỹ nữ chau mày tỏ vẻ không đồng ý. Gã cai binh thấy vậy liền gằn giọng, chỉ vào chàng nho sinh: “Hãy nhớ rằng mạng sống của gã toi cơm này hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ của nàng đấy! Nghe chửa!”
Nàng kỹ nữ im lặng cúi đầu, với tay lấy chiếc Nguyễn cầm. Gã cai binh cầm chiếc đàn ném ngược trở lại xe ngựa, cười khả ố: “Hứa tướng quân không thích nghe đàn! Cầm đàn vào làm gì”.
Kỹ nữ nhỏ bé lủi thủi đi cùng gã cai binh vào trướng soái. Ông lão đánh xe vội dìu chàng nho sinh lên xe, luôn miệng kêu khổ: “Đúng là cái loại người gàn gàn dở dở, đến chết cũng không đổi được bản chất”.
Rồi ông lão quay sang nhìn gia nô, giọng phân trần: “Cậu ta là đồng hương với tôi. Ngày nào về làng còn võng giá nghênh ngang. Thế mà cái miệng làm khổ cái thân. Từ quan to thành phó thường dân. Rồi giờ thì từ phó thường dân thành kẻ tàn phế. Thời buổi này mà ăn nói chẳng kiêng nể ai cả. Không biết giữ miệng rồi có ngày mất mạng chứ chẳng chơi!”
Viên gia nô không nói nửa câu. Y nhìn chàng nho sinh. Khuôn mặt anh tuấn của chàng giờ thâm tím. Mấy chiếc răng đã bị gãy rời khỏi hàm. Chàng nho sinh thở yếu ớt.
Bên trong trướng vang ra tiếng cười hô hố của gã tướng quân họ Hứa. Sau đó là tiếng vải xé roàng roạc. Rồi tiếng cô gái kêu thét đau đớn. Cả đám lính nhà Thanh quây quanh trướng soái, lắng nghe tiếng động cuồng loạn của cuộc truy hoan, kẻ thì hí hố bàn tán, kẻ thì cười ha ha khoái chí.
Riêng trên xe, ba người đàn ông Đại Việt ngồi im không nói một lời. Tiếng cô gái kêu khóc yếu ớt. Gã tướng Mãn Thanh rú lên động cỡn như chó sói. Mỗi lần có tiếng động là mỗi lần ba người cúi đầu xuống như bị ai tát vào mặt nổ đom đóm mắt.
Chàng nho sinh đau đớn gượng dậy thét lên bi phẫn: “Nhục!”
Ông lão đánh xe vội bịt mồng chàng nho sinh.
Trời dần rạng sáng.
Cuộc truy hoan đã chấm dứt.
Cô kỹ nữ quần áo xộc xệch từ trướng soái chạy thấp thoải ra xe ngựa. Từng hạt châu rơi lã chã. Chàng nho sinh và viên gia nô nghiêng người ra cho cô gái ngồi lên xe. Ai nấy im lặng. Chiếc xe lọc cọc chuyển bánh. Con đường heo hút dẫn đến ngọn đồi cao.
Bỗng gã cai binh cùng mấy tên lính đuổi theo, chặn xe lại. Hắn cười nham nhở: “Sao nàng lại bỏ đi vội vã thế. Mọi chuyện đã xong đâu?”
Kỹ nữ run rẩy trong giá rét sương đêm, tủi nhục cúi đầu: “Tôi đã chiều Hứa tướng quân theo lệnh của ngài rồi. Ngài không cho tôi đi, còn muốn gì nữa?”
Gã cai binh nuốt nước miếng ừng ực: “Nàng chiều Hứa tướng quân rồi, giờ đến lượt ta!”
Nói đoạn gã cai binh vươn tay lôi kỹ nữ xuống. Chàng nho sinh tức giận, lấy hết sức tàn kéo tay giữ cô gái lại. Gã cai binh dùng sức giật mạnh. Cả chàng nho sinh và cô gái bị lôi thốc ra khỏi chiếc xe ngựa. Hắn giơ chân đạp chàng nho sinh ngã dúi dụi. Rồi hắn rút kiếm, nhằm thẳng đầu chàng chém mạnh xuống. Cô kỹ nữ thét lên kinh sợ, lăn vội xuống ôm lấy chàng nho sinh cản lưỡi kiếm, nhắm mắt chờ chết.
Bỗng “Choang!”, thanh kiếm của gã cai binh đã bị một viên đá ném trúng. Kỹ nữ mở mắt ra nhìn. Thanh kiếm đã văng khỏi tay tên cai binh rơi xuống đất. Mặt hắn đang nửa đỏ nửa trắng, nửa giận giữ, nửa sợ hãi. Chính là viên gia nô đã ra tay. Viên đá được tung ra như ám khí, sức mạnh có thể đánh bật tung cả kiếm khỏi bàn tay đô vật của tên cai binh, chứng tỏ bản lĩnh của y không phải tầm thường.
Gã cai binh vội lùi lại. Mấy tên lính lập tức bao vây xung quanh. Đao kiếm tua tủa. Viên gia nô nhặt thanh kiếm lên, hoành kiếm ngang ngực, ánh mắt như có lửa cháy rừng rực. Đám lính khiếp hãi đứng bất động.
Gia nô giục ông lão đánh xe cùng cô gái dìu chàng nho sinh lên xe mà trốn đi. Gã cai binh thấy vậy, lập tức quát đám lính vung gươm xông vào. Gia nô vung kiếm chống trả. Ánh kiếm lấp lánh trong đêm xuân như hàng ngàn vì sao bạc rơi lả tả. Đám lính nhà Thanh tuy đông nhưng không thể nào xuyên qua được màn kiếm quang dày đặc kỳ ảo của y.
Ông lão đánh xe giục ngựa chuyển bánh. Gã cai binh thấy vậy vội chạy đuổi theo xe, tóm lấy chân kỹ nữ. Cô gái thét lên sợ hãi.
Bỗng ánh kiếm quang vung lên lóa mắt. Viên gia nô bằng một chiêu kiếm tuyệt kỹ đã ngoặt ngả người chém một nhát bay đầu tên cai binh. Nhưng cũng vì thế mà y sơ hở mặt trước. Đám lính nhà Thanh ồ lên chém mấy nhát vào đùi khiến gia nô quỵ xuống. Y hét lên giục ông lão đánh xe chạy cho nhanh. Xe ngựa lọc cọc chạy xa dần. Gia nô múa kiếm chặn hậu một cách tuyệt vọng. Đám lính Mãn Thanh quây xung quanh đâm chém tơi bời.
Bỗng từ phía đồn Ngọc Hồi có tiếng pháo lệnh nổ vang. Từ đâu bóng quân Tây Sơn như đội đất chui lên. Tiếng hò reo dậy đất. Lửa cháy bừng bừng. Quân Tây Sơn như một làn sóng ào đến tấn công đồn Ngọc Hồi.
Lúc đó là rạng sáng mồng bốn tết Kỷ Dậu…
6. Đám lính Mãn Thanh bỏ lại viên gia nô, vội vã quay lại phía đồn Ngọc Hồi đón đánh quân Tây Sơn. Hai bên lâm trận, khói lửa tơi bời.
Trên ngọn đồi đẫm cỏ hơi sương, viên gia nô đã bị chém trọng thương nằm rõng rượi trên nền nền đất ẩm. Máu của y đọng thành vũng đỏ thẫm bên những ngọn cỏ xanh mơn mởn. Y quay mặt nhìn về phía kinh thành Thăng Long, ánh mắt long lanh.
Chàng nho sinh và cô kỹ nữ vội nhảy khỏi xe đến quỳ bên viên gia nô. Nho sinh lấy bình rót chút rượu vào miệng y, giọng lắp bắp run rẩy: “Xin cảm ơn huynh đã cứu mạng!”
Viên gia nô lúc lắc đầu thở dài. Cô kỹ nữ ôm lấy y, miệng khóc thút thít. Viên gia nô ngửa đầu lên nhìn. Từ đôi mắt trong veo của cô gái là hai giọt lệ long lanh như hai ngôi sao từ trời cao rơi xuống.
Gia nô gắng gượng, giọng đứt quãng: “Cô nương hãy đàn cho tôi nghe một lần trước khi chết!”
Chàng nho sinh cầm lấy cây đàn Nguyễn mang xuống cho nàng kỹ nữ. Nàng cầm lấy cây đàn. Tay nàng run run.
Tiếng đàn run run như tiếng khóc…
Từ giữa vùng chiến địa, quyện giữa những tiếng binh đao đâm chém, tiếng hò hét gào thét, tiếng lửa cháy bừng bừng là tiếng Nguyễn cầm vang lên trong đêm xuân lịch sử.
Chưa bao giờ tiếng đàn của nàng kỹ nữ có thần đến thế!
Từ đồi cao, tiếng đàn mong manh như tiếng chim nhạn lạc bầy nhưng vẫn len lỏi lan tỏa lên cả một vùng đất mênh mông đang rừng rực lửa cháy. Khi thưa như tiếng gió thoảng ngoài, khi mau như tiếng mưa rơi sầm sập.
Đêm hôm đó, cả quân Tây Sơn lẫn quân Thanh ai nấy đều nghe thấy tiếng đàn. Lúc thì tiếng đàn như từ trời cao vẳng xuống, lúc thì như từ dưới đất chui lên. Tiếng đàn khiến người ta khi thì vui sướng lâng lâng, khi thì sởn gai ốc vì cảm thương ai oán.
Đêm hôm đó, kỹ nữ đánh đàn lần cuối cùng. Bản đàn chấm dứt, nàng vứt cây Nguyễn cầm vào đám lửa.
Đêm hôm đó, viên gia nô nghe lần cuối tiếng đàn thần diệu. Mắt y khép lại dần dần. Những đốm lửa cháy trước mắt y như biến thành hàng ngàn ngọn nến cháy lung linh nơi phủ Chúa vàng son hoa lệ…
7. Đã mấy năm rồi thanh bình về lại đất Thăng Long. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi, xưng là Quang Trung Hoàng đế. Ngài đã đem quân đánh tan hai mươi chín vạn quân Thanh, lập nên nhà Tây Sơn. Quang Trung Hoàng đế cho dựng lại Văn Miếu, khuyến khích nông nghiệp, mở mang thông thương, giảm thuế cho người dân. Thành Thăng Long năm nay không còn vẻ tiêu điều nữa. Nhà nhà treo đèn kết hoa, người dân áo quần xúng xính. Vùng ngoại ô Thăng Long, hoa đào nở một màu hồng rực bạt ngàn đẹp đến bàng hoàng.
Trên ngọn đồi gần đồn Ngọc Hồi, một cặp nam nữ cùng một đứa nhỏ đang lặng lẽ cúi đầu bên nấm mộ không tên. Nàng kỹ nữ thổn thức khóc. Chàng nho sinh nhẹ ôm kỹ nữ vào lòng.
Cô bé gái bụ bẫm lẫm chẫm thắp nén hương lên nấm mộ sè sè cỏ mọc xanh rợn. Nén trầm hương thơm ngát. Tiết trời xuân man mác. Cô bé ngước lên nhìn mẹ: “Đây là mộ của ai đấy mẹ?”
Kỹ nữ vuốt đầu con: “Đây là mộ của ân nhân nhà mình”
Chàng trai nhìn quanh vùng hoa đào cảm khái: “Đây là mộ nghĩa phụ của con. Hôm nay là ngày giỗ của nghĩa phụ”.
Chén bồ đào mỹ tửu rót xuống đất. Hương rượu nồng nàn trong sương sớm. Mấy mảnh giấy vàng mã bừng cháy trong tiết trời mùa xuân.
Xung quanh là một vùng hoa đào hồng rực, hồng rực đến bàng hoàng, hồng rực như hàng ngàn ngọn nến cháy lung linh…
Hà Nội, 17/11/2011
LÁ CHAO ĐỎ
Truyện ngắn dự thi của NGUYỄN PHÚ
Chợ huyện Cốc Pài nằm trong thung lũng Pắc Pò, họp nhằm ngày ba, ngày sáu, ngày chín tháng ta.
Hai mươi chín tháng Chạp.
Chợ Cốc Pài họp phiên cuối năm.
Gạo nếp Nàn Ma, Nấm Dẩn trắng xóa, cam sành Thèn Phàng đỏ ối chảy nhấp nhô trên các ngả đường về chợ. Lợn đen. Dê vàng. Gà trắng…theo bước chân hỉ hả của các đôi vợ chồng đàn đàn lũ lũ tràn xuống thung lũng…
Mấy năm nay, nhờ có dự án trồng rừng, nuôi bò, dê mà dân trong vùng giàu lên. Nhiều nhà đã có xe máy. Chợ phiên là vợ chồng con cái cưỡi xe lao vù vù từ trên núi xuống thung lũng Pắc Pò. Những con ngựa già được khiêng ra chợ. Giờ so với cái xe máy thì con vật bốn chân ấy chẳng ăn thua gì, mỗi ngày lại tốn mấy cân ngô. Thành ra, quán thắng cố ngựa của lão Sân lúc nào cũng dập dìu, tấp nập.
Quán lão Sân nằm ở ngã ba, cũng là trung tâm chợ. Một vị trí đắc địa. Mấy tay người Kinh lên làm ăn quanh chợ, nhìn cái quán của lão mà sôi máu mắt. Nhưng làm gì được lão. Lão ghét những thằng người xuôi lên đây. Bọn chúng chỉ tổ làm lão ngứa mắt. Lão là thổ địa ở đây. Sóng gió cuộc đời lão cũng từ đây.
Lão Sân vớ được con ngựa bạch quý chiều qua. Người đàn bà có chồng sắp chết đã dắt nó đến cầu xin lão. Giá định xong, lão còn quẳng cho mụ ta vài cân thịt và quả tim ngựa. Mụ ta ứa nước mắt cảm ơn lão. Lão Sân đặc biệt thích mua những con ngựa bạch để giết thịt. Không hẳn là mấy năm nay người ta đua nhau săn lùng cao từ cái giống ngựa ấy. Lão hành quyết những con vật đó bằng sự khoái lạc kì quái.
Bốn chân con ngựa bạch được cột vào bốn cọc lim chắc. Lão Sân lượn vòng tròn, mắt ngầu tiết, rồi bất ngờ vung những nhát búa như trời giáng xuống đầu con bạch. Con vật tội nghiệp uất hận, lồng lộn tuyệt vọng. Nhát búa cuối cùng. Nó hí lên một tiếng xé trời. Im bặt. Hộp sọ vỡ toác. Máu lẫn óc nhể nhề nhề. Bấy giờ lão Sân mới thọc con dao bầu đánh phập vào yết hầu con vật, ngoáy ngoáy một hồi. Máu xối ào ạt, tràn ra lênh láng, trôi cả những cánh hoa đào dưới đất. Chậu huyết bán hết veo sau mươi phút chọc tiết. Bộ xương đã được một gã phe xương đặt hàng. Mông, bắp thì con mẹ hàng thịt khuân đi.
Sáng nay, trong quán lão Sân chỉ còn bộ lòng và ít thịt bèo nhèo. Thế mà khách xua không hết. Đây là phiên cuối năm. Người ta đi uống với nhau để chúc nhau một năm không may mắn qua đi. Uống với nhau để bỏ qua hiềm khích. Uống với nhau để có lời chúc sớm một năm sức khỏe, ngô thóc đầy nhà, gà lợn đầy chuồng…
Lão Sân không muốn bán hàng hôm nay. Nhưng mụ vợ lão, với lòng tham đàn bà, những phiên chợ cuối năm như thế này là cơ hội để mụ thu bộn tiền. Mụ đã giãy nảy lên, kêu giời kêu đất khi lão gọi người khuân hết cả bộ lòng và số thịt của con ngựa bạch. Thế là lão thây kệ. Muốn làm gì thì làm. Lão phó mặc cho vợ, đứa con gái và hai đứa người làm. Lão uống rượu.
Lưng lửng chiều.
Đứa con gái lôi đâu băng đĩa về, từ cái loa đen trùi trũi, lời hát rên lên ỉ ôi: “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn. Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành…”. Cái phố núi sậm chàm, bằng lặng của lão đến loạn cả lên mất rồi. Cái lũ trẻ ranh học thói ở đâu con trai con gái tóc xanh tóc đỏ, dóng dượt nhau bấm còi, rú ga xe máy inh ỏi cả đêm. Người già ra chửi chúng ném đá vào nhà. Thế là im. Đứa nào có con đứa ý dạy. Con Hoa nhà lão cũng tí tởn theo đám ấy. Chưa tối đã chui vào buồng, soi gương, rồi tót đi. “Gương với lược. Rồi đến làm đĩ!”. Lão đã rít lên, đập nát cái gương đầu tiên con Hoa mang về. Mụ vợ lão nước mắt thầm thĩ chảy. Chiếc roi vô hình từ câu chửi con của lão quất vào mặt mụ. Đau điếng. Con Hoa thì co rúm lại, không hiểu chuyện gì. Cái thứ hai. Cái thứ ba… Nó khóc hức hức. Ức lên tận cổ. Nó vẫn lén lút mua gương về soi. Con gái mười sáu. Cấm làm sao được nó soi gương! Hôm trước lão đã cho cái bạt tai. Thế mà hôm nay còn rước cái của nợ ở đâu về làm điếc tai, não ruột. Hát thế này thì chó nó vào quán à?! Điên tiết! Lão chửi toáng lên. Mấy lão khách say khướt thấy lão Sân chửi, khoái chí cười sằng sặc. Chỉ mụ vợ lão là hiểu lòng lão. Ngày này năm nào lão chả uống rượu đến say mèm. Mụ pha cho lão một cốc nước chanh, hai tay vuốt vuốt lưng lão. Rồi mụ réo con Hoa đang bê rượu cho khách.
