Gửi thư   
Bản in
VanVN.Net - Truyện ngắn với đặc trưng thể loại văn xuôi tự sự luôn đòi hỏi cô đọng, hàm súc, có sức mời gọi, quyến rũ người viết vô cùng. Chính tính chất ngắn gọn và gợi cảm là lợi thế tiếp nhận, cảm thụ, chinh phục bạn đọc. Chưa bao giờ truyện ngắn chết. Thời truyền thông hiện đại, truyện ngắn lại càng có đất sống và phát triển. Nói không hề quá: Truyện ngắn đương đại vẫn đa dạng, phong phú, xanh tươi và hấp dẫn người đọc; có thể tìm thấy điều này trong nửa chặng đầu cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ (năm 2011 - 2012).
Tính đa dạng, phong phú của một cuộc thi văn học thể hiện ở lực lượng sáng tác với nhiều giọng điệu khác nhau. Có thể kể đến cuộc “ra quân” của các nhà văn thành danh: Văn Chinh đáo để, lọc lõi và triết luận. Vũ Xuân Tửu chân mộc, nhiệt thành. Thu Trân gai góc và dữ dội. Hà Phạm Phú trăn trở và thao thức, nỗ lực làm mới mình. Lê Hoài Nam u hoài, xót xa. Nghiêm Huyền Vũ trầm buồn và chân mộc. Võ Thị Xuân Hà da diết đến rầu rĩ “Dưới nước”. Vũ Thảo Ngọc quặn lòng thao thức trong “Đêm Nhớ”. Nguyễn Việt Chiến bảng lảng chất thơ và ngây ngất “Mùi hương Tiên” thanh khiết… vv…
“Trăm hoa đua sắc, trăm nhà đua giọng”. Náo nhiệt, sôi động hơn cả vẫn là các tác giả trẻ tuổi đời hoặc trẻ tuổi nghề: Phùng Hi giọng giả cổ nhưng vẫn giữ được cái khúc triết tươi mới của “Phương Nam” và bỡn cợt với “Gạch nối”. Mai Dương Dương đắng đót thương cảm “Rau đắng”. Uông Triều giấu mình trong “quan tài” lạnh lùng “Trong đám tang của mình” nhìn đời và tưng tửng bóc mẽ mặt trái của đời. Hạnh Vân trĩu nặng và u uẩn với “Quán ven sông”. Phạm Thanh Thúy khách quan lạnh lẽo nhìn “12 chiếc bánh Flan”.. Nguyễn Tiến Bình lãng mạn và thao thiết với “Đêm dài qua”. Lê Thanh Kỳ điềm tĩnh và tỉnh táo với người “Bạn khách”. Chu Thùy Anh nữ tính, hoang hoải và xót xa với “Hàng xóm”. Phạm Xuân Hiếu chậm dãi, lọc lõi ngôn ngữ văn hóa đồ cổ, bỡn cợt cái giả lưu hành cùng kẻ dốt nát tham lam với “Đồng dollar cổ”…vv.
Tính hấp dẫn lôi cuốn của truyện ngắn dự thi không những thể hiện ở đối tượng sáng tác mà còn in dấu ấn vào lòng bạn đọc qua cách thức phản ánh hiện thực:
1. Kì ảo trong bến bờ hiện thực
Chất huyền ảo đậm đặc nhưng cũng ngổn ngang bề bộn hiện thực đời thường rất rõ ở truyện ngắn “Phương Nam” của Phùng Hi. Tác giả Đời thường cả Đạo, Đời thường cả quyền lực chính là đề cao con người. Hình ảnh Lão Tử vô vi lấy vợ, đi cày và Vua Hùng cầm quyền nhẹ tênh như không cai trị như là biểu tượng dung dị chan hòa thiên nhiên - cuộc sống. Qua những va đập văn hóa Đạo Nho, Đạo Lão, Đạo Việt để trở lại với Minh triết Việt.
“Ghi chép của ngài Appin về con ngựa Hãn Huyết” của Văn Chinh là một truyện ngắn kì ảo với không gian hiện thực mới và bỏ qua cách kể cũ mòn thường thấy để dẫn dụ người đọc theo dõi thân phận con ngựa đào ngũ đã được người hóa. Tác giả dựng chuyện con ngựa Hãn Huyết viện trợ chưa đến biên giới Việt - Trung đã đào ngũ và nương theo hành trình gian lao, đắng cay của nó để nói chuyện nhân tình thế thái, nói chuyện người láng giềng lớn.