- Con Hoa đâu? Có tắt ngay đi không? Tội nợ! Con với chả cái…
Lão nhìn mụ. Ô, cái người đàn bà này là vợ mình ư? Không chỉ lúc này mà nhiều đêm, hơi rượu còn nồng nàn, hì hụp, cấu cào trên bụng mụ cái câu hỏi ấy cứ ong ong trong lão…
- Ông chủ Sân ơi! Ông chủ Sân ơi! Có còn rượu không?
Một người khách gọi lão từ phía ngoài lôi tuột lão ra khỏi những ý nghĩ đẩu đâu. Lão bừng tỉnh, lững đững bước ra.
- Ông Sân đấy à? Vợ con giấu đâu mà kĩ thế! Người khách lại lên tiếng.
Người khách là đàn ông, sấp sỉ tuổi lão. Nhìn người đàn ông, lão không nhận ra nét nào quen. Không có vẻ gì là người này muốn uống rượu.
- Tìm tôi có việc gì thế? Chắc là không phải uống rượu rồi.
Người đó gật gật, nói nhỏ vào tai lão câu gì đó. Hai người đi ra phía đầu chợ.
Lão Sân quay về mặt như đá mốc. Lão uể oải vào nhà trong, ật ra giường. Mụ vợ len lén nhìn lão. Mụ không dám hỏi.
“Bà ấy sắp đi rồi. Bà ấy muốn gặp ông lần cuối. Ông không quyết định nhanh, tôi sợ sẽ không kịp…”. Những lời người đàn ông nói làm lão Sân suy nghĩ lung lắm. Ôi, cái người ấy, cái người đàn bà đã làm con tim lão thù hận, đau đớn tưởng đến lúc chết vẫn chưa thôi. Còn muốn gì ở lão đây? Lão và người ấy từ lâu đã như con chim trên trời, con cá dưới nước. Lão nhớ có một lần người ấy xuống chợ, dắt theo một con dê cái. Lão sai thằng bé người làm ra mua. Trả tiền xong, lão Sân ra giằng lấy cái dây từ tay thằng bé. Vừa đi lão vừa vung roi vun vút vừa chửi: Đồ đĩ! Đồ đĩ!…. Người khắp chợ xúm đen xúm đỏ lại xem. Lão nghe thấy tiếng nức nở phía sau. Lòng lạnh băng. Từ đấy người ấy không một lần xuống chợ… Nhưng nay thì người ấy sắp chết. Nghĩa là sẽ không bao giờ lão còn nhìn thấy người ấy bằng xương bằng thịt nữa. Không đi rồi liệu lòng lão có yên được không? Mà đi có hết đêm nay cũng không chắc đến chỗ người đàn bà ấy được. Mai là ngày tết chủ nhà lão. Lão là người đi lấy nước về cúng ông bà tổ tiên. Bao nhiêu suy nghĩ, bao nhiêu câu hỏi… Rồi cái ngày uất hận ấy cứ như dầu sôi xối vào tim lão, óc lão.
* *
*
Hai chín tháng Chạp năm ấy. Cũng phiên chợ cuối năm…
Con ngựa bạch vun vút như một dải mây trên đường. Cả chợ Cốc Pài ngẩn ngơ nhìn ngắm con bạch khi nó dừng lại. Nó là hình ảnh tuyệt mĩ, là sự uy dũng chưa từng thấy trong mắt họ. Người ta còn trầm trồ bởi đôi trai gái từ lưng ngựa bước xuống. “Đẹp quá! Như người trời”. Có người thốt lên. Si cúi đầu e thẹn, hai má ửng đỏ, ánh mắt biếc xanh càng làm cô thêm vẻ đẹp hoang sơ. Sân da nâu bóng, cao lớn, săn chắc như súc gỗ lim. Ánh mắt mọi người làm Sân thêm tự hào.
Những ánh mắt ngưỡng mộ. Những cái nhìn ghen tuông. Không ai biết Sân mất cả cha lẫn mẹ từ cái ngày chỏm tóc trên đầu Sân còn cháy đỏ như lông đuôi con bò. Si không có bố, mẹ Si ốm nằm liệt mấy năm rồi. Để có tiền cưới nhau như lệ bản, Sân phải sang Trung Quốc làm thuê ba năm. Con ngựa bạch là một phần mồ hôi của Sân. Hôm nay, Sân dẫn vợ sắp cưới xuống chợ. Ăn tết xong họ sẽ về một nhà. Cả hai sợ sẽ không còn kịp, mẹ Si yếu lắm rồi. Họ xuống chợ lẫn lộn vui, buồn…
- Vào uống với nhau một bát rượu đi!
- Đi chợ với người yêu nên cái mắt không nhìn thấy bạn à?
- Anh Sân, người yêu ở đâu mà xinh thế. Lấy hết cái mắt của cả chợ rồi!
-...
Quán thắng cố lổn nhổn người. Nhốn nháo. Sằng sặc. Cười nói. Sân nhận ra đám bạn làm thuê. Sân chưa kịp nói gì, một người đã lôi vào. Cả bọn nhìn Sân ngưỡng mộ. Rượu nâng lên. Cạn. Nâng lên. Cạn. Lại nâng lên. Lại cạn…Sân thấy chếnh choáng. Hàng quán ngả nghiêng. Đám bạn kềnh càng, lồm ngồm trên nền đất.
Sân ngủ lúc nào cũng không biết nữa. Khi tỉnh dậy thì thấy nằm trơ một mình dưới gốc cây bứa, chỗ buộc con ngựa bạch. Sao Si không ngồi quạt cho mình? Si sắp làm vợ mình rồi mà? Đàn bà Mông xuống chợ ai chả ngồi quạt cho chồng?
- Uống cho say để quên vợ, mất vợ à Sân?
Sân chưa hiểu gì thì người đàn bà họ xa lại eo éo:
- Cái Si nó đi theo thằng buôn người Kinh rồi. Chúng nó chở nhau vào núi Pía rồi đấy. Mày có còn muốn cưới nó hay không?
-...
- Chúng nó vừa đi đấy thôi. Mày có đuổi theo thì đuổi…
Máu dồn lên làm đầu Sân như một lò than nung đỏ. Sân nhảy tót lên con ngựa bạch, hai chân thúc liên hồi. Con bạch vút đi. Kia rồi! Đúng là Si rồi! Si ngồi trên cái xe đen trũi, sau cái thằng buôn vải người Kinh. Cái xe của nó như con bọ hung đang bay vèo vèo, uốn liệng trên đường. Nó biết có người đuổi theo, nó càng bay nhanh. Sân hối ngựa, hét đến hộc máu mồm. Bóng Si mỗi lúc một mờ dần, mờ dần, rồi mất hút vào núi rừng đang sẫm một màu chàm tím.
Đêm bủa vây. Vài ánh sao lạc lơ lắc. Sân rũ ra bên con bạch. Không thể tìm thấy Si được nữa rồi. Con bạch như hiểu được nỗi lòng của chủ, nó thè lưỡi liếm vào má Sân nhằm nhặm. Sân lại lên ngựa. Người ngựa đi mê dại trong rừng cho đến sáng.
Chiều hôm sau Si mới về bản. Si mang về một bộ váy áo đẹp lắm. Người ta bảo phải mươi đồng bạc trắng mới mua được. Cả một cái gương rất sáng, tròn như mặt trăng. Con gái cả bản chưa đứa nào có cái gương như thế.
Khi Si về tới nhà thì người ta đã cho mẹ Si vào cái hòm đục bằng thân cây bị sét đánh rồi. Si khóc. Nước mắt như con thác dội từ đỉnh A Mu Phìn…
* *
*
- Bố Hoa mệt cái đầu à? Có chuyện gì thế?
Mụ vợ lão Sân ngồi ở cuối giường đã một lúc lâu. Thấy con mắt lão trân trân nhìn lên mái nhà, giờ mụ mới dám hỏi.
- Không có gì cả. Ra ngoài bán hàng! - Lão lật người, quay mặt vào thưng nhà.
- Bố Hoa có chuyện gì giấu tôi? Nhìn mặt bố Hoa từ lúc gặp cái lão ấy là tôi biết.
- Đàn bà lắm lời. Đã bảo là không! - Lão gắt.
- Đừng giấu tôi nữa! Cái lão ấy đưa cho tôi cái túi đây này. Lão bảo đưa cho bố Hoa mà quên, mới quay lại đưa cho tôi đấy.
Nói như mếu, rồi mụ đưa cái túi cho chồng. Lão Sân nhổm dậy, cầm lấy. Lão sững người đến mấy phút. Đúng cái túi của người ấy rồi. Cái túi này lão mua cho người ấy tận bên Trung Quốc, bao năm giờ nó vẫn như mới, vẫn nguyên đường chỉ. Người ấy còn giữ nó làm gì? Lão run run lần giở bên trong. Lóng ngóng, cái túi tuột khỏi tay, tóe ra hàng ngàn hạt li li lấp lánh màu hổ phách.
Mắt lão Sân hoa lên. Người ấy lấy đâu ra những hạt này? Cây chao cuối cùng đã bị lão hủy diệt sau cái đêm đầy oán hận ấy...
* *
*
Đi xuyên đêm, khi về tới đầu bản thì con bạch không bước được nữa. Vô tình nó dừng ngay tại gốc chao. Cái gốc chao này Sân không biết nó có từ bao giờ. Bà lão gần trăm tuổi ở bản bảo nó có từ lâu lắm rồi. Xưa kia có nhiều cây chao như thế. Cùng với nước mắt của con người, những gốc chao thưa đi. Trai gái mất tình yêu cứ tìm gốc chao mà trút cái oán cái hận, cho đến khi chỉ còn duy nhất cái gốc này. Người ta bảo cây chao là thứ cây thiêng, nó mang đến tình yêu cho con người. Mùa xuân lá chao đỏ chói, như những trái tim đang thổn thức gọi tình. Quả chao chín màu xanh. Hạt chao già màu hổ phách. Hoa chao thì vàng, thơm ngào ngạt. Trai gái cứ theo mùi hương hoa chao mà tìm nhau tình tự. Từng đôi ra gốc chao ngồi, rồi gắn trái tim đỏ rực lên môi, thổi vào nhau tiếng lòng bổi hổi. Khi tiếng lòng đã nằm trọn trong nhau thì dẫn nhau vào rừng, rồi ngập chìm trong miền mê đắm giống nòi.
Những đêm xuân, dưới gốc chao này Sân đã thổi kèn lá đến rách họng cho Si nghe. Nhưng hai người chưa dẫn nhau vào rừng. Chưa một lần. Sân muốn giữ cho Si. Vậy mà, bây giờ cái tình yêu của Si không còn thì cây chao này cũng không còn.
“Chao là cây thiêng. Đừng chặt. Nước mắt, oán hận không ra khỏi cái bụng được đâu...”. Lời bà lão bỗng len vào óc Sân. Nhưng ngọn lửa trong Sân đã bốc lên rồi, nó đốt hết mọi ý nghĩ, chỉ còn nỗi đau đớn, oán hận đang theo ngọn lửa bùng lên. Sân như điên dại vơ bất kể cái lá khô, bẻ bất cứ cành cây nào... Lửa cháy. Cây chao oằn oại. Những chiếc lá giãy lên như hàng ngàn trái tim rên xiết. Gió bỗng từ đâu dồn về hú lên ghê rợn. Từng chiếc lá bay chấp chới, loang đỏ một mảng trời. Con bạch hoảng loạn, hí lên một hồi ai oán, vọt đi.
Si không còn. Cây chao không còn. Đến con bạch cũng bỏ Sân mà đi rồi. Sân oán hận tất cả. Sân lê bước về nhà. Ngôi nhà tềnh hênh cuối bản còn gì để mà giữ Sân nữa đâu. Ở lại đây để Sân sẽ chết vì đau đớn, tủi nhục à? Khi dân bản kéo đến thì ngôi nhà của Sân chỉ còn những tàn tro bay ngun ngút theo gió trời. Người ta thấy bóng Sân đang dần trôi vào cánh rừng già...
* *
*
- Thôi, bố Hoa đi gặp người ta đi. Người ta sắp đi xa rồi. Tôi biết bố Hoa còn hận. Nhưng người quê tôi thường bảo nghĩa tử là nghĩa tận, bố Hoa à. Tôi đã gọi người chở bố Hoa đi rồi đấy. Đi đi, mai thì về với mẹ con tôi, tết đến nơi rồi.
Khó khăn lắm vợ lão Sân mới nói được những lời như thế. Ngày xưa, biết lão từng có một người đàn bà ở bản cũ, mụ giữ gìn lão như giữ hai con mắt của mụ. Mụ ơn lão, tôn thờ lão. Hằng đêm mụ ôm riết lấy lão, muốn lão mãi mãi là của riêng mụ. Cả cái thân hình đá tảng. Cả quả tim đầy cay đắng, oán hận của lão. Thế mà lúc này mụ lại đang đẩy lão về cái nơi ấy đây. Mụ chợt buồn, nhưng cũng thật nhanh mụ thấy một sự thơ thới, nhẹ nhõm lạ thường...
Lão Sân nhìn vợ, cái nhìn mụ chưa được hưởng bao giờ. Đã từ lâu, mụ quen cái nhìn vừa như khinh bỉ, vừa như thương hại ban ơn của lão. Cái nhìn ấy mụ được lão ban cho vào một buổi sáng đã lâu lắm rồi... Cái buổi sáng bọn lâm tặc vứt mụ ở lại cái lán tồi tàn giữa rừng, trên người không một mảnh vải, khắp mình mẩy thâm tím, chỗ cửa đàn bà máu me nhểu ra nhầy nhụa... “Làm đĩ”. Câu trả lời của mụ cùng ánh mắt van lơn, cầu cứu và những giọt nước mắt đàn bà đã được lão ban cho cái nhìn ấy. Rồi mụ được lão dẫn về chợ Cốc Pài này. Sau vài tháng, cái món thắng cố ngựa làm da mụ trắng phây phây, trắng đến tê người. Hai con mắt thì sóng sánh. Cái má cứ đầy lên, hồng đến nóng mắt. Sao người ta có thể vứt một người đàn bà như thế giữa rừng? Nhiều lúc nhìn mụ, lão ngẩn ra khi tự hỏi như thế. Có lẽ cái đuôi mắt, cái gò má của mụ kéo lũ đàn ông đến quán thắng cố nhà lão. Lão vừa thương mụ, vừa rẻ rúng, khinh thường mụ, như xúc cảm của ông chủ với một con chó.
Trong mắt lão giờ chỉ còn những tia chan chứa xót thương. Tự dưng một sự ân hận cứ lan tỏa trong lòng lão, làm cổ họng lão ắng nghẹn. Lão chợt thấy mình như bé nhỏ đi, như cần được cái người đàn bà đang hồi xuân hừng hực kia che chở. Một lúc sau, lão mới nói được với mụ:
- Mẹ Hoa dọn hàng đi. Mai tôi về sớm…
Lão khoác thêm chiếc áo bông, đi ra. Gã xe ôm đang chờ lão phía ngoài. Chiếc xe rồ ga. Núi rừng hoác ra nuốt chửng nó vào đêm.
* *
*
Con cháu một lũ lem luốc, lốc nhốc xúm xít quanh người ấy. Trên chiếc giường tre đen xỉn hôi hám, người ấy khô quắt, chỉ còn da bọc xương, mắt nhắm nghiền. Dưới ánh đèn vàng ệch, lão thấy mặt người ấy nhăn nheo, vàng như quả su su héo. Người nhà bảo người ấy bị nhiễm sán. Sán đục ruỗng ruột gan tim phổi, rồi chui lên đầu, ăn vào óc. Óc người ấy giờ không còn gì, bên trong chỉ lổn nhổn những sán là sán thôi. Người ấy đã cấm khẩu từ chiều, mắt cũng không còn mở ra được nữa.
Đứa con gái cả của người ấy đưa cho lão tờ giấy và một chiếc lá đỏ thắm, quay đi gạt nước mắt. Trên tờ giấy ô li của học sinh, những con chữ viết có vẻ rất khó khăn nên xiêu vẹo, nét đậm nét đứt cứ nhảy loi nhoi trước mắt lão Sân:
“Ông Sân à, tôi biết cái ngày tôi về với ông bà tổ tiên sắp đến rồi. Tôi sợ không được gặp ông. Cái đầu còn nghĩ được thì tôi viết những cái chữ này. Ông hận tôi vì tôi là người đàn bà không ra gì phải không ông? Lỡ phụ ông, tôi đau lắm. Nhưng ông còn nhớ cái ngày mẹ tôi sắp chết, bà ấy chỉ mong có được một bộ váy áo thật đẹp mặc lúc chết không? Lại muốn có một cái gương để soi. Cả đời mẹ tôi chưa biết cái mặt mình nó tròn méo thế nào. Sao ông và tôi nghèo quá? Tôi dại, nghe người ta dụ dỗ. Nhưng tôi thương mẹ tôi, tôi muốn bà ấy chết được nhắm mắt.
Ông Sân à, cả đời tôi chỉ có ông thôi. Cái lá chao ông hái cho tôi, tôi luôn giữ nó bên mình. Nay tôi gửi lại ông. Ông có tha thứ cho tôi không? Kiếp sau tôi xin làm con trâu, con ngựa để trả cái tình của ông, ông Sân à…”
Từ hõm mắt lão Sân hai cục nước lừ đừ rơi, làm nhòe nhoẹt những con chữ.
* *
*
Một buổi chiều, lúc hoàng hôn còn tím rực, người trong vùng thấy một lão già đi lang thang như người lẩn thẩn trên những lối mòn, rồi lão lần sâu vào trong rừng, leo lên cả những ngọn núi cao nhất của dãy Tây Côn Lĩnh.
Mùa xuân ấy, ở những nơi lão già đi qua người ta thấy ngàn vạn cái mầm màu đỏ tươi trông xa như những tia máu từ lòng đất phun lên.
Mùa xuân năm sau….
Mùa xuân năm sau nữa.
Khắp vùng bừng lên một loài cây bung xòe những tán lá đỏ thắm. Những chiếc lá reo vui trong màn mưa li ti như những làn môi gọi mùa tình. Có người bảo trông giống những giọt máu. Người khác lại bảo đó là những giọt nước mắt màu đỏ.
Người khắp chợ Cốc Pài không ai còn nhìn thấy lão Sân. Quán thắng cố ngựa của lão cũng đóng cửa. Người ta bảo cả vùng không còn lấy một con ngựa, vợ lão Sân không tìm được hàng để bán, phải dắt con gái về quê.
Quê mụ ở đâu thì không ai biết.
VanVN.Net - In ở Văn nghệ Trẻ thì hẳn tác giả còn trẻ, chúng tôi đoán thế, vì khi hỏi ngay cả BTV rằng Tuệ Anh là ai, cũng trả lời là chưa gặp, họ làm bản thảo với nhau qua email. Trong số các nhà văn “thế hệ viết bằng mười đầu ngón tay” (Hữu Thỉnh) này chỉ Du An là có vẻ già nhất, sắp 50. Nhưng chính Du An lại có giọng trẻ trung hơn cả, lời truyện đẹp như thơ, lập lờ như sấm ký nhưng lại chuyên chở vấn đề của nhức buốt; nhức buốt chẳng kém gì cái đẹp bị làm nhục khiến viên gia nô phủ Chúa phải xả thân bảo vệ trước nanh vuốt sói của dâm tặc Cai binh Thanh. Đọc Tuệ Anh, nữ sĩ mười tám đôi mươi mà xót xa buồn cho mẹ con nhà họ, nỗi buồn của trăm năm làm kiếp con người, nó níu kéo đến rũ ra không được. Nhưng đọc trẻ mà người già thêm vững dạ, nói như nhà thơ Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh, văn trẻ đang trẻ hóa dòng chính, đang khác cái dòng thác tạm gọi là dòng Vệ Tuệ bên kia từng có lúc nó bị cuốn vào...
MẸ ƠI, DẬY ĐI!
Truyện ngắn của TUỆ ANH
1. “Mẹ ơi, dậy đi!”
“Tới biển rồi!”
Mẹ choàng mở mắt, nheo nheo nhìn về phía màn sương mờ mà con tàu đang lao vào.
“Không, con ơi! Đó là những tòa nhà chọc trời.”
“Không, mẹ ạ! Là núi đấy!”
“Mưa à?”
“Không, là sương mù mẹ ạ!”
“Trời đã tối rồi cơ à?”
“Không, mẹ ơi! Bình minh đang lên”
Tôi đẩy cái chốt. Cửa kính toa hé mở, một làn gió lùa vào, lành lạnh. Hơi thở của đêm còn đọng lại trong sương. Tôi thò ngón tay ra ngoài.
“Bống, đừng thò tay ra ngoài. Ông ngáo ộp đấy!”
“Mẹ ơi, con lớn rồi, đừng gọi con là Bống nữa. Gọi con là Tuệ, mẹ nhớ chưa?”
“Bông lau à?”
“Không, là bông lúa chứ mẹ!”
“Nhà bà có nhiều lau lắm. Khắp nơi!”
“Thế hả mẹ? Nhưng con là ‘Bông lúa’ cơ mà!”
Bỏ mặc chuyện bông lúa với bông lau. Mẹ nhìn không chớp mắt ra màn sương mờ. Đôi mắt chẳng nói lên điều gì. Chỉ có một màu xám xanh đùng đục của gỉ nhèm. Đôi mắt có lẽ vì thế trông mờ ảo như ẩn đằng sau một màn sương bàng bạc.
“Bống, đừng đi chơi xa. Không được đi vào lèn hái sim nghe chưa! Có nhiều ong vò vẽ lắm!”
“Con đã bao giờ được đi hái sim đâu! Hình thù quả sim ra sao cũng không biết nữa!”
“Nơi thế giới của ánh sáng vương giả và những bụi hồng nhàn nhã không có sim, mẹ nhỉ!”
Mẹ vẫn lơ đãng như một cô gái mới lớn, nhìn mơ hồ ra ngoài khung cửa, mắt không chớp. Hay mẹ đang mộng du?
“Mẹ ơi, biển đẹp nhất vào mùa nào?”
“Ve sầu đang kêu trong bụi hồng leo!”
“Sao có thể chứ?”
“Không có hồng leo. Cũng không có ve sầu. Mùa đã sang rồi mẹ ạ. Và mình cũng đang đi…”
Lặng thinh. Mẹ không nghe thấy tôi. Đúng ra, từ đầu tới giờ, chưa từng có một lời của tôi chạm đến tâm trí mẹ. Tôi độc thoại. Mẹ cũng độc thoại. Hay nói đúng ra, tôi đang nói với một- người- không- phải- là- mẹ, và mẹ đang nói với một- ai- đó- không- phải- là- tôi.
Một người phục vụ đẩy xe đến, hỏi chúng tôi có dùng đồ ăn sáng không. Mẹ như bừng tỉnh, quay ra xua tay.
“Không ăn đâu!”
Giọng mẹ thẽ thọt, như một thiếu phụ trẻ đang dỗ con thơ. Không phải của một bà lão nói với đứa con gái ngót bốn chục tuổi đầu.
“Thôi, Bống chịu khó đi! Lát về bà ngoại nấu bánh canh ngon lắm! Bánh canh nấu với tôm, ngon nhất trần đời!”
Tôi mỉm cười với cô bán hàng, ra hiệu không mua. Cô cũng mỉm cười lại, đẩy chiếc xe đi. Tôi bắt gặp cái ngoái lại rất khẽ của cô.
“Ngày xưa Bống thích bánh canh nhất trên đời. Lúc nào cũng đòi mẹ nấu bánh canh”
“Con có thích bánh canh đâu. Mẹ suốt ngày nấu! Có ai ăn đâu.”
“Chắc mẹ nấu không ngon bằng bà ngoại. Tiếc là…”
Mẹ đã quay nhìn ra khung cửa từ bao giờ. Ánh nhìn xa xôi bảo với tôi rằng, toàn- bộ- mẹ- đang- ngồi- trước- mắt tôi đây không- đang- ở- đây. Một tiếng hát khe khẽ. Không hẳn là hát. Một thứ âm thanh đùng đục, đứt gãy trong cuống họng. Là mẹ tôi đang hát, hay đang ngâm. Mắt vẫn nhìn đăm đăm ra ngoài khung cửa sổ. Bình minh đang lên. Mặt trời hồng rực.
Con chim ngoan của mẹ. Đi hái sim rừng xa. Túi đầy quả mọng. Đừng trêu con ong vò vẽ. Treo lủng lẳng trên cây. Đừng trọc con ong đất. Ngụy trang trong ụ đầy. Chúng rình đốt con. Con chim ngoan của mẹ
2. Những bông hoa trong vườn nhà tôi giờ này đang hé nở trong làn nắng sớm dịu dàng. Bụi hồng leo bám quanh tường rào xây cao. Đấy là nhóm hồng Gallica thuộc loại hồng- vườn- cựu. Hồng- vườn- cựu, hay hồng- lịch- sử (historic roses) như người ta gọi thế, đa số được lai tạo từ hai giống hồng hoang dã: Rosa Multifolia và Rosa Wichuraiana. Thời mà nhóm hồng Pháp Gallica cùng với nhóm Trung Hoa China khơi mào cho một cuộc “cách mạng” sản sinh ra hàng vạn giống mới đã chấm dứt vào thế kỉ XIX. Đế chế và những buổi hoàng hôn. Mẹ tôi bảo, cái bụi trồng ở hàng rào bao quanh nhà tôi là Kathleen Harrop thuộc giống hồng leo Bourbon màu hồng nhẹ, một trong những giống mà người Pháp đưa vào trồng ở xứ ta. Thế rồi, một ngày kia, mẹ tôi lại cất công đem nó, ý tôi là bứng nguyên cái cây ấy, trở về chính mảnh đất chôn rau cắt rốn của tổ tiên của nó. Giờ thì, người ta chỉ còn có thể hi vọng rằng, nó còn sót lại đâu đó nơi xử sở tha hương chăng?
Tôi chẳng thể nào nhớ nổi mấy cái tên phức tạp, cùng cái phả hệ dài ngoằng của từng loại. Hơn nữa, đã mất niềm tin vào sự thuần chủng của chúng_ nếu điều đó là tồn tại thực_ như mẹ tôi vẫn bảo. Mẹ có niềm tin riêng của một người làm vườn yêu say đắm những bông hoa của mình, và sinh mệnh cũng như số phận của chúng. Tôi thích cái gì giản đơn hơn. Ngoài việc ngắm nghía cái vẻ đẹp thuần túy bên ngoài của những đóa hồng vào mỗi buổi sớm mai ra, tôi không đòi hỏi gì thêm, một phả hệ chẳng hạn. Chúng chỉ khiến tôi loạn trí óc. Và đôi lúc, khơi gợi lên một nỗi khó chịu không nguyên cớ. Tôi thấy dễ chịu hơn nhiều vì biết rằng, giờ thì ở khắp các khu vườn của châu Âu tràn ngập các giống hồng Mĩ. Có lẽ vì chúng cho rất nhiều hoa. Cực nhiều! Những cái tên cũng mĩ miều nữa. Queen Elisabeth. Iceberg_ Băng- tuyết- ngầm. Sally Holmes. Belle Portugaise_ Người- đẹp- Bồ- Đào- Nha. Crepuscule _ Hoàng- hôn. Four of July_ Quốc- khánh- Hoa- Kì. Lại còn cả Don Juan, Joseph’s Coat hay Spice no Nice rất được ưa thích.
Mỗi buổi sáng, mẹ tôi thức dậy từ rất sớm. Đều đặn như cây trút lá mùa thu, như tuyết rơi mùa đông. Đó có thể xem như một thời gian biểu bắt buộc đối với một người làm vườn? Một thói quen? Một thú vui? Dù gì, mẹ tôi vẫn thức dậy rất sớm. Chăm sóc vườn nhà chúng tôi, tỉa tót mấy bụi hồng, trước khi đến những khu vườn khác, vì công việc.
Có lần, tôi bắt gặp mẹ trò chuyện với những bông hoa. Quả thật là như thế. Sau khi đi một lượt khắp khu vườn, làm xong công việc với tất cả những thứ cây, thứ hoa khác, mẹ đến bên bụi hồng leo trên tường rào. Ngồi đó. Lặng lẽ hàng giờ. Nhìn chúng bằng ánh nhìn trìu mến hay giận dữ, vui vẻ hay buồn rầu, thanh thản nhẹ nhõm hay đầy lo âu. Có khi mắt nhìn chúng mà thần trí mẹ có vẻ đang lạc mãi nơi nào, bảng lảng như khói chiều thu trong những cánh rừng, trên những con đường xa. Đôi môi mấp máy liên tục trong một cơn thì thầm bất tận. Việc đó bắt đầu diễn ra từ sau khi bố tôi qua đời.
Tôi cho rằng bệnh của mẹ đã âm ỉ như thể người ta ủ than hồng từ hồi ấy đến giờ. Qua bao năm tháng. Chỉ có những bông hoa là biết điều đó. Tôi, con gái của mẹ tôi, không gần gũi bà bằng những bông hoa.
3. Bên đường cảnh trí hiện ra rồi lướt qua rất nhanh. Chỉ có biển vẫng đang ở trước mặt chúng tôi, bên ngoài khung cửa sổ. Tôi khẽ giơ tay, như để chạm vào một khuôn mặt đang kề sát mặt mình. Nhưng chẳng chạm tới. Đoàn tàu đều đều nhịp đi men theo đường ray dọc bờ biển. Tôi mở rộng khung cửa kính hơn nữa. Một luồng gió mạnh hơn thốc vào, lành lạnh luồn qua mái tóc. Tôi so vai, rụt cổ sâu hơn vào chiếc khăn len mỏng.
Tôi nhìn sang mẹ. Không thấy mẹ phản ứng gì. Ánh mắt vẻ như đang dõi theo con đường men bờ biển, theo ánh bình minh hồng lên phía chân trời. Chỉ một chốc nữa thôi là nắng sẽ rải vàng như ngọc trên mặt biển. Một chùm tia nắng mỏng, sắc chiếu xuyên qua khung cửa, thẳng vào chúng tôi. Mẹ tôi chợt nhíu mày, quay sang nhìn tôi bằng một ánh mắt xa xăm. Xa như vạn năm ánh sáng. Cái nhìn ấy không đọng vào tôi.
“Bống, đi tưới hoa đi!”
“Mẹ ơi, mình đang về nhà… không, về quê mình! Không có hồng leo đâu!”
“Chỉ có biển. Và những bông lau…”
“Mẹ ơi, ngày xưa biển có như bây giờ?”
Mẹ chỉ tay về một hướng mông lung, hướng ra biển, có thể ý mẹ là đằng những rặng núi xa đang rõ dần sau lớp sương mù tan chảy kia.
“Nhà bà ngoại… Bà đang đợi Bống!”
“Vâng, bà vẫn đợi! Biển vẫn như ngày xưa phải không mẹ!?”
Tôi định nói thế. Nhưng khi tôi nghe ra những từ ngữ thành hình trong giọng nói mình, chúng khác.
“Không, mẹ ơi! Giờ chỉ còn là những bông lau thôi. Lau trắng. Chập chờn. Hoang dại như gió biển.”
Tôi chớp mắt. Ngước nhìn lên. Một đám mây trắng lớn giống hình một con bướm trôi lững lờ đằng xa.
Tôi. Mẹ tôi. Có thuộc về gió nơi này, mây nơi này? Có thuộc về những bông lau? Về biển?
Biển thì chạy xa mãi. Xa tít tắp. Tận chân mây đằng kia.
4. Bố tôi qua đời khi ông còn rất trẻ. Mẹ tôi cũng còn rất trẻ. Mẹ tôi không đi bước nữa. Mẹ không u sầu, than khóc. Mẹ câm lặng như đá. Mẹ giữ lại tất cả những dấu ấn của bố trong khắp ngôi nhà, nhưng không nhắc đến bố. Mẹ vẫn nấu món bánh canh mỗi dịp cúng giỗ bà. Nhưng mẹ chưa từng kể về bà ngoại.
Mẹ khóa chặt mọi thứ. Bưng kín mọi ngõ ngách có thể cho phép người ta len lỏi vào tâm tư bà. Từ đó, ngoài tôi ra, bà chỉ yêu những bụi hoa.
Tôi, nhiều lần, thử thâm nhập sâu hơn vào cái- đời- sống- khác được mẹ giấu kín, được bao bọc đằng sau các giống hoa hồng, các phả hệ, các loại vườn tược, các thứ sâu bệnh, nấm mốc, vân vân và vân vân. Tôi muốn nghe tiếng nói thật sự, hay ít ra là cái tiếng nói tôi chưa từng thấy để lộ ra, của mẹ, cái tiếng- nói- đang- câm- lặng đằng sau âm giọng mũi nghèn nghẹt mà mẹ phát âm rất chuẩn hàng ngày. Nhiều lần tôi cố nghe ra, xem có một âm sắc nào lạc điệu còn sót lại hay không, tựa như giờ đây người ta đang đi tìm những giống hồng- vườn- cựu còn sót lại ở xứ sở tha hương của nó. Tôi chẳng thấy gì lộ ra. Rồi tôi nghi ngờ ngay chính sự tồn tại của những điều tôi đang cố công tìm.
Mẹ đã quên. Mẹ đã bỏ lại đằng sau tất cả?
Mẹ vẫn thức dậy từ rất sớm. Cần mẫn với vườn tược. Yêu những bụi hồng. Nâng niu cả những giọt sương. Ngoài làm vườn ra, mẹ ít khi gặp gỡ ai, ngay cả những người đồng hương. Mẹ nói nhiều nhất và sinh động nhất khi thuyết về phả hệ các giống hồng, thiết kế các loại vườn. Tôi đoán, chỉ là tôi đoán, cũng có thể việc nói về hồng leo khiến mẹ tôi thấy an tâm rằng mình thuộc về nơi ấy_ nơi chúng tôi đang sống.
Ngoài ra, chỉ có câm lặng. Mẹ câm lặng như đá.
5. Tiếng xình xịch đều đều có lúc gần sát bên tai, có lúc trở nên xa xôi như vọng từ một nơi nào tới. Có lúc mất hẳn. Con tàu đi mãi. Êm như du. Hồ như đi xuyên qua ánh bình minh, xuyên qua biển, đi mãi vào mây và những rặng núi xa mờ.
Mẹ đang ngủ. Đầu hơi nghẹo sang một bên. Hơi thở đều đều. Mái tóc đã bạc trắng. Nhìn mẹ lúc này như một bà tiên. Không, nhìn hiền hòa và vô tư lự như một đứa trẻ ngủ say trong lòng mẹ. Da tuy đã nhiều nếp nhăn nhưng nước da vẫn còn ửng hồng, cứ như mùa xuân của những đóa hồng sẽ từ đó mà bung ra.