“Dưới nước” của Võ Thị Xuân Hà mang đến cho người đọc thế giới nghệ thuật âm ty - địa ngục với những sông Đoạn Hà, Tiểu Ngục lạ lẫm để con người cô đơn thao thức vẫy vùng đi tìm người thân đã mất trong tuyệt vọng. Bến bờ hiện thực “Bạch hổ truyền kỳ” của Hoàng Tùng lại là không gian huyền hoặc, là mảnh đất hoang sơ liêu trai cho cái ác hoành hành, cái thiện tạm thời lui bước.
Tính hư thực của khu vực tác phẩm này đã mở rộng không gian nghệ thuật lạ mới, làm dày thêm các loại hình nhân vật, góp phần tạo nên tính đa dạng, phong phú, sinh động của truyện ngắn dự thi.
2. Nương theo lịch sử - huyền sử tri âm.
Phẩm chất lớn nhất của nghệ sĩ là giàu sức tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật, với lòng tự trọng của người sáng tạo là không bao giờ kể ra sự kiện, con người thay nhà sử học.
Nhà văn Lê Hoài Nam đắm đuối với đề tài lịch sử - huyền sử với bộ ba tác phẩm: “Những giọt lệ đỏ thắm”, “Vĩ nhân thời ốc đảo”, “Chuyện tình thời vong quốc” phóng khoáng, vạm vỡ, khá hấp dẫn. Thời gian và con người lịch sử chỉ là chất liệu, là cái cớ để ông sáng tạo ra một câu chuyện mới: Câu chuyện bi kịch của Nguyễn Trường Tộ, trí thức “sinh bất phùng thời” bơ vơ cô độc giữa đám vua quan u tối, dốt nát “bế quan tỏa cảng”.
Võ Gia Trị lại dẫn dụ người đọc đi vào huyền sử “Chuyện người sinh ra vua”; vua là con sãi, nhưng vua cũng là “đứa con của lao động và minh triết Phật giáo Việt Nam”. Ông gửi một thông điệp khác với sự thật thông thường, tránh lối tư duy cũ của thời đại cũ bằng một cái nhìn mới nhân văn: Con sãi ở chùa không quét lá đa mà lại lên làm vua. Tác phẩm đã thoát khỏi câu chuyện huyền sử quen thuộc, để là một sáng tạo nghệ thuật độc lập.
“Những cánh chim lạc” của Hoàng Thái Sơn là một câu chuyện giản dị, nhưng mang tính triết luận thâm sâu: Hãy đừng nhìn sự vật, hiện tượng buổi nguyên sơ của con người bằng tư duy khoa học hiện đại và cảm quan phức tạp của thời nay.
Nguyễn Đức Lợi ma mị, huyền hoặc giữa núi rừng hoang dã. Tác giả đau đớn bởi con người bị đồng loại tham lam săn đuổi y như săn Xà Tinh. Thủ pháp phóng đại chiều kích và lời đồn rất đắc địa ở không gian nghệ thuật “Ma núi rắn”.
3. Chiến tranh đang là “mảnh đất bạc màu”?
Hiện thực mới đang ngổn ngang, bề bộn, chồng chất bao nhiêu chuyện thật - giả, thiện - ác, ánh sáng - bóng tối…Nhà văn đang quan tâm, đang bị cuốn vào, và người đọc đang cần nhận diện con người và cuộc sống hiện đại hơn là tìm về những gì xưa cũ. Dù vậy, văn học Chiến tranh và Người lính vẫn không hề phai nhạt, vắng thiếu trong cuộc thi này.
Chiến tranh lúc gần lúc xa, lúc mơ hồ khi rõ rệt rất đậm đặc trong “Đêm dài qua” của Nguyễn Tiến Bình. Tác giả chỉ miêu tả vết thương thân xác và thương tật tâm hồn người lính mà vẫn ra chiến tranh. Truyện ngắn “Đêm dài qua” đã vượt qua các tác phẩm chiến tranh rặt lối kể mòn cũ chuyện chiến đấu, miêu thuật một trận đánh, một chiến dịch, bằng bút pháp lãng mạn trộn lẫn, đan xen hiện thực dữ dội trần trụi. Tác giả khắc họa nhân vật người lính nhẫn nại, hy sinh vì có những sự thật cần phải cất giấu, chứ không phải lừa dối, để không làm đau lòng người.
Yêu nhưng không ai có đủ tình thương và lòng can đảm chìa vai gánh vác gia đình người đàn ông với đứa con dị tật do chất độc da cam. Cũng như không một chàng trai nào dám bước vào cuộc đời cô chủ “Quán ven sông” bởi cô cũng có một đứa con dị dạng đã hóa thân vào ảnh trên bàn thờ. Con người vu vơ níu giữ, thèm khát tình người, bị thừa ra, bị bỏ rơi, bơ vơ giữa đám đông lòng dạ lạnh lẽo. Văn Hạnh Vân quặn thắt, u uẩn, lạnh giá khiến người đọc ám ảnh sợ hãi chiến tranh.
Phập phồng. Căng thẳng. Một giả định tình huống chiến tranh dữ dội ngoài biển đảo. “Phía sau người lính biển” (Nhụy Nguyên) là ký ức ngoại cùng người em gái sinh đôi bị giam hãm, bị lính Mỹ cưỡng hiếp trong hầm. Đứa con lai Mỹ đi sang sống trời Tây nhận một kẻ xa lạ làm bố. Đứa cháu ngoại chối từ người mẹ vong quốc làm người lính bảo vệ chủ quyền Trường Sa. Ai đáng giận? Ai đáng thương? Là câu hỏi không dễ trả lời của thời nay. Một cốt truyện lạ, một cái nhìn mở hướng ra nhiều chiều kích để người đọc ngẫm nghĩ về số phận người trôi dạt thời hậu chiến.
Chiến tranh lùi xa, người chồng mải mê làm giàu và để người vợ lạnh lẽo, cô đơn trong tiện nghi hiện đại. Người vợ thèm khát mùi chồng - mùi đời trần ai chiến tranh. Người chồng dù cố cưỡng lại cám dỗ, quay trở về thì người vợ cũng không nhận ra mùi của chồng mình nữa. Chiến tranh không chia lìa được lứa đôi, nhưng thời hiện đại lại ném họ ra khỏi thế giới nội tâm thầm kín của nhau, dù sống chung một nhà. (Mùi chồng - Nguyễn Hiệp).
Tất cả đều có thể xảy ra trong chiến tranh. Đào tẩu khỏi trận chiến ác liệt, đào tẩu vì phản bội đồng đội vẫn sống trơ trơ không dằn vặt, hối lỗi; nhưng người phản bội tình yêu trong chiến tranh lại bị giày vò bởi thấy mình cũng đốn mạt, hèn hạ như phản bội lý tưởng. (Những kẻ đào tẩu – Từ Nguyên Tĩnh). Kẻ phản bội đồng đội trở về làng sống dở người dở ngợm, lúc tỉnh lúc điên, muốn sám hối để sống thanh thản, nhưng con cháu không cho ông tự thú trong khi chúng đang sống yên lành, giàu có trong thăng tiến…, cũng là một bi kịch mới sau chiến tranh. (Kẻ phản bội - Mai Tiến Nghị)…
4. Hiện thực mới ngổn ngang và những được - mất.
Con mắt trong veo, tinh khôi và cảm xúc mới mẻ, run rẩy bao giờ cũng tiếp cận hiện thực mới nhanh hơn cái nhìn mòn nhẵn và cảm xúc chai lì.
Nhà văn trẻ Uông Triều thật tinh tường với tư duy “cái quan định luận”, quan sát đời nhố nhăng, xộc xệch từ điểm nhìn giả định linh hồn, tác giả lần lượt lật từng trang đời tối tăm, láu cá, ranh mãnh, bạc tình của các loại người ra ánh sáng như bóc từng lớp củ hành. (Trong đám tang của mình).
Ngòi bút nữ, nhà văn Di Li, lại khai phá ở một vùng đất mới “Nghĩa địa của người sống”. Đặt vào phép so sánh nghệ thuật: Một bên là vùng đất xây “thành phố” cho người sẽ chết phải có đẳng cấp đại gia, quan chức, nghệ sĩ lớn… cao sang phú quý mới được mộ phần rộng thênh thang. Một bên là người mẹ trẻ nghèo nhặt bóng, xách đồ, lau gậy phục vụ cho lớp người thượng lưu chơi gôn, và đứa con nhỏ bảy tuổi bất hạnh chết yểu chưa có mộ phần. Bằng giọng văn hiện đại, thông minh, khách quan lạnh lùng, tác giả gửi thông điệp: Cái chết xa xỉ cũng là sự bất nhân trên nỗi đau đồng loại.
Mai Dương Dương - dân tộc Dao - lại đắng xót thương cảm thân phận mong manh như cái lá, yếu đuối như ngon rau hoang của người miền núi không có khả năng tự bảo vệ. Cô gái câm quyết liệt bảo vệ con vừa là bản năng, vừa là hành động phản kháng, như một sức sống mãnh liệt nơi hoang dại. (Rau đắng).
Bốn đôi dép người lớn, hai đôi dép trẻ con buộc nơ hồng luôn xáo trộn vị trí là một bí ẩn cuộc đời người “Hàng xóm” và cũng là nỗi thèm hơi ấm của đồng loại. Chu Thùy Anh dịu dàng nữ tính viết về nỗi cô đơn rợn ngợp của người già trong các căn hộ cao tầng bê tông cốt thép lạnh lùng, vô hồn thời văn minh công nghiệp. Bà già hàng xóm khóc lần duy nhất, ấy là khi con chó già mười bốn tuổi chết, mà chưa bao giờ khóc ai, thì nỗi cô đơn trơ trọi được đẩy đến tận cùng.