Tôi ngắm khuôn mặt mẹ. Lâu thật lâu. Tôi thảng thốt. Đó là khuôn mặt của một ai đó khác, không phải của người mẹ tôi vẫn nhìn thấy mỗi buổi mai thức dậy, cần mẫn giữa những bụi hồng, nói thứ giọng mũi nghèn nghẹt rất chuẩn. Điều đó giống như việc người ta bứt tôi khỏi người mẹ của tôi khi bà còn là một thiếu phụ rất trẻ, quăng biến tôi đi đâu đó suốt quãng thời gian dài dằng dặc, cho đến khi tôi gặp lại bà trong khuôn mặt đầy những nếp nhăn này, dưới làn tóc bạc trắng này. Hai- con- người- đó giờ thật tách biệt. Tôi chẳng cần phải gắng công đi tìm cái mặt ẩn giấu kia nữa. Nhưng tôi lại bỗng thấy xa lạ.
Cả cái giọng mũi chuẩn nãy giờ cũng biến đi đâu. Cái chất giọng, cái âm sắc mà tôi mong mỏi được nghe suốt những năm dài đằng đẵng qua, giờ tuôn chảy qua thanh quản mẹ, khởi phát thành tiếng như một điều hết sức tự nhiên lâu nay vẫn thế. Như thể bà chưa từng khoác lên nó một thứ nào khác.
Mẹ vẫn thở đều đều. Nhịp thở êm dịu quá đỗi. Nó chẳng đủ làm một sợi tơ mỏng mảnh rung lên. Đôi môi dum dúm của mẹ he hé mở. Nhìn mẹ đang ngồi đây, cạnh tôi, trên con tàu đang lao về phía trước, lướt qua những vùng cỏ lau, qua bờ biển hoang vắng gió. Một vẻ gì đó phi thực đến khó ngờ. Mẹ đang vờ ngủ chăng?
Tôi chợt ghé sát mẹ, gọi khẽ.
“Mẹ ơi, dậy đi!”
Không có tiếng trả lời. Chỉ có một làn hơi mỏng âm ấm phà nhẹ vào bên má tôi, không đủ làm rung một sợi tơ.
Đâu đó, chỉ còn vẳng lại tiếng hát khe khẽ. Không phải thứ âm đùng đục nông choèn từ lưng chừng cổ họng. Một giọng ngâm ngọt lịm vút lên, từ tận đâu đó sâu thẳm trong gió, trong biển, từ vùng cỏ lau.
Con chim ngoan của mẹ. Đi hái sim rừng xa. Túi đầy quả mọng. Đừng trêu con ong vò vẽ. Treo lủng lẳng trên cây. Đừng trọc con ong đất. Ngụy trang trong ụ đầy. Chúng rình đốt con. Con chim ngoan của mẹ…
Còn biển thì chạy xa mãi. Xa tít tắp. Tận chân mây đằng kia.
Tháng 10- 11/ 2011
CAM TRÒN
Truyện ngắn của DU AN
Nàng học vừa đủ chữ. Da thịt, nắng gió sương, vừa đủ câu chuyện. Nàng ngồi bên cửa sổ, mấy con chuột ngọt chân em bé. Chạy ra đằng trước. Đường nhựa trôi. Tiếng còi xe, ưỡn vòng cua.
Anh ta ngắm nàng. Đi bộ đến à? Không bị ngã xuống đây. Lúc nãy có một chiếc lăng cu zơ bật màu bùn. Say nắng. Đôi mắt nàng mở to hơn, cầu vồng đen trắng; điểm cong dấu chấm than ngang.
Tay chân dài sào không váy áo. Tay chân kìm cứng.
Tắc kè bỏ đi. Tiếng chẵn thua tiếng lẻ. Chạn, bát úp vào nhau khít khịt. Màu trắng khó thở. Ống, đũa sóng thở dài ngược lên bồ hóng. Vòi vọi, chóng mặt.
Câu chuyện giữa bụng và bàn tay. Đối thoại mấp máy. Ngày xưa mẹ em bán cam. Ngày xưa mẹ anh bắt cua. Bàn tay vồng lấy quả cam của quả cam. Bò ngang, chấm chấm là là. Ệp xuống hình khối. Vuông, chữ nhật; không, tròn, tim mới ở giữa. Con đường không nhìn thấy nhắm mắt lại. Hoa tay và rốn. Mồ hôi giếng tiên, kết quả phép cộng không còn hai số hạng. Đừng, phép trừ chứ, một số đầu bỏ đi rồi. Nàng học vừa đủ chữ. To tròn mọng đôi mắt, đôi môi.
Mẹ nàng bán cam, bà nàng bán cam, nàng không lấy cam thành phố. Anh biết rồi sao ba tháng mới về. Đâu, ngọt sắc hay thanh. Ngún nguẩy bên trái gặp môi, bên phải gặp má. Vực, đường, men vừa hai người chồng lên nhau. Không ai lăn xuống, bay những ngón tay đan lông mốt. Cuối dòng trong, xoáy. Cành củi có đàn kiến vỡ tổ bụi sim. Suối hứng. Lối mòn tự nhiên đi.
Mẹ nàng bán cam thành phố, thành phố bán cam miền xuôi. Cam miền xuôi ở quê cam núi. Bỏ ba mươi năm, cây cuối cùng chết tròng giữa nương ngô. Ngô xanh, ngô vàng về gác bếp. Cam đứng canh đất, chân mục, tay rụng. Rìa nương những đường thẳng, sóng xoài xác cây khô. Mấy hôm nữa một mồi lửa. Nhắm mắt lại, lè lưỡi phụt phụt khói, khói vào mồm ra mắt hay vào mắt ở đấy.
Mẹ nàng cong chữ C, nàng học vừa đủ chữ thôi. Bung cam hai, trưa chưa vơi. Nắng không kiên trì hơn được nữa. Vàng sộm cho rồi. Vàng tươi dốc ngược ống. Vàng gì vàng gì… nữa đi.
Mẹ nàng vẫn bán cam. Quả ủng con gái ở nhà. Quả quắt ngâm suối, phồng phồng bợt bạt. Mẹ nàng ngồi gốc muỗm, ngoan. Không thể nói: Một người ăn hai người vui, ăn vào hư như con ngựa. Ăn cam thì ngoan, cánh rừng nghiêng bóng cơ mà. Ăn cam thì vui, váy áo vẫy đâu mà khói xăng chậm lại kia mà.
Chẳng ai mua cam, mẹ mang về các nhà gạ lấy ngô non. Cùng màu vàng với nhau, giúp đỡ, chia sẻ. Ăn ngô no, muốn lên rừng, vác cây gỗ về. Ăn cam ngọt muốn ngủ. Giường thì gần mà rừng thì xa.
Người ta lại mang cam đến, bảo: Chỉ gốc muỗm này, bên kia rừng ban thì mới ngọt. Lìa cành rồi vẫn ngọt. Phà ơi nói hay đi, ở lại nói con gà con lợn thôi.
Chẳng nói con gì. Mẹ chỉ cười thôi. Bao nhiêu người chọn không được. Tròn tròn vàng vàng lên cao hạ xuống, tay trái sang tay phải, vần vò. Làm cam cho người ta xoa. Người ta không mang về nhà.
Nàng bán cam. Không, nàng đứng nghiêng cúi. Cúc bạc căng muốn đẩy nàng lên. Người ta hỏi kìa. Tên là gì? Tên là Sa. Má hồng tiếng Thái gọi là gì? Là cái tay bỏ ra đi. Ô bán cam không cho sờ cam à. Buồn cười quá. Mua một quả nhé. Được, một bằng một trăm.
Nàng biết vừa đủ chữ.
Anh lấy hai bung cam. Xin lên nhà, nghỉ. Nàng gánh hộ cam mình, cam người ta. Cầu thang chín bậc mây. Tóc thơm không phải bồ kết, bưởi. Dẫn đường.
Mẹ ngồi với chõ xôi. Dài đứng. Thơm ba chiều. Tằng cẩu in vệt đen sang nàng.
Khung cửi mạng nhện. Quờ tay dinh dính. Đen sang vàng mắng, hai con.
Ba giọt nước chị em. Áo phông, quần đùi bò, đo chân nhau. Nắng chấm điểm: Dài 7, trắng 2, cảm giác 3. Nàng 9 điểm, anh chấm bao giờ mang về.
Nhiều người bản đến uống rượu. Rượu phố, thịt phố oang oang au hảnh nớ. Cam anh về cam nàng. Vàng nuột mười ngón tay. Say nữa. Say nữa.
Đo chân, xoa bụng, tìm mùi cam. Mẹ thở đều đều.
Bẹp quả cam. Sáng từ lúc nào.
* * *
Anh làm cây cầu bằng nàng buổi trưa, buổi tối.
Hai em nàng học vừa đủ chữ ra phố bán hàng.
Mẹ lên lấy củi cam. Cây đổ xuống nương, người ta thích củi núi đá.
Quen hơi bén. Cây cầu xong một trụ. Nàng nôn. Mùi sắt, bê tông. Anh đi tắm, nàng vẫn nôn. Anh làm con cá nướng xa. Bếp, khói anh lên xà nhà. Quẩn trước mặt.
Trụ thứ hai xong. Nàng khoanh tay đứng sàn ngoài. Những chiếc xe từ rừng vẫn ra. Chở cả nắng, mây. Màu hi vọng, màu tình yêu? Nàng biết vừa đủ chữ.
Trụ thứ ba, thứ tư, hết. Anh không nói gì. Vẫn biết. Nàng hỏi có cho cả con đi mừng không. Đừng.
Nàng vẫn đi. Dòng người đẩy. Thoáng anh, tiếng hoàn thành bao khó khăn vượt qua. Loa lấy anh, nhại anh, vách không đồng ý.
Anh không về nữa. Cây cầu khác, xa lắm. Mảnh giấy ba chữ: Yêu. Hôn. Hẹn gặp?
* * *
Li hôn sao mà đắt thế.
Anh tên là Hà. Quê Thái Bình, có con sông to bằng trăm con suối. Cây cầu to dài như chiếu trên tivi.
Ông khách hứa tìm. Chắc anh ấy chưa xong cây cầu.
Nàng dứt khoát đòi trả tiền thừa. Sự giằng co rung rung. Đứa bé mắt tròn. Mẹ có bố về, mẹ nhớ xong thì mai không khóc nữa.
Xe đi. Áo phông, váy vệt mũi dãi. Vẫy đi. Bố sẽ về.
Ông khách về kể chuyện cho cả phố. Thở dài miền gái đẹp. Nhiều cô mặc áo phông, váy xẻ. Lí luận. Nhẹ dạ. Hồn nhiên. Ông cãi hộ: Nàng biết vừa đủ chữ.
Gốc muỗm ngày xưa. Cam đổi tên là kẹo lạc, nước lon, rượu săm. Rào tre sau, trái, phải. Đôi mắt; lên mái gianh đếm được hai mươi phên, ra đường đếm được hai xe ca, chín xe tải, ba mươi xe máy. Bàn tay xếp lại hộp, gói. Đôi chân cày đường đất bột...
Anh ấy chưa về. Không ai ngắm cây cầu. Có cầu người ta xé gió. Quán như lá chuối tướp tơ.
Ngày lại ngày. Gặt mùa, cơm mới, tết. Không bán nữa. Hỏi làm sao. Tượng trả lời, đôi mắt gỗ. Xa xa.
Tại sao em cho anh? Không nhận... thì nhận vật kỉ niệm. NOKIA đen trắng. Nàng đầu tiên ở bản có di động. Những con số, xếp ngang dọc, phím xanh đỏ. Anh ấy dạy mấy lần vẫn quên. Nàng biết vừa đủ chữ.
Nàng đã biết nghe. Chiều nay anh qua, 9 giờ tối. Sao lại thế? Anh đến là ăn cơm, uống rượu. 9 giờ tối, chỉ có ngủ. Ừ, vợ chồng mà.
Mẹ vui hơn nàng. Gói quà hai túi. Lời mật ong lễ phép.
Anh làm cầu nữa xong rồi à? Không anh chỉ đến nghe chuyện của em. Anh tên là Hà không? Không, anh là một chiều mưa. Là bạn của tha hương. Khó hiểu quá. Nàng biết vừa đủ chữ.
Anh tha hương. Anh hoài hương. Anh kỉ niệm... Nàng là gì? Gió núi không đi đường cầu thang. Hương chàm chui qua cửa sổ. Mùi bia, rượu ngoại nàng không uống cũng tự tìm đường vào. Nàng nghọeo cổ. Buồn nôn. Không phải của anh Hà. Nôn anh Hà ra bé Là. Sao không vùng chạy. Chả biết nữa, hình như giống anh, đôi tay như cái kìm.
Nàng có tên ở thành phố. Lúc 9 giờ tối. Nhiều người làm văn tả... Hoang dã, thật hạt vô cùng. Đưa lên đỉnh núi, đám mây; đưa xuống tận cùng con suối... Nàng không biết nói hay. Nàng cũng không biết làm như thế. Nàng chỉ tìm anh Hà thôi. Chẳng ai biết điều này.
Thành phố đến nàng vào ban đêm. Ngôi nhà sàn rung những bước chân khổng lồ. Nghiêng xuống suối, thèm vào dìm kẻ không biết bơi. Nghiêng sang cây muỗm, đâu có lá xanh. Những chiều thẳng đứng, đôi mắt lên, dò tìm. Không phải, múi chảy xệ. Anh Hà như cây nghiến kia mà.
Nàng không đồng ý, nhiều đứa em muốn tìm hộ nàng. Nhiều chữ mới tìm được tình yêu.
* * *
Nàng ra phố. Học nữa.
Người phố vẫn về bản. Mẹ bảo chỗ nàng ở, mẹ nhắn nàng. Người phố vẫn về bản.
Nàng nói nàng có con. Không tin.
Nàng nói nàng có chồng. Đôi mắt trong veo.
Nàng mua bảy quả cam. Có người bảo cam chỉ đi thăm người ốm.
Nàng tặng cam, người kia trả công bài toán. Hệ phương trình hai ẩn số: X nàng cho rất nhiều người, mà chỉ thấy mỗi anh Hà. Y anh Hà người tốt, tại sao chỗ nào cũng bắc cầu.
Cam được lấy ra, từng quả, từng quả. Chạy vòng tròn. Ấm chén gạt về một góc. Giả sử. Ví dụ. Nàng ù tai. Người kia chưa từng làm thầy giáo.
Nàng thuê một căn phòng gần quán cà phê. Có mặt trời mới ở nhà. Sao không tiền một nửa. Bà chủ xòe tay xin chìa khóa. Nàng không hiểu. Nàng mới học vừa đủ chữ.
Quán. Nhiều lán lợp gianh. Phố nghèo. Người giàu. Tờ một trăm cạ cạ ngực.
Khuya. Không ngủ. Chân to nặng. Hỏi có phải anh Hà. Hềnh hệch: Hà, Tuấn, Minh, Thanh đều là anh.
Mặt trời. Đứa bé lau tay đầy đường mỡ bánh rán vào áo mẹ. Đúng chỗ hai người hôn nhau trên ngực áo phông.
Nàng mở mắt. Ôm con. Kéo tay nó hay nó kéo nàng dậy. Không được. Chợt nhớ lao động. Mọi việc đều là lao động. Bà chủ vẫn thường bảo thế.
* * *
Nàng ở đồn công an. Anh ấy trẻ, ngực áo có chữ Nguyễn Ngọc Hà. Nàng yên tâm. Hỏi…. Đáp. Không cúi mặt. Đôi mắt mềm đi.
Nàng phải về bản, qua ủy ban xã, giấy đi trước bảo nàng về. Cái quán bây giờ là màu vàng. Đất, đất. Tung lên. Người ta mở đường. Cầu to trước, đường to sau.
Cây muỗm chưa hạ. Công trường lấy chỗ nghỉ tạm.
Nàng và con ngồi bên gốc muỗm. Họ đang bóc cam ăn. Toàn người trẻ. Cam từ thành phố mang lên. Một người mời, nàng nhận đưa con.
* * *
Người phố hỏi nhau. Lan Anh đâu. Bà chủ mất công những cốc nước chờ. Quán cố 23 giờ đóng cửa. Kiểm kê được có sáu mươi cốc cam đá.
Người bản không hỏi. Bảo: Sa ơi đi nương.
Phát, đốt, dọn, cuốc, tra. Tròn. Nàng văng ra khỏi vòng tròn. Không được.
Nàng học vừa đủ chữ. Nàng về bản.
CÁ NHỎ NGƯỢC DÒNG...
Truyện ngắn của Vũ Thị Huyền Trang
Thằng Cá nhỏ của mẹ mới ngày nào còn lẵng nhẵng chạy theo mẹ ra bờ sông cất vó tôm, thế mà giờ đã lớn lắm rồi. Mẹ ngồi nhà nhiều lúc không tưởng tượng nổi khuân mặt của con giờ ra sao, không biết cái cục thịt thừa trên trán con có lớn hơn không. Mẹ cứ thắc thẩm mãi nếu mà nó to ra thì tội con trai mẹ bởi không biết có đứa con gái nào nó chịu thương không. Mấy lần con điện về, mẹ cứ định hỏi lại sợ con buồn nên thôi, mẹ cứ tự trách mình sao sinh con ra đã vậy. Trong lúc mẹ ngồi ngóng ra sông và nghĩ ngợi về cục thịt thừa trên mặt con, thì thằng Cá nhỏ của mẹ đang lang thang ở trời tây. Con đi mười năm rồi chưa về thăm mẹ, chỉ thi thoảng gởi chút tiền và bưu phẩm linh tinh cùng vài cuộc điện thoại bất chợt trong những cuộc hành trình rong ruổi đi tìm cái mới của con. Cái cục thịt thừa con cũng đi phẫu thuật cắt phăng lâu rồi mà mẹ cứ hoài thắc thẩm.
Nhà mẹ gần sông nên khi sinh con ra mẹ thường gọi con là Cá nhỏ để lớn lên con mẹ bơi theo sông ra biển lớn. Đời mẹ nhọc nhằn nhiều rồi chỉ mong chắt chiu cho con những thương yêu như bãi bồi phù sa sông Hồng chắt chiu qua bao năm tháng để làm nên những mùa màng trù phú. Mỗi lần nhìn con ngóng qua bên kia sông, mẹ lại mong con mau trưởng thành bởi còn có những chân trời, những vùng đất mới đang chờ con khám phá.
Thế là năm hai mươi tuổi, sau khi xuống thành phố học Đại học được hai năm, Cá nhỏ kiếm được suất học bổng toàn phần đi du học bên Pháp. Với mẹ nơi đó là đại dương, mà đại dương thì mênh mông thường chẳng thấy bến bờ. Lúc con bé mẹ mong con đủ cứng cáp bay xa nhưng những tháng năm vắng xa con vời vợi, mẹ lại chiều chiều ngóng ra sông chờ Cá nhỏ về bên vòng tay mẹ. Nhưng thường thì mấy khi loài cá lại lội ngược dòng về sông nhỏ quê nhà để ngồi trong sắc thẫm hoàng hôn buồn hắt hiu như mẹ bây giờ. Mẹ biết vậy nên mẹ có bao giờ trách Cá nhỏ đâu…
Thi thoảng Cá nhỏ lại điện về nói con đang ở thành Rome cổ kính, mẹ có biết chỗ này không? À! Chắc mẹ không biết đâu, nơi đây có đấu trường Coloseum do Hoàng đế Vespsia xây dựng cách đây gần 2000 năm, nó có sức chứa năm vạn người. Tuyệt quá đúng không mẹ? Ở đầu dây bên kia mẹ vừa nghe vừa gật đầu nói “Ừ! Tuyệt thật! Tuyệt thật”.
Lúc khác Cá nhỏ lại điện về bảo:
- Con đang ở xứ sở của cối xay gió, đố mẹ biết là nơi nào?
Ở đầu dây bên kia mẹ à lên một tiếng rõ to:
- Đôn-ki-hô-te đánh nhau với cối xay gió phải không?
- Ồ! Sao mẹ giỏi vậy?
- Câu chuyện này chẳng phải con rất thích hay sao? Trong sách giáo khoa lớp 8, con thường đọc vanh vách mỗi buổi tối nằm trên chõng tre hóng gió. Hồi ấy mẹ bảo không có cái cối xay gió nào thật trên đời nhưng con thì cứ quả quyết là có. Con còn nói sau này lớn lên con sẽ đi tìm cối xay gió cho mẹ xem. Giờ được nhìn thấy cối xay gió rồi có thấy đẹp không con?
- Tuyệt lắm mẹ ạ. Con đang đứng trong làng Kinderdijk - làng cối xay gió mẹ ạ. Ở đây cỏ xanh, gió mát lắm mẹ ạ. Con rất muốn mang cối xay gió về cho mẹ nhưng chúng to lớn và mạnh quá, làm thế nào để con có thể đút chúng vào túi quần để mang về hả mẹ?
Con cười, mẹ cười, ngả nghiêng cả miền thương nhớ. Lúc con cúp máy rồi mẹ cứ thắc thẩm mãi, tưởng gì chứ cỏ xanh và gió mát thì quê mẹ thiếu gì, sao phải đi đến tận đẩu đâu. Mẹ lại nhìn ra sông, nhớ cái hồi Cá nhỏ suýt nữa thì chết đuối chỉ vì muốn bơi qua bên kia bờ sông, xem bên ấy có những gì. Đến lúc Cá nhỏ lớn lên, học bơi thạo, mỗi lần qua sông dễ ợt, bơi mươi phút là sang. Có lần mẹ hỏi bên sông có gì mà khiến con thích thú vậy? Cá nhỏ bảo bên ấy có cát, có cánh đồng ngô, có nhà. Mẹ lại hỏi còn có gì khác nữa không? Gãi đầu gãi tai một lúc, con hồn nhiên bảo bên ấy có người. Mẹ phì cười bảo những thứ đó bên này cũng có sao cứ phải lao ra giữa dòng chảy nguy hiểm để kiếm tìm…
Lần nữa, Cá nhỏ điện về cho mẹ nói con đang ở sông Volga này mẹ, đây là con sông dài nhất Châu Âu, nằm ở miền tây nước Nga đó. Mẹ định hỏi xem sông có đẹp không nhưng lại thôi vì sông nào mà chẳng có đôi bờ, nước trôi lững lỡ ngày yên ả và cuốn xiết khi mưa bão đến. Sông quê mẹ cũng thế thôi…
Bữa nọ mẹ xem thời sự, thấy thông tin về vụ chìm tàu du lịch trên sông Volga khi đang chở 185 người đi tham quan. Mẹ lập cập gọi điện cho con, chuông tút hoài mà không thấy con nghe, mẹ đã không thể bình tĩnh nổi nên bật khóc. Con bước từ phòng tắm ra, thấy cuộc gọi nhỡ từ số máy bàn nhà mẹ. Con gọi lại, mẹ hỏi con có sao không? Có đang ở Volga không? Con ngớ người một lúc thì hiểu ra liền bật cười bảo mẹ lẩm cẩm rồi, con ở Volga từ hai tuần trước cơ mà. Bây giờ con đã quay về Pháp. Mẹ lại ra trụ đá ngồi, buồn vui bộn bề, hoang hoải…
* * *
Cá nhỏ ra đại dương đã được mười năm. Bỗng một hôm mưa gió tự nhiên thấy nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ bên sông quê quay quắt nên cả đêm bồn chồn không làm sao ngủ được. Sáng hôm sau Cá nhỏ quyết định thu xếp công việc trở về quê một chuyến. Nhưng để tạo bất ngờ cho mẹ nên Cá nhỏ không điện trước. Mười năm quê đổi thay nhiều, Cá nhỏ hỏi về bến sông làng mẹ người ta chỉ tay về phía cây cầu. À! Hóa ra là cây cầu trong câu chuyện mẹ kể qua điện thoại vào một hôm nào đấy. Cá nhỏ không ngờ bến đò năm xưa giờ thay bằng cây cầu to đẹp đến vậy. Thế mà khi nghe mẹ hồ hởi kể về nó bằng tất cả niềm vui sướng thì Cá nhỏ đã cắt ngang lời mẹ bằng câu chuyện về cây cầu Skywalk Grand Canyon được làm bằng kính tại bang Nevada của Mỹ mà con đã từng được đến. Lúc ấy con đã không cần biết rằng người dân quê đã không phải vất vả đợi đò sớm khuya trong mưa gió vì đã có một cây cầu. Con cũng không cần biết rằng cây cầu quê hương tuy rất nhỏ bé so với những cây cầu mà con từng bước chân qua nhưng nó là niềm mơ ước, là khát vọng bao đời của người dân quê lam lũ. Của những đứa trẻ như Cá nhỏ mấy mươi năm trước luôn khao khát được sang bờ bên kia, được biết bên ấy có những gì.
Cá nhỏ đứng lớ xớ trên cầu, ngó nghiêng tìm mái nhà của mẹ lúc này mới chợt giật mình, cảnh hai bên bờ sông sao tiêu điều giống vừa trải qua một cơn ngập lũ. Bãi mía đổ dập, vài ngọn mía như còn cố ngóc lên từ đất cát, vài ngôi nhà xây tường còn loang lổ vết bùn. Giữa sông còn trôi lều phều vài thanh tre lứa, vài tàu lá cọ. Bỗng nhiên như có một dòng điện mạnh chạy dọc sống lưng, Cá nhỏ đứng đó, rút điện thoại gọi vào số máy của mẹ, định trêu mẹ chút xíu cho mẹ vui. Nếu mẹ nhấc máy, thể nào mẹ cũng hỏi “Cá nhỏ đang ở đâu vậy?”, lần này con sẽ trả lời “Cá nhỏ đang đứng trên cây cầu quê mẹ”. Chắc là mẹ sẽ mừng vui lắm. Thế nhưng số máy của mẹ đã không thể liên lạc được, giọng nói vô hồn của tổng đài vang lên khiến con lạnh buốt người. Mẹ thường chẳng bao giờ tắt máy vì mẹ từng bảo rất sợ lúc cần đến mẹ con lại chẳng thể liên lạc được. Nên điện thoại không dây mẹ ra vườn cũng mang theo, mẹ đi ngủ cũng cũng để máy ngay đầu giường và pin thì luôn được sạc đầy. Vậy bây giờ mẹ ở đâu? Mẹ đang làm gì mà lại khóa máy, mà không thể nhận cuộc gọi từ con? Cá nhỏ vội vã chạy về phía những người dân đang bới tìm trong đống bùn đất ngập đến bắp chân để hỏi thăm nhà mẹ. Người dân nơi đây nhận ra cái thằng cao to, ăn mặc sang trọng, tay xách vali kia chính là thằng Cá nhỏ lem luốc bị cha bỏ lại từ tấm bé. Người làng nhìn cảnh bùn đất bốn phía, sông nước mênh mang mà rưng rưng bảo:
-Sao về muộn vậy? Hôm đưa mẹ cháu ra đồng không có tiếng hờ khóc của cháu con. Lạnh lắm! Điện thoại nhà cháu lũ cuốn rồi, chẳng ai biết đường nào mà liên lạc với cháu. Thôi thì, cũng còn may biết tìm thấy đường về.
Cá nhỏ như chết đứng giữa làng quê sau mười năm xa cách trở về. Người làng bảo mẹ bị trúng gió nằm liệt giường cả tháng, khi đó chắc con đang ở sông Volga. Ngày mưa bão đến, nhà tranh vách đất lùa lùa bốn bên, bão quật đổ, sông nước dâng lên vùi mẹ chìm trong biển nước. Lúc đó con đang ở đâu? Cá nhỏ của mẹ, đứa con mà mẹ mang nặng đẻ đau, mẹ thương yêu hơn chính bản thân mình đã ở đâu và làm gì vào giây phút ấy? Cái giây phút mẹ ốm nằm liệt giường, thấy nước sông dâng lên dần dần mà không làm cách nào chạy thoát. Mà không có một bàn tay nào đỡ mẹ dậy, không có ai ở bên cạnh mẹ lúc hoảng sợ nhất. Chắc hẳn lúc ấy mẹ đã rất cô đơn? Mẹ đã gọi tên Cá nhỏ nhiều lần, thậm chí đã cầu nguyện cho con hạnh phúc. Lúc ấy Cá nhỏ của mẹ đang ở giữa đại dương. Mà đại dương thì vốn mênh mông và xa xôi khó tìm thấy bến bờ…
Người làng chỉ về phía trụ đá, mẹ nằm lại ở đó. Sau bao nhiêu tháng năm, bao nhiêu thăng trầm, bao mùa bão lũ, ngay cả mái nhà của mẹ lũ cũng đã cuốn đi, chỉ cái trụ đá bên lối mòn dẫn vào nhà mẹ là vẫn còn. Trụ đá mẹ nhờ người khênh từ trên núi xuống rồi dựng lên vào ngày cha ra đi, bỏ lại hai mẹ con chênh vênh mái lá. Đã có lần Cá nhỏ hỏi mẹ:
- Mẹ dựng trụ đá làm gì hả mẹ?
- Để người đi còn biết đường tìm về. Ở cõi đời cả người chết và người sống cần có một bến bờ, một lối quen, một điểm trụ để đi đâu cũng nhớ.
-Mẹ đang chờ cha con sao?
Đó là lần đầu tiên mẹ không trả lời câu hỏi của con. Mắt mẹ nhìn xa xăm, vời vợi một ánh buồn khó tả. Khi đó Cá nhỏ 16 tuổi mà trong buổi hoàng hôn ấy, Cá nhỏ nhìn thấy lẫn trong búi tóc đen của mẹ lẫn vài sợi trắng. 18 tuổi con đi, quên câu hỏi hôm nào mẹ bỏ ngỏ nơi trụ đá bến sông, mười năm sau trở về không còn mẹ trên đời, con mới chợt hiểu ra… Chắc biết con vô tâm nên trụ đá còn đứng đó để dẫn lỗi Cá nhỏ về bên bến sông quê của mẹ. Người làng bảo, cũng vì không muốn xa dời trụ đá và những kỉ niệm năm xưa nên dù năm nào cũng có một mùa lũ đi qua, dù xã đã nhiều lần giục di dời nhà cửa lên khu an toàn hơn nhưng mẹ vẫn nhất quyết không chịu đi. Con ngồi đó lặng câm, thấy những tháng ngày đã qua, nhưng nơi từng đến đều trở nên vô nghĩa…
Con đi mười năm giờ trở về chợt nhận ra sông quê mẹ hoàng hôn còn đẹp hơn sông Volga, khu vườn rộng mênh mông của mẹ cỏ còn xanh, gió còn mát hơn ngôi làng Kinderdijk con từng đến. Con bây giờ không còn thiết tha ngồi ngóng về phía bờ bên kia chỉ để thắc mắc xem bên đó có những gì. Con đi mười năm, về ra thăm trụ đá, sờ tay thấy vết lõm sâu hơn. Người làng bảo chiều nào mẹ cũng ra sông ngóng theo dòng chảy. Trụ đá này hơn hai mươi năm về trước Cá nhỏ vẫn thường ngồi ngóng mẹ thả lưới, giăng câu…
TIẾNG ĐÀN ĐÊM XUÂN KỶ DẬU
Truyện ngắn của HOÀNG TÙNG
Một cung gió thảm mưa sầu
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay
Truyện Kiều – Nguyễn Du
Đêm mồng ba, rạng sáng mồng bốn tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), Quang Trung Hoàng đế dẫn đại quân tiến đánh vào đồn Ngọc Hồi, công phá Thăng Long, đánh đuổi giặc Mãn Thanh.
Tương truyền rằng đêm hôm đó, giữa vùng binh lửa, quân Tây Sơn và quân Thanh đều nghe thấy tiếng đàn lạ lùng từ đâu vẳng tới.
Đêm hôm đó, một đại thi hào đất Việt đã nghe thấy tiếng đàn. Sau này, ông tả lại trong tác phẩm bất hủ của mình: “Trong như tiếng hạc bay qua. Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.”…
Có người nói, đó là tiếng đàn của thần tiên.
Có người nói, đó là tiếng đàn của ma quỷ.
Sự thực không phải như vậy.
Đây là câu chuyện về tiếng đàn kỳ lạ đêm xuân năm Kỷ Dậu…
1. Chiếc xe ngựa lầm lũi trong ngày đầu xuân lần lần rời khỏi thành Thăng Long.
Chưa bao giờ kinh đô Đại Việt lại đón Tết trong một khung cảnh tiêu điều đến vậy.
Chỉ trong vòng mười năm mà Thăng Long đã chịu biết bao nhiêu là biến động.
Tây Sơn tiến quân ra Bắc. Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh không chống lại được, bị quân Tây Sơn bắt giết. Vua Lê Chiêu Thống sợ hãi trốn sang Trung Quốc, cầu viện nhà Thanh mong chiếm lại ngai vàng.
Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị cùng hai mươi chín vạn quân Thanh tiến vào Đại Việt. Các tướng Tây Sơn không chống cự, rút lui khỏi Thăng Long, đóng binh cố thủ ở Tam Điệp.
Tôn Sĩ Nghị dẫn quân thẳng tiến một mạch vào kinh thành, không gặp chút chống cự đáng kể nào. Họ Tôn hung hăng tự đắc, cho rằng đám giặc Tây Sơn khiếp sợ Thiên triều. Tôn Sĩ Nghị cho đóng quân tại Thăng Long. Các tướng thoải mái ăn chơi hưởng lạc. Quân sĩ thả sức cướp bóc người dân.
Vua Lê Chiêu Thống e sợ sau này chúa Trịnh sẽ lại trở thành quyền thần mới sai đốt phá phủ Chúa. Phủ điện cháy rừng rực mấy tuần mới hết. Người dân ai nấy đều tiếc cho một công trình kỳ vĩ của đất Thăng Long giờ chỉ còn là đống tro tàn.
Hàng ngày, vua Lê Chiêu Thống đến trước doanh trại của Tôn Sĩ Nghị, cầu mong họ Tôn đem quân tiến đánh quân Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị vốn khinh địch, trấn an nhà vua để quân sĩ nghỉ Tết xong xuôi rồi sẽ một trận sấm sét dẹp tan ba anh em nhà họ Nguyễn. Mấy lần sau, vua Lê Chiêu Thống cố xin gặp mong giục họ Tôn tiến quân. Tôn Sĩ Nghị cáo bận không tiếp. Vua Lê cùng đám tùy tá lủi thủi ra về. Người dân nhìn cảnh tượng đó mà ngao ngán.
Từ khi có đế có vương, chưa bao giờ Đại Việt lại có một vị vua hèn nhụt như thế.
Quân Thanh dựa thế Tôn Sĩ Nghị, ngày càng hống hách ngạo ngược.
Vua Lê Chiêu Thống biết nhưng e sợ Thiên triều, không dám ho he.