“12 chiếc bánh flan” là một câu chuyện lạ, một bà mẹ bí ẩn. Hợp đồng làm tròn chức phận “con” người “mẹ” điên thay cho đứa con thật đã chết… là một kết cấu hợp lý để nhân vật khám phá góc khuất một gia đình giàu có thác loạn. Phạm Thanh Thúy phơi bày bi kịch lớp người mới nổi do lừa lọc, chiếm đoạt căn nguyên từ triết lý: Cái gì có được dễ dàng thì cũng sẽ thành rẻ rúng, vô nghĩa.
Bạn bè thật - giả, vàng - thau chỉ khi đặt trong hoàn cảnh thử thách chọn lựa lợi ích được - mất mới hiện nguyên hình. Lê Thanh Kỳ luôn hoài nghi, tỉnh táo với ông “Bạn khách”. Không hề khiên cưỡng, “Bạn khách” là câu chuyện văn chương về tình bạn riêng tư có ký ức, có hiện tại cũng là bài học cảnh giác láng giềng quốc gia hữu sự.
Du An thấm đẫm cái nguyên sơ, tinh khôi không gian miền núi, nhưng lại thấy bề bộn một vùng cao lấm láp, đang nảy sinh nhiều vấn đề mới phức tạp. Tác giả chia sẻ vất vả gian lao và quá trình hòa nhập không mấy dễ dàng của người dưới xuôi lên xây dựng vùng cao. Cái gì níu giữ họ lại nơi “rừng xanh núi đỏ”? Chính là tình người của “Cô Quỳnh”, và “Mùa nương”.
Dường như Năm Sọc là một sáng tạo nhân vật mới của Thu Trân trong “Gia phả mùi rơm rạ”. Điền chủ Năm Sọc vô sinh, nghiệt ngã không để của cải lọt vào tay kẻ khác, gian ác bằng mọi giá hợp pháp hóa đứa con của vợ chính, vợ hờ thành đứa nối dõi của mình trong bí mật, kể cả việc giết người. Đứa con gái hờ bị chính y cưỡng hiếp đã chối bỏ gia đình, chạy trốn hiện tại bẽ bàng, mấy chục năm sau lại quay về mang ý nghĩa nhân bản và làm cho truyện bớt độ căng, dữ dội.
Nguyễn Việt Hòa cười cợt cái sự “tin bạn mất bò”, dở cười dở mếu hậu chuyện đem chồng làm “Phao cứu sinh” giúp bạn gái. Phan Đình Minh ngao ngán thở dài viết “Phần mềm” về sự gian dối trong khoa học công nghệ. Nguyễn Thái Sơn trần tình về niềm tin ngây thơ kỳ công xây dựng biểu tượng vẫn mù quáng trước sự mọt ruỗng khi “Bọ cánh cứng bay đi rồi”. Nguyễn Trúc Viên hoài vọng, tiếc nuối “Ngọn gió mùa thương”. Thở than, nhẫn nhịn trách móc người chồng tha hóa, dễ bị cái lạ lẫm, cao sang cám dỗ, chóng quên cái bình dị, cái quý giá nắm giữ trong tay mà không biết. Nhưng để chọn lựa lại, chắc người vợ vẫn đi con đường xưa cũ. Sự đời là thế!
Cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ đã đi được nửa chặng đường. Tính đa dạng, phong phú, sinh động, tươi xanh và hấp dẫn tạo nên cái nền truyện ngắn dự thi khá rộng và bền vững. Nói một cách hình ảnh ví von: Có cả dãy Trường Sơn truyện ngắn, nhưng đã có đỉnh Phan xi păng chưa? Dường như cái truyện ngắn đỉnh cao vẫn còn đang ở phía trước, đang trong nỗ lực tìm kiếm và sáng tạo!?
VanVN.Net - Truyện ngắn với đặc trưng thể loại văn xuôi tự sự luôn đòi hỏi cô đọng, hàm súc, có sức mời gọi, quyến rũ người viết vô cùng. Chính tính chất ngắn gọn và gợi cảm là lợi thế tiếp nhận, cảm thụ, chinh phục bạn đọc. Chưa bao giờ truyện ngắn chết. Thời truyền thông hiện đại, truyện ngắn lại càng có đất sống và phát triển. Nói không hề quá: Truyện ngắn đương đại vẫn đa dạng, phong phú, xanh tươi và hấp dẫn người đọc; có thể tìm thấy điều này trong nửa chặng đầu cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ (năm 2011 - 2012).