Riêng với những phe cánh trong nước, nhà vua thẳng tay trừng trị. Những kẻ theo chúa Trịnh, theo Tây Sơn đều bị lùng bắt gắt gao.
Không ngày nào không có người rơi đầu giữa chợ.
Không lúc nào không thấy tiếng khóc than oán thán.
Lòng người tao tác. Phố xá im ắng.
Chưa bao giờ Thăng Long lại đón Tết trong một khung cảnh tiêu điều đến vậy.
2. Chiếc xe ngựa lọc cọc đi qua phủ chúa. Phủ đệ giờ đổ nát tan hoang. Nền cũ lâu đài nhộm vàng trong ánh tịch dương hoang liêu cô quạnh.
Ông lão đánh xe quay lại nói với nàng kỹ nữ: “Ngày xưa hẳn cô đã phải vào trong phủ chúa nhiều lần rồi nhỉ?”
Kỹ nữ ôm cây Nguyễn cầm vào lòng, lặng lẽ gật đầu.
Nàng vốn từng là đệ nhất kỹ nữ chốn kinh thành. Trường Xuân Viện có nàng như có một bảo vật. Có nàng, chưa lúc nào Trường Xuân Viện ngừng tiếng sênh tiếng phách. Có nàng, chưa lúc nào Trường Xuân Viện không nhộn nhịp tao nhân mặc khách lại qua. Ai cũng muốn đến nghe tiếng đàn diễm tuyệt của nàng.
Kỹ nữ vốn sinh ra trong kỹ viện. Nàng học nghệ từ nhỏ, từng luyện đàn đến mức máu chảy mười đầu ngón tay. Đến khi thành tài, tiếng đàn trở thành tiếng lòng. Khi vui, tiếng đàn như có tiếng chim hót. Khi buồn, tiếng đàn ngân như tiếng khóc.
Thủa đó, mỗi khi phủ chúa mở tiệc là kỹ nữ lại được mời vào trong phủ đánh đàn mua vui. Phủ chúa uy nga mỹ lệ ngay bên hồ Tả Vọng. Mỗi khi yến tiệc, đèn nến lung linh tưởng như chốn Bồng Lai tiên cảnh. Đồ ăn thức uống bạt ngàn. Bồ đào mỹ tửu ngập tràn trong tiếng đàn sênh sáo phách.
Chốn hoa lệ xưa, giờ đống đổ nát hoang tàn trong ráng chiều vàng vọt.
Trường Xuân Viện giờ cũng đã bị tàn phá tan hoang.
Kỹ nữ không còn nơi nương náu. Nàng không biết đi đâu. Chỉ muốn rời xa chốn kinh thành u ám.
3. Viên gia nô ngồi im trong một góc xe, kín đáo liếc nhìn kỹ nữ. Y hóa trang ăn mặc như một người nông dân. Kỹ nữ có thể không nhớ y nhưng y biết nàng khá rõ. Gia nô từng là cận vệ thân tín của chúa Trịnh. Ngày xưa mỗi lần kỹ nữ vào phủ chúa đánh đàn, y lại say mê trong tiếng đàn kỳ tuyệt của nàng. Y từng ao ước được một lần được người đẹp đàn riêng cho mình nghe. Nhưng phận tôi đòi, y biết đó chỉ là một giấc mơ xa vời.
Viên gia nô không ngờ ngày hôm nay y lại được ngồi bên cạnh người con gái mình hằng ngưỡng mộ.
Mọi thứ đều đã đổi thay.
Nền cũ lâu đài tan hoang đó chính là ngôi nhà xưa y từng nương náu.
Chốn xưa còn đó, nhưng giờ chẳng ai biết chúa Trịnh lưu lạc phương nào.
Chúa Trịnh Bồng bị quân Tây Sơn đuổi khỏi thành Thăng Long, trốn về vùng Kinh Bắc. Sau khi quân Tây Sơn rút đi, chúa Trịnh Bồng cùng đám người thân tín quay lại kinh thành, muốn khôi phục ngôi chúa. Vua Lê Chiêu Thống không đồng ý, cho mời tướng Nguyễn Hữu Chỉnh về đuổi chúa Trịnh. Chúa Trịnh Bồng thua cuộc chạy khỏi Thăng Long, lưu lạc chốn dân gian, không biết đi về đâu. Nghe nói ngài bỏ lên vùng cao sống đời ẩn dật. Lại có tin đồn ngài cắt tóc đi tu. Có người thì bảo ngài đã chết trong đám loạn quân.
Viên gia nô đã cất công đi tìm tung tích của chúa Trịnh Bồng nhưng không thấy đâu. Trở về kinh thành Thăng Long, y bị cả quân Tây Sơn và lính nhà Lê truy lùng. Y phải cải trang thành một người nông dân, mong sớm trốn khỏi chốn kinh thành.
Nhưng khi đi qua chốn cũ, nhớ lại lầu các huy hoàng thủa nào, viên gia nô không khỏi rưng rưng nước mắt.
4. Chiếc xe đi dần xa khỏi phế tích phủ chúa. Ánh tịch dương như nhuộm vàng cả kinh thành. Chàng nho sinh nhìn cảnh hoang tàn, thở dài giọng cảm khái: “Chúa Trịnh có thể một thời là quyền thần, nhưng nhà vua xử sự thế này chẳng phải quá hẹp hòi hay sao?”
Ông lão đánh xe như bị điện giật, quay lại nhìn chàng nho sinh dài giọng: “Cậu ăn nói liều mạng nhỉ? Có định giữ cái đầu trên cổ không đấy?”
Nho sinh cười! Chàng đích thực là một kẻ liều mạng.
Chàng đã từng liều mạng với thần linh.
Hơn mười năm trước chàng lên kinh ứng thí. Đám nho sinh rủ nhau ngủ lại ở đền Trấn Vũ cầu báo mộng công danh. Đêm hôm đó, chàng mơ thấy thần nhân hiện về báo đến năm ba mươi tuổi chàng sẽ đỗ Tiến sĩ, bốn mươi tuổi sẽ làm đến chức Thượng thư. Sáng dậy, chàng kể lại giấc mơ cho bạn bè nghe. Bạn bè ai nấy đều chúc mừng vì tương lai chàng thật sán lạn, sau này trở thành trọng thần của triều đình. Riêng chàng suy nghĩ. Bây giờ mới tuổi đôi mươi. Chờ đến tận mười năm nữa mới đỗ đạt làm quan, e rằng chẳng còn bao nhiêu thời gian để mà trổ tài kinh bang tế thế. Nghĩ vậy, chàng liền viết lên tường: “Trí chứa giáp binh. Bụng đầy kinh sử. Nhị thập Tiến sĩ. Tam thập Thượng thư?” Đám bạn bè đều chê chàng kiêu ngạo. Nhưng quả nhiên năm đó chàng thi đỗ Tiến sĩ khi mới tròn hai mươi tuổi.
Liều với thần linh, chàng đã thắng!
Chàng đã từng liều với chúa Trịnh.
Bạn bè cùng lứa đỗ Tiến sĩ đều biết triều đình tuy có vua họ Lê nhưng thực quyền đều nằm trong tay chúa Trịnh. Sau buổi lễ xướng danh gặp mặt nhà vua, ai nấy đều tìm đến phủ chúa ra mắt. Điều này đã thành lệ từ hơn trăm năm. Riêng chàng nho sinh không chịu. Chàng nói danh chính ngôn thuận triều đình là của vua Lê, sao bậc nho sĩ lại bỏ qua điều quốc sỉ mà khúm núm trước chúa Trịnh? Chuyện đến tai chúa Trịnh. Chúa ghét lắm, chỉ cho chàng làm một chức thư lại nhỏ trong cung. Thế rồi chúa Trịnh bị diệt. Vua Lê nhớ chuyện xưa, thương chàng trung hậu, cất nhắc chàng lên chức Thượng thư. Năm đó chàng vừa tròn tuổi tam thập, vinh quy áo gấm về làng, ai nấy đều khấp khởi vui mừng.
Liều với chúa Trịnh, chàng đã thắng!
Lần này, chàng liều với quân Thanh.
Quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm dẫn ra Bắc dẹp loạn Nguyễn Hữu Chỉnh vào chiếm Thăng Long. Vũ Văn Nhậm vốn bản tính hiếu thắng, lại tỏ vẻ hung hăng. Vua Lê Chiêu Thống sợ quân Tây Sơn cướp ngôi, chạy sang cầu viện Trung Hoa. Chàng nho sinh can ngăn nhà vua hết lẽ. Chàng muốn nhà vua gặp trực tiếp Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, kể tội Vũ Văn Nhậm mà đòi lại ngôi báu. Vua Lê không nghe, quyết cầu viện nhà Thanh. Chàng nho sinh đi theo nhà vua lưu lạc sang tận Trung Quốc.
Nay ngôi báu đã trở về với nhà Lê. Các quan lại đi theo nhà vua qua bên kia biên giới cầu viện đều được phong thưởng hậu hĩnh. Buổi chầu hôm đó, viên tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống ngạo mạn, coi thường bá quan, ăn nói phạm thượng. Chàng nho sinh đứng ra mắng mỏ họ Sầm vì tội vô lễ khiến y không biết đối đáp lại ra sao. Sầm Nghi Đống tức lắm, thưa chuyện lại với Tôn Sĩ Nghị. Họ Tôn sai bắt chàng nho sinh giam ngục. Vua Lê không dám can thiệp. Sau đó, chàng bị nọc đánh 50 gậy, cắt bỏ mọi chức tước, đuổi về quê.
Liều với quân Thanh, chàng đã thua!
Ngày nào về quê võng giá nghênh ngang. Giờ đây chàng rời khỏi kinh thành trên một chiếc xe ngựa lọc cọc.
Chàng nho sinh không tiếc chức quan. Chàng chỉ tiếc rồi đây không khéo, giang sơn gấm vóc Đại Việt có khi lại sẽ rơi vào tay phương Bắc.
5. Chiếc xe ngựa lầm lũi đi về phía Nam thành Thăng Long. Trời đã dần về tối. Sương mù rơi bảng lảng. Đâu đó tiếng chim lợn kêu nghe não nùng.
Đến quán dịch đồn Ngọc Hồi, gã cai binh bắt dừng xe lại. Đóng quân giữ đồn Ngọc Hồi là tướng Phó tướng Hứa Thế Hanh. Đồn Ngọc Hồi là cửa ngõ phía Nam, là yết hầu dẫn vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị coi đây là cửa khẩu trọng yếu. Quân Thanh canh gác quanh đồn dày đặc, tầng tầng lớp lớp. Nhưng giờ đang tiết xuân, lại vừa mới qua ngày Tết Nguyên Đán. Xa quê. Nhớ nhà. Đám lính nhà Thanh uống rượu say túy lúy, hò hát tưng bừng, chen lẫn đâu đó là cả tiếng khóc tha hương...
Ông lão đánh xe xuống ngựa đưa chút tiền đút lót cho gã cai binh. Hắn nhìn món tiền rồi liếc lên xe. Trên xe có ba người, một ăn mặc như nông dân, một vóc dáng nho sinh và một cô gái nhan sắc xinh đẹp. Hắn xốc lại chiếc áo lính sắc phục nhà Thanh, cầm món tiền của ông lão đánh xe đút thẳng vào túi, mắt hau háu nhìn rồi vươn tay ra vuốt vuốt má cô gái. Kỹ nữ lập tức gạt tay hắn ra. Hắn cau mày: “Cô em này dễ là nội gián của đám quân Tây Sơn lắm”.
Ông lão đánh xe vội xun xoe: “Đại quan, cô gái này không phải là nội gián của quân Tây Sơn đâu. Cô ta là kỹ nữ nổi tiếng ở đất Thăng Long, ai ai cũng biết”.
Gã cai binh mắt hấp háy cười lớn, đưa tay xoa xoa cằm: “Ha ha, kỹ nữ à. Hứa tướng quân chắc hẳn sẽ phải tra hỏi cô em kỹ càng lắm đấy! Cô em thân gái một mình đi cùng hai gã đàn ông thế này, không xảy ra chuyện gian dâm mới là điều lạ!”
Chàng nho sinh thấy hành vi sàm sỡ của gã cai binh, tức khí mắng: “Kỹ nữ thì đã sao? Làm kỹ nữ còn hơn làm giặc cướp. Chúng bay là lính hay là giặc cướp? Chúng bay định bảo vệ người dân hay định hiếp đáp dân lành?”
Nàng kỹ nữ ngạc nhiên. Từ trước đến nay, chưa ai từng bênh vực nàng. Đám đàn ông xun xoe quanh nàng cốt chỉ để quan hệ thân xác. Đám đàn bà coi nàng như vật dơ bẩn. Chủ kỹ viện coi nàng như con chó, con mèo trong nhà. Vậy mà giờ đây lại có một người không quen biết đứng ra nói đỡ cho nàng.
Gã cai binh quắc mắt nhìn chàng nho sinh: “Thằng này chính là nội gián của quân Tây Sơn đây. Bọn bay đâu, gông cổ nó lại cho ta!”
Chàng nho sinh bị đám lính kéo ra khỏi xe lôi đi xềnh xệnh. Chàng tức khí chửi mắng đám lính không ngớt. Mấy tên lính ngoặt cánh khỷu chàng nho sinh lại dẫn đến trước mặt gã cai binh. Hắn giơ nắm đấm to như cái búa giáng thẳng vào mặt nho sinh. Chàng trai không chịu nổi cú đấm thôi sơn, gãy mấy cái răng, ộc máu ra khỏi miệng ngất lịm đi.
Gã cai binh câng câng nét mặt nhìn xung quanh. Đám quân sĩ hò reo ủng hộ. Viên gia nô trên xe và ông lão đánh xe lặng lẽ cúi đầu. Gã cai binh khoát tay bảo đám lính: “Đem thằng này vào giam giục, chờ ngày tiến quân đánh Tây Sơn, chém đầu nó tế cờ!”
Kỹ nữ vội quỳ xuống trước mặt gã cai binh: “Xin tướng quân tha tội cho chàng ta. Chàng ta chỉ là một nho sinh gàn dở, đâu cần tướng quân phải xuống tay sấm sét. Xin ngài nhón tay làm phúc!”
Gã cai binh cười khành khạch vuốt vuốt đôi má của cô kỹ nữ. Nàng cúi đầu nhịn nhục làm thinh không chút phản ứng. Hắn cười cợt, giả lả: “Mỹ nhân đã xuống nước cầu xin, lẽ nào ta lại từ chối”.
Kỹ nữ vội dập đầu tạ ơn. Gã cai binh kéo nàng lại gần rồi thì thầm, miệng hắn tỏa ra mùi xú uế thối hoắc: “Tướng quân Hứa Thế Hanh dẫn đại quân Thiên triều vào đây, ban ơn mưa móc cho người dân Đại Việt. Rồi ngài sẽ sớm muộn dẹp tan bọn thảo khấu Tây Sơn. Ta giới thiệu nàng cho tướng quân, nàng phải phục vụ ngài cho tốt. Tướng quân vừa lòng với nàng, ắt sau này sẽ nhớ đến công lao của ta”.
Nàng kỹ nữ chau mày tỏ vẻ không đồng ý. Gã cai binh thấy vậy liền gằn giọng, chỉ vào chàng nho sinh: “Hãy nhớ rằng mạng sống của gã toi cơm này hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ của nàng đấy! Nghe chửa!”
Nàng kỹ nữ im lặng cúi đầu, với tay lấy chiếc Nguyễn cầm. Gã cai binh cầm chiếc đàn ném ngược trở lại xe ngựa, cười khả ố: “Hứa tướng quân không thích nghe đàn! Cầm đàn vào làm gì”.
Kỹ nữ nhỏ bé lủi thủi đi cùng gã cai binh vào trướng soái. Ông lão đánh xe vội dìu chàng nho sinh lên xe, luôn miệng kêu khổ: “Đúng là cái loại người gàn gàn dở dở, đến chết cũng không đổi được bản chất”.
Rồi ông lão quay sang nhìn gia nô, giọng phân trần: “Cậu ta là đồng hương với tôi. Ngày nào về làng còn võng giá nghênh ngang. Thế mà cái miệng làm khổ cái thân. Từ quan to thành phó thường dân. Rồi giờ thì từ phó thường dân thành kẻ tàn phế. Thời buổi này mà ăn nói chẳng kiêng nể ai cả. Không biết giữ miệng rồi có ngày mất mạng chứ chẳng chơi!”
Viên gia nô không nói nửa câu. Y nhìn chàng nho sinh. Khuôn mặt anh tuấn của chàng giờ thâm tím. Mấy chiếc răng đã bị gãy rời khỏi hàm. Chàng nho sinh thở yếu ớt.
Bên trong trướng vang ra tiếng cười hô hố của gã tướng quân họ Hứa. Sau đó là tiếng vải xé roàng roạc. Rồi tiếng cô gái kêu thét đau đớn. Cả đám lính nhà Thanh quây quanh trướng soái, lắng nghe tiếng động cuồng loạn của cuộc truy hoan, kẻ thì hí hố bàn tán, kẻ thì cười ha ha khoái chí.
Riêng trên xe, ba người đàn ông Đại Việt ngồi im không nói một lời. Tiếng cô gái kêu khóc yếu ớt. Gã tướng Mãn Thanh rú lên động cỡn như chó sói. Mỗi lần có tiếng động là mỗi lần ba người cúi đầu xuống như bị ai tát vào mặt nổ đom đóm mắt.
Chàng nho sinh đau đớn gượng dậy thét lên bi phẫn: “Nhục!”
Ông lão đánh xe vội bịt mồng chàng nho sinh.
Trời dần rạng sáng.
Cuộc truy hoan đã chấm dứt.
Cô kỹ nữ quần áo xộc xệch từ trướng soái chạy thấp thoải ra xe ngựa. Từng hạt châu rơi lã chã. Chàng nho sinh và viên gia nô nghiêng người ra cho cô gái ngồi lên xe. Ai nấy im lặng. Chiếc xe lọc cọc chuyển bánh. Con đường heo hút dẫn đến ngọn đồi cao.
Bỗng gã cai binh cùng mấy tên lính đuổi theo, chặn xe lại. Hắn cười nham nhở: “Sao nàng lại bỏ đi vội vã thế. Mọi chuyện đã xong đâu?”
Kỹ nữ run rẩy trong giá rét sương đêm, tủi nhục cúi đầu: “Tôi đã chiều Hứa tướng quân theo lệnh của ngài rồi. Ngài không cho tôi đi, còn muốn gì nữa?”
Gã cai binh nuốt nước miếng ừng ực: “Nàng chiều Hứa tướng quân rồi, giờ đến lượt ta!”
Nói đoạn gã cai binh vươn tay lôi kỹ nữ xuống. Chàng nho sinh tức giận, lấy hết sức tàn kéo tay giữ cô gái lại. Gã cai binh dùng sức giật mạnh. Cả chàng nho sinh và cô gái bị lôi thốc ra khỏi chiếc xe ngựa. Hắn giơ chân đạp chàng nho sinh ngã dúi dụi. Rồi hắn rút kiếm, nhằm thẳng đầu chàng chém mạnh xuống. Cô kỹ nữ thét lên kinh sợ, lăn vội xuống ôm lấy chàng nho sinh cản lưỡi kiếm, nhắm mắt chờ chết.
Bỗng “Choang!”, thanh kiếm của gã cai binh đã bị một viên đá ném trúng. Kỹ nữ mở mắt ra nhìn. Thanh kiếm đã văng khỏi tay tên cai binh rơi xuống đất. Mặt hắn đang nửa đỏ nửa trắng, nửa giận giữ, nửa sợ hãi. Chính là viên gia nô đã ra tay. Viên đá được tung ra như ám khí, sức mạnh có thể đánh bật tung cả kiếm khỏi bàn tay đô vật của tên cai binh, chứng tỏ bản lĩnh của y không phải tầm thường.
Gã cai binh vội lùi lại. Mấy tên lính lập tức bao vây xung quanh. Đao kiếm tua tủa. Viên gia nô nhặt thanh kiếm lên, hoành kiếm ngang ngực, ánh mắt như có lửa cháy rừng rực. Đám lính khiếp hãi đứng bất động.
Gia nô giục ông lão đánh xe cùng cô gái dìu chàng nho sinh lên xe mà trốn đi. Gã cai binh thấy vậy, lập tức quát đám lính vung gươm xông vào. Gia nô vung kiếm chống trả. Ánh kiếm lấp lánh trong đêm xuân như hàng ngàn vì sao bạc rơi lả tả. Đám lính nhà Thanh tuy đông nhưng không thể nào xuyên qua được màn kiếm quang dày đặc kỳ ảo của y.
Ông lão đánh xe giục ngựa chuyển bánh. Gã cai binh thấy vậy vội chạy đuổi theo xe, tóm lấy chân kỹ nữ. Cô gái thét lên sợ hãi.
Bỗng ánh kiếm quang vung lên lóa mắt. Viên gia nô bằng một chiêu kiếm tuyệt kỹ đã ngoặt ngả người chém một nhát bay đầu tên cai binh. Nhưng cũng vì thế mà y sơ hở mặt trước. Đám lính nhà Thanh ồ lên chém mấy nhát vào đùi khiến gia nô quỵ xuống. Y hét lên giục ông lão đánh xe chạy cho nhanh. Xe ngựa lọc cọc chạy xa dần. Gia nô múa kiếm chặn hậu một cách tuyệt vọng. Đám lính Mãn Thanh quây xung quanh đâm chém tơi bời.
Bỗng từ phía đồn Ngọc Hồi có tiếng pháo lệnh nổ vang. Từ đâu bóng quân Tây Sơn như đội đất chui lên. Tiếng hò reo dậy đất. Lửa cháy bừng bừng. Quân Tây Sơn như một làn sóng ào đến tấn công đồn Ngọc Hồi.
Lúc đó là rạng sáng mồng bốn tết Kỷ Dậu…
6. Đám lính Mãn Thanh bỏ lại viên gia nô, vội vã quay lại phía đồn Ngọc Hồi đón đánh quân Tây Sơn. Hai bên lâm trận, khói lửa tơi bời.
Trên ngọn đồi đẫm cỏ hơi sương, viên gia nô đã bị chém trọng thương nằm rõng rượi trên nền nền đất ẩm. Máu của y đọng thành vũng đỏ thẫm bên những ngọn cỏ xanh mơn mởn. Y quay mặt nhìn về phía kinh thành Thăng Long, ánh mắt long lanh.
Chàng nho sinh và cô kỹ nữ vội nhảy khỏi xe đến quỳ bên viên gia nô. Nho sinh lấy bình rót chút rượu vào miệng y, giọng lắp bắp run rẩy: “Xin cảm ơn huynh đã cứu mạng!”
Viên gia nô lúc lắc đầu thở dài. Cô kỹ nữ ôm lấy y, miệng khóc thút thít. Viên gia nô ngửa đầu lên nhìn. Từ đôi mắt trong veo của cô gái là hai giọt lệ long lanh như hai ngôi sao từ trời cao rơi xuống.
Gia nô gắng gượng, giọng đứt quãng: “Cô nương hãy đàn cho tôi nghe một lần trước khi chết!”
Chàng nho sinh cầm lấy cây đàn Nguyễn mang xuống cho nàng kỹ nữ. Nàng cầm lấy cây đàn. Tay nàng run run.
Tiếng đàn run run như tiếng khóc…
Từ giữa vùng chiến địa, quyện giữa những tiếng binh đao đâm chém, tiếng hò hét gào thét, tiếng lửa cháy bừng bừng là tiếng Nguyễn cầm vang lên trong đêm xuân lịch sử.
Chưa bao giờ tiếng đàn của nàng kỹ nữ có thần đến thế!
Từ đồi cao, tiếng đàn mong manh như tiếng chim nhạn lạc bầy nhưng vẫn len lỏi lan tỏa lên cả một vùng đất mênh mông đang rừng rực lửa cháy. Khi thưa như tiếng gió thoảng ngoài, khi mau như tiếng mưa rơi sầm sập.
Đêm hôm đó, cả quân Tây Sơn lẫn quân Thanh ai nấy đều nghe thấy tiếng đàn. Lúc thì tiếng đàn như từ trời cao vẳng xuống, lúc thì như từ dưới đất chui lên. Tiếng đàn khiến người ta khi thì vui sướng lâng lâng, khi thì sởn gai ốc vì cảm thương ai oán.
Đêm hôm đó, kỹ nữ đánh đàn lần cuối cùng. Bản đàn chấm dứt, nàng vứt cây Nguyễn cầm vào đám lửa.
Đêm hôm đó, viên gia nô nghe lần cuối tiếng đàn thần diệu. Mắt y khép lại dần dần. Những đốm lửa cháy trước mắt y như biến thành hàng ngàn ngọn nến cháy lung linh nơi phủ Chúa vàng son hoa lệ…
7. Đã mấy năm rồi thanh bình về lại đất Thăng Long. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi, xưng là Quang Trung Hoàng đế. Ngài đã đem quân đánh tan hai mươi chín vạn quân Thanh, lập nên nhà Tây Sơn. Quang Trung Hoàng đế cho dựng lại Văn Miếu, khuyến khích nông nghiệp, mở mang thông thương, giảm thuế cho người dân. Thành Thăng Long năm nay không còn vẻ tiêu điều nữa. Nhà nhà treo đèn kết hoa, người dân áo quần xúng xính. Vùng ngoại ô Thăng Long, hoa đào nở một màu hồng rực bạt ngàn đẹp đến bàng hoàng.
Trên ngọn đồi gần đồn Ngọc Hồi, một cặp nam nữ cùng một đứa nhỏ đang lặng lẽ cúi đầu bên nấm mộ không tên. Nàng kỹ nữ thổn thức khóc. Chàng nho sinh nhẹ ôm kỹ nữ vào lòng.
Cô bé gái bụ bẫm lẫm chẫm thắp nén hương lên nấm mộ sè sè cỏ mọc xanh rợn. Nén trầm hương thơm ngát. Tiết trời xuân man mác. Cô bé ngước lên nhìn mẹ: “Đây là mộ của ai đấy mẹ?”
Kỹ nữ vuốt đầu con: “Đây là mộ của ân nhân nhà mình”
Chàng trai nhìn quanh vùng hoa đào cảm khái: “Đây là mộ nghĩa phụ của con. Hôm nay là ngày giỗ của nghĩa phụ”.
Chén bồ đào mỹ tửu rót xuống đất. Hương rượu nồng nàn trong sương sớm. Mấy mảnh giấy vàng mã bừng cháy trong tiết trời mùa xuân.
Xung quanh là một vùng hoa đào hồng rực, hồng rực đến bàng hoàng, hồng rực như hàng ngàn ngọn nến cháy lung linh…
Hà Nội, 17/11/2011
LÁ CHAO ĐỎ
Truyện ngắn dự thi của NGUYỄN PHÚ
Chợ huyện Cốc Pài nằm trong thung lũng Pắc Pò, họp nhằm ngày ba, ngày sáu, ngày chín tháng ta.
Hai mươi chín tháng Chạp.
Chợ Cốc Pài họp phiên cuối năm.
Gạo nếp Nàn Ma, Nấm Dẩn trắng xóa, cam sành Thèn Phàng đỏ ối chảy nhấp nhô trên các ngả đường về chợ. Lợn đen. Dê vàng. Gà trắng…theo bước chân hỉ hả của các đôi vợ chồng đàn đàn lũ lũ tràn xuống thung lũng…
Mấy năm nay, nhờ có dự án trồng rừng, nuôi bò, dê mà dân trong vùng giàu lên. Nhiều nhà đã có xe máy. Chợ phiên là vợ chồng con cái cưỡi xe lao vù vù từ trên núi xuống thung lũng Pắc Pò. Những con ngựa già được khiêng ra chợ. Giờ so với cái xe máy thì con vật bốn chân ấy chẳng ăn thua gì, mỗi ngày lại tốn mấy cân ngô. Thành ra, quán thắng cố ngựa của lão Sân lúc nào cũng dập dìu, tấp nập.
Quán lão Sân nằm ở ngã ba, cũng là trung tâm chợ. Một vị trí đắc địa. Mấy tay người Kinh lên làm ăn quanh chợ, nhìn cái quán của lão mà sôi máu mắt. Nhưng làm gì được lão. Lão ghét những thằng người xuôi lên đây. Bọn chúng chỉ tổ làm lão ngứa mắt. Lão là thổ địa ở đây. Sóng gió cuộc đời lão cũng từ đây.
Lão Sân vớ được con ngựa bạch quý chiều qua. Người đàn bà có chồng sắp chết đã dắt nó đến cầu xin lão. Giá định xong, lão còn quẳng cho mụ ta vài cân thịt và quả tim ngựa. Mụ ta ứa nước mắt cảm ơn lão. Lão Sân đặc biệt thích mua những con ngựa bạch để giết thịt. Không hẳn là mấy năm nay người ta đua nhau săn lùng cao từ cái giống ngựa ấy. Lão hành quyết những con vật đó bằng sự khoái lạc kì quái.
Bốn chân con ngựa bạch được cột vào bốn cọc lim chắc. Lão Sân lượn vòng tròn, mắt ngầu tiết, rồi bất ngờ vung những nhát búa như trời giáng xuống đầu con bạch. Con vật tội nghiệp uất hận, lồng lộn tuyệt vọng. Nhát búa cuối cùng. Nó hí lên một tiếng xé trời. Im bặt. Hộp sọ vỡ toác. Máu lẫn óc nhể nhề nhề. Bấy giờ lão Sân mới thọc con dao bầu đánh phập vào yết hầu con vật, ngoáy ngoáy một hồi. Máu xối ào ạt, tràn ra lênh láng, trôi cả những cánh hoa đào dưới đất. Chậu huyết bán hết veo sau mươi phút chọc tiết. Bộ xương đã được một gã phe xương đặt hàng. Mông, bắp thì con mẹ hàng thịt khuân đi.
Sáng nay, trong quán lão Sân chỉ còn bộ lòng và ít thịt bèo nhèo. Thế mà khách xua không hết. Đây là phiên cuối năm. Người ta đi uống với nhau để chúc nhau một năm không may mắn qua đi. Uống với nhau để bỏ qua hiềm khích. Uống với nhau để có lời chúc sớm một năm sức khỏe, ngô thóc đầy nhà, gà lợn đầy chuồng…
Lão Sân không muốn bán hàng hôm nay. Nhưng mụ vợ lão, với lòng tham đàn bà, những phiên chợ cuối năm như thế này là cơ hội để mụ thu bộn tiền. Mụ đã giãy nảy lên, kêu giời kêu đất khi lão gọi người khuân hết cả bộ lòng và số thịt của con ngựa bạch. Thế là lão thây kệ. Muốn làm gì thì làm. Lão phó mặc cho vợ, đứa con gái và hai đứa người làm. Lão uống rượu.
Lưng lửng chiều.
Đứa con gái lôi đâu băng đĩa về, từ cái loa đen trùi trũi, lời hát rên lên ỉ ôi: “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn. Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành…”. Cái phố núi sậm chàm, bằng lặng của lão đến loạn cả lên mất rồi. Cái lũ trẻ ranh học thói ở đâu con trai con gái tóc xanh tóc đỏ, dóng dượt nhau bấm còi, rú ga xe máy inh ỏi cả đêm. Người già ra chửi chúng ném đá vào nhà. Thế là im. Đứa nào có con đứa ý dạy. Con Hoa nhà lão cũng tí tởn theo đám ấy. Chưa tối đã chui vào buồng, soi gương, rồi tót đi. “Gương với lược. Rồi đến làm đĩ!”. Lão đã rít lên, đập nát cái gương đầu tiên con Hoa mang về. Mụ vợ lão nước mắt thầm thĩ chảy. Chiếc roi vô hình từ câu chửi con của lão quất vào mặt mụ. Đau điếng. Con Hoa thì co rúm lại, không hiểu chuyện gì. Cái thứ hai. Cái thứ ba… Nó khóc hức hức. Ức lên tận cổ. Nó vẫn lén lút mua gương về soi. Con gái mười sáu. Cấm làm sao được nó soi gương! Hôm trước lão đã cho cái bạt tai. Thế mà hôm nay còn rước cái của nợ ở đâu về làm điếc tai, não ruột. Hát thế này thì chó nó vào quán à?! Điên tiết! Lão chửi toáng lên. Mấy lão khách say khướt thấy lão Sân chửi, khoái chí cười sằng sặc. Chỉ mụ vợ lão là hiểu lòng lão. Ngày này năm nào lão chả uống rượu đến say mèm. Mụ pha cho lão một cốc nước chanh, hai tay vuốt vuốt lưng lão. Rồi mụ réo con Hoa đang bê rượu cho khách.
- Con Hoa đâu? Có tắt ngay đi không? Tội nợ! Con với chả cái…
Lão nhìn mụ. Ô, cái người đàn bà này là vợ mình ư? Không chỉ lúc này mà nhiều đêm, hơi rượu còn nồng nàn, hì hụp, cấu cào trên bụng mụ cái câu hỏi ấy cứ ong ong trong lão…
- Ông chủ Sân ơi! Ông chủ Sân ơi! Có còn rượu không?
Một người khách gọi lão từ phía ngoài lôi tuột lão ra khỏi những ý nghĩ đẩu đâu. Lão bừng tỉnh, lững đững bước ra.
- Ông Sân đấy à? Vợ con giấu đâu mà kĩ thế! Người khách lại lên tiếng.
Người khách là đàn ông, sấp sỉ tuổi lão. Nhìn người đàn ông, lão không nhận ra nét nào quen. Không có vẻ gì là người này muốn uống rượu.
- Tìm tôi có việc gì thế? Chắc là không phải uống rượu rồi.
Người đó gật gật, nói nhỏ vào tai lão câu gì đó. Hai người đi ra phía đầu chợ.
Lão Sân quay về mặt như đá mốc. Lão uể oải vào nhà trong, ật ra giường. Mụ vợ len lén nhìn lão. Mụ không dám hỏi.
“Bà ấy sắp đi rồi. Bà ấy muốn gặp ông lần cuối. Ông không quyết định nhanh, tôi sợ sẽ không kịp…”. Những lời người đàn ông nói làm lão Sân suy nghĩ lung lắm. Ôi, cái người ấy, cái người đàn bà đã làm con tim lão thù hận, đau đớn tưởng đến lúc chết vẫn chưa thôi. Còn muốn gì ở lão đây? Lão và người ấy từ lâu đã như con chim trên trời, con cá dưới nước. Lão nhớ có một lần người ấy xuống chợ, dắt theo một con dê cái. Lão sai thằng bé người làm ra mua. Trả tiền xong, lão Sân ra giằng lấy cái dây từ tay thằng bé. Vừa đi lão vừa vung roi vun vút vừa chửi: Đồ đĩ! Đồ đĩ!…. Người khắp chợ xúm đen xúm đỏ lại xem. Lão nghe thấy tiếng nức nở phía sau. Lòng lạnh băng. Từ đấy người ấy không một lần xuống chợ… Nhưng nay thì người ấy sắp chết. Nghĩa là sẽ không bao giờ lão còn nhìn thấy người ấy bằng xương bằng thịt nữa. Không đi rồi liệu lòng lão có yên được không? Mà đi có hết đêm nay cũng không chắc đến chỗ người đàn bà ấy được. Mai là ngày tết chủ nhà lão. Lão là người đi lấy nước về cúng ông bà tổ tiên. Bao nhiêu suy nghĩ, bao nhiêu câu hỏi… Rồi cái ngày uất hận ấy cứ như dầu sôi xối vào tim lão, óc lão.