Tính đa dạng, phong phú của một cuộc thi văn học thể hiện ở lực lượng sáng tác với nhiều giọng điệu khác nhau. Có thể kể đến cuộc “ra quân” của các nhà văn thành danh: Văn Chinh đáo để, lọc lõi và triết luận. Vũ Xuân Tửu chân mộc, nhiệt thành. Thu Trân gai góc và dữ dội. Hà Phạm Phú trăn trở và thao thức, nỗ lực làm mới mình. Lê Hoài Nam u hoài, xót xa. Nghiêm Huyền Vũ trầm buồn và chân mộc. Võ Thị Xuân Hà da diết đến rầu rĩ “Dưới nước”. Vũ Thảo Ngọc quặn lòng thao thức trong “Đêm Nhớ”. Nguyễn Việt Chiến bảng lảng chất thơ và ngây ngất “Mùi hương Tiên” thanh khiết… vv…
“Trăm hoa đua sắc, trăm nhà đua giọng”. Náo nhiệt, sôi động hơn cả vẫn là các tác giả trẻ tuổi đời hoặc trẻ tuổi nghề: Phùng Hi giọng giả cổ nhưng vẫn giữ được cái khúc triết tươi mới của “Phương Nam” và bỡn cợt với “Gạch nối”. Mai Dương Dương đắng đót thương cảm “Rau đắng”. Uông Triều giấu mình trong “quan tài” lạnh lùng “Trong đám tang của mình” nhìn đời và tưng tửng bóc mẽ mặt trái của đời. Hạnh Vân trĩu nặng và u uẩn với “Quán ven sông”. Phạm Thanh Thúy khách quan lạnh lẽo nhìn “12 chiếc bánh Flan”.. Nguyễn Tiến Bình lãng mạn và thao thiết với “Đêm dài qua”. Lê Thanh Kỳ điềm tĩnh và tỉnh táo với người “Bạn khách”. Chu Thùy Anh nữ tính, hoang hoải và xót xa với “Hàng xóm”. Phạm Xuân Hiếu chậm dãi, lọc lõi ngôn ngữ văn hóa đồ cổ, bỡn cợt cái giả lưu hành cùng kẻ dốt nát tham lam với “Đồng dollar cổ”…vv.
Tính hấp dẫn lôi cuốn của truyện ngắn dự thi không những thể hiện ở đối tượng sáng tác mà còn in dấu ấn vào lòng bạn đọc qua cách thức phản ánh hiện thực:
1. Kì ảo trong bến bờ hiện thực
Chất huyền ảo đậm đặc nhưng cũng ngổn ngang bề bộn hiện thực đời thường rất rõ ở truyện ngắn “Phương Nam” của Phùng Hi. Tác giả Đời thường cả Đạo, Đời thường cả quyền lực chính là đề cao con người. Hình ảnh Lão Tử vô vi lấy vợ, đi cày và Vua Hùng cầm quyền nhẹ tênh như không cai trị như là biểu tượng dung dị chan hòa thiên nhiên - cuộc sống. Qua những va đập văn hóa Đạo Nho, Đạo Lão, Đạo Việt để trở lại với Minh triết Việt.
“Ghi chép của ngài Appin về con ngựa Hãn Huyết” của Văn Chinh là một truyện ngắn kì ảo với không gian hiện thực mới và bỏ qua cách kể cũ mòn thường thấy để dẫn dụ người đọc theo dõi thân phận con ngựa đào ngũ đã được người hóa. Tác giả dựng chuyện con ngựa Hãn Huyết viện trợ chưa đến biên giới Việt - Trung đã đào ngũ và nương theo hành trình gian lao, đắng cay của nó để nói chuyện nhân tình thế thái, nói chuyện người láng giềng lớn.
“Dưới nước” của Võ Thị Xuân Hà mang đến cho người đọc thế giới nghệ thuật âm ty - địa ngục với những sông Đoạn Hà, Tiểu Ngục lạ lẫm để con người cô đơn thao thức vẫy vùng đi tìm người thân đã mất trong tuyệt vọng. Bến bờ hiện thực “Bạch hổ truyền kỳ” của Hoàng Tùng lại là không gian huyền hoặc, là mảnh đất hoang sơ liêu trai cho cái ác hoành hành, cái thiện tạm thời lui bước.
Tính hư thực của khu vực tác phẩm này đã mở rộng không gian nghệ thuật lạ mới, làm dày thêm các loại hình nhân vật, góp phần tạo nên tính đa dạng, phong phú, sinh động của truyện ngắn dự thi.