* *
*
Hai chín tháng Chạp năm ấy. Cũng phiên chợ cuối năm…
Con ngựa bạch vun vút như một dải mây trên đường. Cả chợ Cốc Pài ngẩn ngơ nhìn ngắm con bạch khi nó dừng lại. Nó là hình ảnh tuyệt mĩ, là sự uy dũng chưa từng thấy trong mắt họ. Người ta còn trầm trồ bởi đôi trai gái từ lưng ngựa bước xuống. “Đẹp quá! Như người trời”. Có người thốt lên. Si cúi đầu e thẹn, hai má ửng đỏ, ánh mắt biếc xanh càng làm cô thêm vẻ đẹp hoang sơ. Sân da nâu bóng, cao lớn, săn chắc như súc gỗ lim. Ánh mắt mọi người làm Sân thêm tự hào.
Những ánh mắt ngưỡng mộ. Những cái nhìn ghen tuông. Không ai biết Sân mất cả cha lẫn mẹ từ cái ngày chỏm tóc trên đầu Sân còn cháy đỏ như lông đuôi con bò. Si không có bố, mẹ Si ốm nằm liệt mấy năm rồi. Để có tiền cưới nhau như lệ bản, Sân phải sang Trung Quốc làm thuê ba năm. Con ngựa bạch là một phần mồ hôi của Sân. Hôm nay, Sân dẫn vợ sắp cưới xuống chợ. Ăn tết xong họ sẽ về một nhà. Cả hai sợ sẽ không còn kịp, mẹ Si yếu lắm rồi. Họ xuống chợ lẫn lộn vui, buồn…
- Vào uống với nhau một bát rượu đi!
- Đi chợ với người yêu nên cái mắt không nhìn thấy bạn à?
- Anh Sân, người yêu ở đâu mà xinh thế. Lấy hết cái mắt của cả chợ rồi!
-...
Quán thắng cố lổn nhổn người. Nhốn nháo. Sằng sặc. Cười nói. Sân nhận ra đám bạn làm thuê. Sân chưa kịp nói gì, một người đã lôi vào. Cả bọn nhìn Sân ngưỡng mộ. Rượu nâng lên. Cạn. Nâng lên. Cạn. Lại nâng lên. Lại cạn…Sân thấy chếnh choáng. Hàng quán ngả nghiêng. Đám bạn kềnh càng, lồm ngồm trên nền đất.
Sân ngủ lúc nào cũng không biết nữa. Khi tỉnh dậy thì thấy nằm trơ một mình dưới gốc cây bứa, chỗ buộc con ngựa bạch. Sao Si không ngồi quạt cho mình? Si sắp làm vợ mình rồi mà? Đàn bà Mông xuống chợ ai chả ngồi quạt cho chồng?
- Uống cho say để quên vợ, mất vợ à Sân?
Sân chưa hiểu gì thì người đàn bà họ xa lại eo éo:
- Cái Si nó đi theo thằng buôn người Kinh rồi. Chúng nó chở nhau vào núi Pía rồi đấy. Mày có còn muốn cưới nó hay không?
-...
- Chúng nó vừa đi đấy thôi. Mày có đuổi theo thì đuổi…
Máu dồn lên làm đầu Sân như một lò than nung đỏ. Sân nhảy tót lên con ngựa bạch, hai chân thúc liên hồi. Con bạch vút đi. Kia rồi! Đúng là Si rồi! Si ngồi trên cái xe đen trũi, sau cái thằng buôn vải người Kinh. Cái xe của nó như con bọ hung đang bay vèo vèo, uốn liệng trên đường. Nó biết có người đuổi theo, nó càng bay nhanh. Sân hối ngựa, hét đến hộc máu mồm. Bóng Si mỗi lúc một mờ dần, mờ dần, rồi mất hút vào núi rừng đang sẫm một màu chàm tím.
Đêm bủa vây. Vài ánh sao lạc lơ lắc. Sân rũ ra bên con bạch. Không thể tìm thấy Si được nữa rồi. Con bạch như hiểu được nỗi lòng của chủ, nó thè lưỡi liếm vào má Sân nhằm nhặm. Sân lại lên ngựa. Người ngựa đi mê dại trong rừng cho đến sáng.
Chiều hôm sau Si mới về bản. Si mang về một bộ váy áo đẹp lắm. Người ta bảo phải mươi đồng bạc trắng mới mua được. Cả một cái gương rất sáng, tròn như mặt trăng. Con gái cả bản chưa đứa nào có cái gương như thế.
Khi Si về tới nhà thì người ta đã cho mẹ Si vào cái hòm đục bằng thân cây bị sét đánh rồi. Si khóc. Nước mắt như con thác dội từ đỉnh A Mu Phìn…
* *
*
- Bố Hoa mệt cái đầu à? Có chuyện gì thế?
Mụ vợ lão Sân ngồi ở cuối giường đã một lúc lâu. Thấy con mắt lão trân trân nhìn lên mái nhà, giờ mụ mới dám hỏi.
- Không có gì cả. Ra ngoài bán hàng! - Lão lật người, quay mặt vào thưng nhà.
- Bố Hoa có chuyện gì giấu tôi? Nhìn mặt bố Hoa từ lúc gặp cái lão ấy là tôi biết.
- Đàn bà lắm lời. Đã bảo là không! - Lão gắt.
- Đừng giấu tôi nữa! Cái lão ấy đưa cho tôi cái túi đây này. Lão bảo đưa cho bố Hoa mà quên, mới quay lại đưa cho tôi đấy.
Nói như mếu, rồi mụ đưa cái túi cho chồng. Lão Sân nhổm dậy, cầm lấy. Lão sững người đến mấy phút. Đúng cái túi của người ấy rồi. Cái túi này lão mua cho người ấy tận bên Trung Quốc, bao năm giờ nó vẫn như mới, vẫn nguyên đường chỉ. Người ấy còn giữ nó làm gì? Lão run run lần giở bên trong. Lóng ngóng, cái túi tuột khỏi tay, tóe ra hàng ngàn hạt li li lấp lánh màu hổ phách.
Mắt lão Sân hoa lên. Người ấy lấy đâu ra những hạt này? Cây chao cuối cùng đã bị lão hủy diệt sau cái đêm đầy oán hận ấy...
* *
*
Đi xuyên đêm, khi về tới đầu bản thì con bạch không bước được nữa. Vô tình nó dừng ngay tại gốc chao. Cái gốc chao này Sân không biết nó có từ bao giờ. Bà lão gần trăm tuổi ở bản bảo nó có từ lâu lắm rồi. Xưa kia có nhiều cây chao như thế. Cùng với nước mắt của con người, những gốc chao thưa đi. Trai gái mất tình yêu cứ tìm gốc chao mà trút cái oán cái hận, cho đến khi chỉ còn duy nhất cái gốc này. Người ta bảo cây chao là thứ cây thiêng, nó mang đến tình yêu cho con người. Mùa xuân lá chao đỏ chói, như những trái tim đang thổn thức gọi tình. Quả chao chín màu xanh. Hạt chao già màu hổ phách. Hoa chao thì vàng, thơm ngào ngạt. Trai gái cứ theo mùi hương hoa chao mà tìm nhau tình tự. Từng đôi ra gốc chao ngồi, rồi gắn trái tim đỏ rực lên môi, thổi vào nhau tiếng lòng bổi hổi. Khi tiếng lòng đã nằm trọn trong nhau thì dẫn nhau vào rừng, rồi ngập chìm trong miền mê đắm giống nòi.
Những đêm xuân, dưới gốc chao này Sân đã thổi kèn lá đến rách họng cho Si nghe. Nhưng hai người chưa dẫn nhau vào rừng. Chưa một lần. Sân muốn giữ cho Si. Vậy mà, bây giờ cái tình yêu của Si không còn thì cây chao này cũng không còn.
“Chao là cây thiêng. Đừng chặt. Nước mắt, oán hận không ra khỏi cái bụng được đâu...”. Lời bà lão bỗng len vào óc Sân. Nhưng ngọn lửa trong Sân đã bốc lên rồi, nó đốt hết mọi ý nghĩ, chỉ còn nỗi đau đớn, oán hận đang theo ngọn lửa bùng lên. Sân như điên dại vơ bất kể cái lá khô, bẻ bất cứ cành cây nào... Lửa cháy. Cây chao oằn oại. Những chiếc lá giãy lên như hàng ngàn trái tim rên xiết. Gió bỗng từ đâu dồn về hú lên ghê rợn. Từng chiếc lá bay chấp chới, loang đỏ một mảng trời. Con bạch hoảng loạn, hí lên một hồi ai oán, vọt đi.
Si không còn. Cây chao không còn. Đến con bạch cũng bỏ Sân mà đi rồi. Sân oán hận tất cả. Sân lê bước về nhà. Ngôi nhà tềnh hênh cuối bản còn gì để mà giữ Sân nữa đâu. Ở lại đây để Sân sẽ chết vì đau đớn, tủi nhục à? Khi dân bản kéo đến thì ngôi nhà của Sân chỉ còn những tàn tro bay ngun ngút theo gió trời. Người ta thấy bóng Sân đang dần trôi vào cánh rừng già...
* *
*
- Thôi, bố Hoa đi gặp người ta đi. Người ta sắp đi xa rồi. Tôi biết bố Hoa còn hận. Nhưng người quê tôi thường bảo nghĩa tử là nghĩa tận, bố Hoa à. Tôi đã gọi người chở bố Hoa đi rồi đấy. Đi đi, mai thì về với mẹ con tôi, tết đến nơi rồi.
Khó khăn lắm vợ lão Sân mới nói được những lời như thế. Ngày xưa, biết lão từng có một người đàn bà ở bản cũ, mụ giữ gìn lão như giữ hai con mắt của mụ. Mụ ơn lão, tôn thờ lão. Hằng đêm mụ ôm riết lấy lão, muốn lão mãi mãi là của riêng mụ. Cả cái thân hình đá tảng. Cả quả tim đầy cay đắng, oán hận của lão. Thế mà lúc này mụ lại đang đẩy lão về cái nơi ấy đây. Mụ chợt buồn, nhưng cũng thật nhanh mụ thấy một sự thơ thới, nhẹ nhõm lạ thường...
Lão Sân nhìn vợ, cái nhìn mụ chưa được hưởng bao giờ. Đã từ lâu, mụ quen cái nhìn vừa như khinh bỉ, vừa như thương hại ban ơn của lão. Cái nhìn ấy mụ được lão ban cho vào một buổi sáng đã lâu lắm rồi... Cái buổi sáng bọn lâm tặc vứt mụ ở lại cái lán tồi tàn giữa rừng, trên người không một mảnh vải, khắp mình mẩy thâm tím, chỗ cửa đàn bà máu me nhểu ra nhầy nhụa... “Làm đĩ”. Câu trả lời của mụ cùng ánh mắt van lơn, cầu cứu và những giọt nước mắt đàn bà đã được lão ban cho cái nhìn ấy. Rồi mụ được lão dẫn về chợ Cốc Pài này. Sau vài tháng, cái món thắng cố ngựa làm da mụ trắng phây phây, trắng đến tê người. Hai con mắt thì sóng sánh. Cái má cứ đầy lên, hồng đến nóng mắt. Sao người ta có thể vứt một người đàn bà như thế giữa rừng? Nhiều lúc nhìn mụ, lão ngẩn ra khi tự hỏi như thế. Có lẽ cái đuôi mắt, cái gò má của mụ kéo lũ đàn ông đến quán thắng cố nhà lão. Lão vừa thương mụ, vừa rẻ rúng, khinh thường mụ, như xúc cảm của ông chủ với một con chó.
Trong mắt lão giờ chỉ còn những tia chan chứa xót thương. Tự dưng một sự ân hận cứ lan tỏa trong lòng lão, làm cổ họng lão ắng nghẹn. Lão chợt thấy mình như bé nhỏ đi, như cần được cái người đàn bà đang hồi xuân hừng hực kia che chở. Một lúc sau, lão mới nói được với mụ:
- Mẹ Hoa dọn hàng đi. Mai tôi về sớm…
Lão khoác thêm chiếc áo bông, đi ra. Gã xe ôm đang chờ lão phía ngoài. Chiếc xe rồ ga. Núi rừng hoác ra nuốt chửng nó vào đêm.
* *
*
Con cháu một lũ lem luốc, lốc nhốc xúm xít quanh người ấy. Trên chiếc giường tre đen xỉn hôi hám, người ấy khô quắt, chỉ còn da bọc xương, mắt nhắm nghiền. Dưới ánh đèn vàng ệch, lão thấy mặt người ấy nhăn nheo, vàng như quả su su héo. Người nhà bảo người ấy bị nhiễm sán. Sán đục ruỗng ruột gan tim phổi, rồi chui lên đầu, ăn vào óc. Óc người ấy giờ không còn gì, bên trong chỉ lổn nhổn những sán là sán thôi. Người ấy đã cấm khẩu từ chiều, mắt cũng không còn mở ra được nữa.
Đứa con gái cả của người ấy đưa cho lão tờ giấy và một chiếc lá đỏ thắm, quay đi gạt nước mắt. Trên tờ giấy ô li của học sinh, những con chữ viết có vẻ rất khó khăn nên xiêu vẹo, nét đậm nét đứt cứ nhảy loi nhoi trước mắt lão Sân:
“Ông Sân à, tôi biết cái ngày tôi về với ông bà tổ tiên sắp đến rồi. Tôi sợ không được gặp ông. Cái đầu còn nghĩ được thì tôi viết những cái chữ này. Ông hận tôi vì tôi là người đàn bà không ra gì phải không ông? Lỡ phụ ông, tôi đau lắm. Nhưng ông còn nhớ cái ngày mẹ tôi sắp chết, bà ấy chỉ mong có được một bộ váy áo thật đẹp mặc lúc chết không? Lại muốn có một cái gương để soi. Cả đời mẹ tôi chưa biết cái mặt mình nó tròn méo thế nào. Sao ông và tôi nghèo quá? Tôi dại, nghe người ta dụ dỗ. Nhưng tôi thương mẹ tôi, tôi muốn bà ấy chết được nhắm mắt.
Ông Sân à, cả đời tôi chỉ có ông thôi. Cái lá chao ông hái cho tôi, tôi luôn giữ nó bên mình. Nay tôi gửi lại ông. Ông có tha thứ cho tôi không? Kiếp sau tôi xin làm con trâu, con ngựa để trả cái tình của ông, ông Sân à…”
Từ hõm mắt lão Sân hai cục nước lừ đừ rơi, làm nhòe nhoẹt những con chữ.
* *
*
Một buổi chiều, lúc hoàng hôn còn tím rực, người trong vùng thấy một lão già đi lang thang như người lẩn thẩn trên những lối mòn, rồi lão lần sâu vào trong rừng, leo lên cả những ngọn núi cao nhất của dãy Tây Côn Lĩnh.
Mùa xuân ấy, ở những nơi lão già đi qua người ta thấy ngàn vạn cái mầm màu đỏ tươi trông xa như những tia máu từ lòng đất phun lên.
Mùa xuân năm sau….
Mùa xuân năm sau nữa.
Khắp vùng bừng lên một loài cây bung xòe những tán lá đỏ thắm. Những chiếc lá reo vui trong màn mưa li ti như những làn môi gọi mùa tình. Có người bảo trông giống những giọt máu. Người khác lại bảo đó là những giọt nước mắt màu đỏ.
Người khắp chợ Cốc Pài không ai còn nhìn thấy lão Sân. Quán thắng cố ngựa của lão cũng đóng cửa. Người ta bảo cả vùng không còn lấy một con ngựa, vợ lão Sân không tìm được hàng để bán, phải dắt con gái về quê.
Quê mụ ở đâu thì không ai biết.
Sự kiện
VanVN.Net - Cuộc tiếp các nhà thơ đã diễn ra chiều nay, 5 tháng Hai năm 2012, tại Phủ Chủ tịch. Gần 80 nhà thơ đến từ 27 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng các nhà thơ Việt Nam tham ...
Nhà văn đọc sách
VanVN.Net - “Trần Đình Huỳnh - Những bài chính luận”, tác phẩm lý luận chính trị này là một tập sách có độ dầy 563 trang, khổ 16x24, do Nhà Xuất bản Tri thức vừa ấn hành quý I năm 2012, của ...
Hoạt động Hội Nhà Văn
VanVN.Net – Sáng nay, 19/1/2012 (tức 26 tháng Chạp năm Tân Mão), đại diện Hội Nhà văn Việt Nam – nhà thơ Đỗ Hàn, Chánh văn phòng Hội NVVN đến thăm và chúc tết Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn kết ...
Tư liệu
VanVN.Net - Tác phẩm học thuật quan trọng nhất của Lỗ Tấn, cuốn sách góp phần đặt nền móng cho khoa văn học sử tại Trung Quốc - Trung Quốc tiểu thuyết sử lược (Zhongguo xiaoshuo shilue) đã có bản dịch tiếng ...

Tiêu đề
Viết bình luận của bạn