2. Nương theo lịch sử - huyền sử tri âm.
Phẩm chất lớn nhất của nghệ sĩ là giàu sức tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật, với lòng tự trọng của người sáng tạo là không bao giờ kể ra sự kiện, con người thay nhà sử học.
Nhà văn Lê Hoài Nam đắm đuối với đề tài lịch sử - huyền sử với bộ ba tác phẩm: “Những giọt lệ đỏ thắm”, “Vĩ nhân thời ốc đảo”, “Chuyện tình thời vong quốc” phóng khoáng, vạm vỡ, khá hấp dẫn. Thời gian và con người lịch sử chỉ là chất liệu, là cái cớ để ông sáng tạo ra một câu chuyện mới: Câu chuyện bi kịch của Nguyễn Trường Tộ, trí thức “sinh bất phùng thời” bơ vơ cô độc giữa đám vua quan u tối, dốt nát “bế quan tỏa cảng”.
Võ Gia Trị lại dẫn dụ người đọc đi vào huyền sử “Chuyện người sinh ra vua”; vua là con sãi, nhưng vua cũng là “đứa con của lao động và minh triết Phật giáo Việt Nam”. Ông gửi một thông điệp khác với sự thật thông thường, tránh lối tư duy cũ của thời đại cũ bằng một cái nhìn mới nhân văn: Con sãi ở chùa không quét lá đa mà lại lên làm vua. Tác phẩm đã thoát khỏi câu chuyện huyền sử quen thuộc, để là một sáng tạo nghệ thuật độc lập.
“Những cánh chim lạc” của Hoàng Thái Sơn là một câu chuyện giản dị, nhưng mang tính triết luận thâm sâu: Hãy đừng nhìn sự vật, hiện tượng buổi nguyên sơ của con người bằng tư duy khoa học hiện đại và cảm quan phức tạp của thời nay.
Nguyễn Đức Lợi ma mị, huyền hoặc giữa núi rừng hoang dã. Tác giả đau đớn bởi con người bị đồng loại tham lam săn đuổi y như săn Xà Tinh. Thủ pháp phóng đại chiều kích và lời đồn rất đắc địa ở không gian nghệ thuật “Ma núi rắn”.
3. Chiến tranh đang là “mảnh đất bạc màu”?
Hiện thực mới đang ngổn ngang, bề bộn, chồng chất bao nhiêu chuyện thật - giả, thiện - ác, ánh sáng - bóng tối…Nhà văn đang quan tâm, đang bị cuốn vào, và người đọc đang cần nhận diện con người và cuộc sống hiện đại hơn là tìm về những gì xưa cũ. Dù vậy, văn học Chiến tranh và Người lính vẫn không hề phai nhạt, vắng thiếu trong cuộc thi này.
Chiến tranh lúc gần lúc xa, lúc mơ hồ khi rõ rệt rất đậm đặc trong “Đêm dài qua” của Nguyễn Tiến Bình. Tác giả chỉ miêu tả vết thương thân xác và thương tật tâm hồn người lính mà vẫn ra chiến tranh. Truyện ngắn “Đêm dài qua” đã vượt qua các tác phẩm chiến tranh rặt lối kể mòn cũ chuyện chiến đấu, miêu thuật một trận đánh, một chiến dịch, bằng bút pháp lãng mạn trộn lẫn, đan xen hiện thực dữ dội trần trụi. Tác giả khắc họa nhân vật người lính nhẫn nại, hy sinh vì có những sự thật cần phải cất giấu, chứ không phải lừa dối, để không làm đau lòng người.
Yêu nhưng không ai có đủ tình thương và lòng can đảm chìa vai gánh vác gia đình người đàn ông với đứa con dị tật do chất độc da cam. Cũng như không một chàng trai nào dám bước vào cuộc đời cô chủ “Quán ven sông” bởi cô cũng có một đứa con dị dạng đã hóa thân vào ảnh trên bàn thờ. Con người vu vơ níu giữ, thèm khát tình người, bị thừa ra, bị bỏ rơi, bơ vơ giữa đám đông lòng dạ lạnh lẽo. Văn Hạnh Vân quặn thắt, u uẩn, lạnh giá khiến người đọc ám ảnh sợ hãi chiến tranh.
Phập phồng. Căng thẳng. Một giả định tình huống chiến tranh dữ dội ngoài biển đảo. “Phía sau người lính biển” (Nhụy Nguyên) là ký ức ngoại cùng người em gái sinh đôi bị giam hãm, bị lính Mỹ cưỡng hiếp trong hầm. Đứa con lai Mỹ đi sang sống trời Tây nhận một kẻ xa lạ làm bố. Đứa cháu ngoại chối từ người mẹ vong quốc làm người lính bảo vệ chủ quyền Trường Sa. Ai đáng giận? Ai đáng thương? Là câu hỏi không dễ trả lời của thời nay. Một cốt truyện lạ, một cái nhìn mở hướng ra nhiều chiều kích để người đọc ngẫm nghĩ về số phận người trôi dạt thời hậu chiến.
Chiến tranh lùi xa, người chồng mải mê làm giàu và để người vợ lạnh lẽo, cô đơn trong tiện nghi hiện đại. Người vợ thèm khát mùi chồng - mùi đời trần ai chiến tranh. Người chồng dù cố cưỡng lại cám dỗ, quay trở về thì người vợ cũng không nhận ra mùi của chồng mình nữa. Chiến tranh không chia lìa được lứa đôi, nhưng thời hiện đại lại ném họ ra khỏi thế giới nội tâm thầm kín của nhau, dù sống chung một nhà. (Mùi chồng - Nguyễn Hiệp).
Tất cả đều có thể xảy ra trong chiến tranh. Đào tẩu khỏi trận chiến ác liệt, đào tẩu vì phản bội đồng đội vẫn sống trơ trơ không dằn vặt, hối lỗi; nhưng người phản bội tình yêu trong chiến tranh lại bị giày vò bởi thấy mình cũng đốn mạt, hèn hạ như phản bội lý tưởng. (Những kẻ đào tẩu – Từ Nguyên Tĩnh). Kẻ phản bội đồng đội trở về làng sống dở người dở ngợm, lúc tỉnh lúc điên, muốn sám hối để sống thanh thản, nhưng con cháu không cho ông tự thú trong khi chúng đang sống yên lành, giàu có trong thăng tiến…, cũng là một bi kịch mới sau chiến tranh. (Kẻ phản bội - Mai Tiến Nghị)…
4. Hiện thực mới ngổn ngang và những được - mất.
Con mắt trong veo, tinh khôi và cảm xúc mới mẻ, run rẩy bao giờ cũng tiếp cận hiện thực mới nhanh hơn cái nhìn mòn nhẵn và cảm xúc chai lì.
Nhà văn trẻ Uông Triều thật tinh tường với tư duy “cái quan định luận”, quan sát đời nhố nhăng, xộc xệch từ điểm nhìn giả định linh hồn, tác giả lần lượt lật từng trang đời tối tăm, láu cá, ranh mãnh, bạc tình của các loại người ra ánh sáng như bóc từng lớp củ hành. (Trong đám tang của mình).
Ngòi bút nữ, nhà văn Di Li, lại khai phá ở một vùng đất mới “Nghĩa địa của người sống”. Đặt vào phép so sánh nghệ thuật: Một bên là vùng đất xây “thành phố” cho người sẽ chết phải có đẳng cấp đại gia, quan chức, nghệ sĩ lớn… cao sang phú quý mới được mộ phần rộng thênh thang. Một bên là người mẹ trẻ nghèo nhặt bóng, xách đồ, lau gậy phục vụ cho lớp người thượng lưu chơi gôn, và đứa con nhỏ bảy tuổi bất hạnh chết yểu chưa có mộ phần. Bằng giọng văn hiện đại, thông minh, khách quan lạnh lùng, tác giả gửi thông điệp: Cái chết xa xỉ cũng là sự bất nhân trên nỗi đau đồng loại.
Mai Dương Dương - dân tộc Dao - lại đắng xót thương cảm thân phận mong manh như cái lá, yếu đuối như ngon rau hoang của người miền núi không có khả năng tự bảo vệ. Cô gái câm quyết liệt bảo vệ con vừa là bản năng, vừa là hành động phản kháng, như một sức sống mãnh liệt nơi hoang dại. (Rau đắng).
Bốn đôi dép người lớn, hai đôi dép trẻ con buộc nơ hồng luôn xáo trộn vị trí là một bí ẩn cuộc đời người “Hàng xóm” và cũng là nỗi thèm hơi ấm của đồng loại. Chu Thùy Anh dịu dàng nữ tính viết về nỗi cô đơn rợn ngợp của người già trong các căn hộ cao tầng bê tông cốt thép lạnh lùng, vô hồn thời văn minh công nghiệp. Bà già hàng xóm khóc lần duy nhất, ấy là khi con chó già mười bốn tuổi chết, mà chưa bao giờ khóc ai, thì nỗi cô đơn trơ trọi được đẩy đến tận cùng.
“12 chiếc bánh flan” là một câu chuyện lạ, một bà mẹ bí ẩn. Hợp đồng làm tròn chức phận “con” người “mẹ” điên thay cho đứa con thật đã chết… là một kết cấu hợp lý để nhân vật khám phá góc khuất một gia đình giàu có thác loạn. Phạm Thanh Thúy phơi bày bi kịch lớp người mới nổi do lừa lọc, chiếm đoạt căn nguyên từ triết lý: Cái gì có được dễ dàng thì cũng sẽ thành rẻ rúng, vô nghĩa.
Bạn bè thật - giả, vàng - thau chỉ khi đặt trong hoàn cảnh thử thách chọn lựa lợi ích được - mất mới hiện nguyên hình. Lê Thanh Kỳ luôn hoài nghi, tỉnh táo với ông “Bạn khách”. Không hề khiên cưỡng, “Bạn khách” là câu chuyện văn chương về tình bạn riêng tư có ký ức, có hiện tại cũng là bài học cảnh giác láng giềng quốc gia hữu sự.
Du An thấm đẫm cái nguyên sơ, tinh khôi không gian miền núi, nhưng lại thấy bề bộn một vùng cao lấm láp, đang nảy sinh nhiều vấn đề mới phức tạp. Tác giả chia sẻ vất vả gian lao và quá trình hòa nhập không mấy dễ dàng của người dưới xuôi lên xây dựng vùng cao. Cái gì níu giữ họ lại nơi “rừng xanh núi đỏ”? Chính là tình người của “Cô Quỳnh”, và “Mùa nương”.
Dường như Năm Sọc là một sáng tạo nhân vật mới của Thu Trân trong “Gia phả mùi rơm rạ”. Điền chủ Năm Sọc vô sinh, nghiệt ngã không để của cải lọt vào tay kẻ khác, gian ác bằng mọi giá hợp pháp hóa đứa con của vợ chính, vợ hờ thành đứa nối dõi của mình trong bí mật, kể cả việc giết người. Đứa con gái hờ bị chính y cưỡng hiếp đã chối bỏ gia đình, chạy trốn hiện tại bẽ bàng, mấy chục năm sau lại quay về mang ý nghĩa nhân bản và làm cho truyện bớt độ căng, dữ dội.
Nguyễn Việt Hòa cười cợt cái sự “tin bạn mất bò”, dở cười dở mếu hậu chuyện đem chồng làm “Phao cứu sinh” giúp bạn gái. Phan Đình Minh ngao ngán thở dài viết “Phần mềm” về sự gian dối trong khoa học công nghệ. Nguyễn Thái Sơn trần tình về niềm tin ngây thơ kỳ công xây dựng biểu tượng vẫn mù quáng trước sự mọt ruỗng khi “Bọ cánh cứng bay đi rồi”. Nguyễn Trúc Viên hoài vọng, tiếc nuối “Ngọn gió mùa thương”. Thở than, nhẫn nhịn trách móc người chồng tha hóa, dễ bị cái lạ lẫm, cao sang cám dỗ, chóng quên cái bình dị, cái quý giá nắm giữ trong tay mà không biết. Nhưng để chọn lựa lại, chắc người vợ vẫn đi con đường xưa cũ. Sự đời là thế!
Cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ đã đi được nửa chặng đường. Tính đa dạng, phong phú, sinh động, tươi xanh và hấp dẫn tạo nên cái nền truyện ngắn dự thi khá rộng và bền vững. Nói một cách hình ảnh ví von: Có cả dãy Trường Sơn truyện ngắn, nhưng đã có đỉnh Phan xi păng chưa? Dường như cái truyện ngắn đỉnh cao vẫn còn đang ở phía trước, đang trong nỗ lực tìm kiếm và sáng tạo!?
Sự kiện
VanVN.Net - Cuộc tiếp các nhà thơ đã diễn ra chiều nay, 5 tháng Hai năm 2012, tại Phủ Chủ tịch. Gần 80 nhà thơ đến từ 27 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng các nhà thơ Việt Nam tham ...
Nhà văn đọc sách
VanVN.Net - “Trần Đình Huỳnh - Những bài chính luận”, tác phẩm lý luận chính trị này là một tập sách có độ dầy 563 trang, khổ 16x24, do Nhà Xuất bản Tri thức vừa ấn hành quý I năm 2012, của ...
Hoạt động Hội Nhà Văn
VanVN.Net – Sáng nay, 19/1/2012 (tức 26 tháng Chạp năm Tân Mão), đại diện Hội Nhà văn Việt Nam – nhà thơ Đỗ Hàn, Chánh văn phòng Hội NVVN đến thăm và chúc tết Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn kết ...
Tư liệu
VanVN.Net - Tác phẩm học thuật quan trọng nhất của Lỗ Tấn, cuốn sách góp phần đặt nền móng cho khoa văn học sử tại Trung Quốc - Trung Quốc tiểu thuyết sử lược (Zhongguo xiaoshuo shilue) đã có bản dịch tiếng ...

Tiêu đề
Viết bình luận của bạn